II. Các kiến nghị về chính sách đối với giáo viên



tải về 0.61 Mb.
trang5/6
Chuyển đổi dữ liệu19.07.2016
Kích0.61 Mb.
1   2   3   4   5   6
Câu hỏi 104: Cử tri các xã biên giới thuộc huyện Hạ Lang tỉnh Cao Bằng có ý kiến Nhà nước cần nghiên cứu và quy định về chính sách cử tuyển vào các trường đại học và cao đẳng, vì hiện nay các xã thuộc diện xã biên giới không được hưởng chính sách cử tuyển như các xã vùng 3 đặc biệt khó khăn. Trong khi đó các xã thuộc diện xã biên giới, ở vùng sâu vùng xa các cháu học sinh tuổi 13-14 đi học phải ở bán trú, nhưng nhà trường không có chỗ ở nội trú, các cháu phải tự túc chỗ ở nên rất tạm bợ, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ xây dựng nhà nội trú cho các trường học vùng sâu, vùng xa tạo điều kiện cho các cháu học tập.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Mặc dù trong Thông tư Liên tịch số 04 về cử tuyển đã mở rộng vùng tuyển tới các thôn, bản vùng 3 nằm trong các xã vùng 2, nhưng trên thực tế vẫn còn một số địa bàn còn nhiều khó khăn chưa được đưa vào danh sách chương trình 135, cho nên chưa được hưởng chế độ cử tuyển. Năm 2002, Chính phủ đã bổ sung thêm các xã thuộc vùng ATK. Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ làm việc với Uỷ ban Dân tộc, nghiên cứu, đề xuất bổ sung các xã biên giới vào vùng cử tuyển.

Chế độ cử tuyển cũng đã được ghi trong Luật Giáo dục. Nếu có vấn đề nào cần điều chỉnh, đề nghị các đại biểu gửi ý kiến về Bộ GD&ĐT, Bộ Nội vụ và Uỷ ban Dân tộc. Bộ GD&ĐT sẽ tổng hợp tất cả các ý kiến đề nghị mở rộng vùng tuyển cũng như mở rộng đối tượng được hưởng chính sách cử tuyển, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan nghiên cứu, trình Quốc hội sửa lại Luật Giáo dục. Trên cơ sở đó ba Bộ sẽ xem xét điều chỉnh lại một số nội dung của Thông tư Liên tịch số 04.

Câu 105 : Cử tri tỉnh Cần Thơ đề nghị nên tăng cường đầu tư hệ thống trường học cho vùng nông thôn sâu vì điều kiện đi lại ở những vùng này rất khó khăn. nên miễn hoàn toàn học phí THPT và các vùng nông thôn thay vì Nhà nước phải đầu tư lại ở các lớp phổ cập (thực tế rất tốn kém mà hiệu quả, chất lượng giáo dục ở các lớp này không được bảo đảm) .

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Việc xây dựng trường học cho vùng nông thôn sâu nhằm tạo thuận lợi cho học sinh vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc có điều kiện đi học, do Ngành giáo dục - đào tạo Tỉnh tham mưu với các cấp chính quyền địa phương xem xét quyết định. Ngành giáo dục đào tạo các tỉnh chịu trách nhiệm chính trong việc xây dựng chiến lược phát triển giáo dục đào tạo của mỗi địa phương. Căn cứ vào qui hoạch phát triển giáo dục để qui hoạch mạng lưới và xây dựng trường lớp, tạo điều kiện cho học sinh có đủ chỗ học.

Thực hiện Quyết định số 70/QĐ-TTg ngày 3/3/1998 của Thủ tướng Chính phủ, Liên Bộ Giáo dục đào tạo và Bộ Tài chính ban hành Thông tư liên tịch số 54/1998/TTLT ngày 31/8/1998; Trong đó chỉ miễn học phí đối với học sinh tiểu học vì đây là bậc học phổ cập. Các bậc học khác vẫn phải nộp học phí, tuy nhiên mức thu học phí hiện nay do Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố tự quyết định cho phù hợp với hoàn cảnh kinh tế của mỗi vùng trong tỉnh;

Học phí là một trong những nguồn thu quan trọng để bổ sung kinh phí đầu tư cho giáo dục đào tạo. Theo Bộ GD-ĐT thì mức thu học phí THCS hiện nay đang là mức thu tối thiểu, và mức thu học phí đối với THPT là mức chấp nhận được, Nhà nước chưa có điều kiện để miễn hoàn toàn học phí cho giáo dục phổ thông do khả năng đáp ứng của ngân sách nhà nước thì có hạn mà nhu cầu học tập của xã hội thì rất lớn.



Câu 106: Cử tri tỉnh Cần Thơ đề nghị cần đầu tư thêm nhiều trường dạy nghề cho các vùng nông thôn sâu để giải quyết tình trạng thiếu việc cho thanh niên nông thôn hiện nay.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Theo thẩm quyền quản lý, vấn đề này do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trả lời.



Câu 107: Cử tri tỉnh Ninh Thuận đề nghị miễn học phí và các khoản đóng góp khác cho con em vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã đặc biệt khó khăn và có chế tài cụ thể để xử lý trách nhiệm của phụ huynh trong việc để con em mình không đến trường, bỏ học không hoàn thành chương trình phổ cập giáo dục bắt buộc.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Nhà nước đã ban hành các chính sách miễn giảm học phí và các khoản đóng góp xây dựng trường cho con em đồng bào các dân tộc thiểu số ở các xã đặc biệt khó khăn. Về chế tài để xử lý trách nhiệm của phụ huynh trong việc để con mình không đến trường, bỏ học cũng đã được thể hiện trong Luật phổ cập Giáo dục Tiểu học.



Câu 108: Cử tri tỉnh Thừa Thiên - Huế cho rằng về chính sách cử tuyển cử tri dân tộc ít người đề nghị TW xem xét là con em dân tộc ít người dù ở miền núi cao hay thấp đều nên cho hưởng chế độ cử tuyển, vì còn nhằm mục tiêu đào tạo nguồn cán bộ dân tộc về lâu dài. Riêng đối với việc quy định độ tuổi vào học do con em dân tộc ít người có những khó khăn riêng nên cho phép vận dụng độ tuổi cao hơn đặc biệt là bậc tiểu học"

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Tại Điều 78 Luật Giáo dục được Quốc hội thông qua ngày 02/12/1998 đã qui định rõ đối tượng và vùng tuyển đối với chế độ cử tuyển. Muốn mở rộng vùng tuyển như cử tri kiến nghị, Bộ Giáo dục và Đào tạo phải đề nghị Quốc hội sửa đổi, bổ sung Luật Giáo dục hiện hành.

Đối với các dân tộc thiểu số còn ít cán bộ, ý kiến của Bộ Giáo dục và Đào tạo như đã nêu trong trả lời câu chất vấn số 62 (ở trên).

Về quy định độ tuổi: từ trước đến nay trong quá trình xem xét chưa có trường hợp nào học sinh bị loại khỏi danh sách cử tuyển vào đại học, cao đẳng do quá độ tuổi quy định.



Câu 109 : Cử tri tỉnh Quảng Nam đề nghị có chính sách mở rộng các trường dân tộc miền núi, bán trú đến các huyện, các cụm xã miền núi.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Từ năm 1991, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã được Chính phủ cho phép thực hiện các Chương trình mục tiêu Giáo dục Đào tạo, trong đó có chương trình riêng cho tăng cường giáo dục miền núi (Chương trình 7). Một trong những nội dung quan trọng của Chương trình này là xây dựng các trường phổ thông dân tộc nội trú, các trường bán trú cụm xã để thu hút học sinh dân tộc, học sinh vùng sâu, vùng xa góp phần XMC, phổ cập giáo dục tiểu học, đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ cho các địa phương. Mặc dù vậy trong những năm qua, các tỉnh mới tập trung đầu tư xây dựng được hệ thống trường dân tộc nội trú tỉnh (cấp 3) và trường dân tộc nội trú huyện (cấp 2), các trường bán trú cụm xã còn rất ít, nhiều địa phương chưa có đủ cơ vật chất trường lớp cho học sinh vùng sâu, vùng xa học tập. Điều này đòi hỏi phải có sự nỗ lực hơn nữa của các cấp, các ngành, thực hiện mạnh mẽ chủ trương xã hội hoá giáo dục của Chính phủ và đặc biệt là sự quan tâm chỉ đạo của các cấp chính quyền địa phương. Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ cố gắng tranh thủ các nguồn viện trợ nước ngoài để triển khai các Dự án phát triển giáo dục miền núi, vùng sâu, vùng xa...Trước mắt năm 2003, Bộ Giáo dục và Đào tạo triển khai Dự án vay vốn Ngân hàng thế giới để thực hiện dự án giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Trong đó, tập trung chủ yếu là đầu tư cơ sở vật chất trường lớp cho học sinh miền núi, vùng sâu, vùng khó khăn.



Câu 110: Cử tri tỉnh Quảng Nam cho rằng tại các trường miền núi chưa nên mở các trường bán công, gây khó khăn cho con em đồng bào nghèo, dẫn đến tình trạng bỏ học.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục, việc mở các trường bán công được khuyến khích ở những nơi có điều kiện kinh tế- xã hội phát triển. Hiện nay, tại các vùng kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn thì hầu hết là trường công. Gần đây Quyết định 161/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phát triển giáo dục mầm non đã thể hiện rất rõ chủ trương phát triển trường công lập ở vùng kinh tế -xã hội đặc biệt khó khăn.



Câu 111: Cử tri Quảng Ninh đề nghị Nhà nước quan tâm cho Quảng Ninh mở trường đại học, vì con em nông thôn và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, đời sống khó khăn thu nhập thấp, khó có điều kiện khả năng để về Hà Nội và các tỉnh khác để theo học.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nhận được ý kiến của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh về việc thành lập trường đại học tại tỉnh. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã hướng dẫn tỉnh xây dựng đề án thành lập trường. Bộ Giáo dục và Đào tạo và đã thấy sự cần thiết thành lập trường này, nên đã trình Thủ tướng Chính phủ bổ sung vào Quy hoạch mạng lưới. Tuy nhiên chỉ khi nào được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ Giáo dục và Đào tạo mới có cơ sở triển khai tiếp.



Câu 112: Cử tri vùng biên giới, miền núi và hải đảo tỉnh Quảng Ninh đề nghị quan tâm hơn về chính sách giáo dục đối với con em vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc ít người vì thực tế trình độ chung ở vùng này còn thấp xa so với vùng đồng bằng và vùng thành thị.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Trong tháng 7/2003, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã rà soát và tập hợp các chế độ chính sách đối với vùng dân tộc, miền núi và cùng phối hợp với Ủ y ban Dân tộc báo cáo các chế độ chính sách hiện hành, cùng với những kiến nghị cần sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay; tháng 9 và tháng 10 năm 2003 Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng các Bộ khác thực hiện chỉ thị của Thủ Tướng chính phủ đi kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ chính sách ở một số tỉnh vùng dân tộc, miền núi.

Ngoài các chế độ chính sách nhằm phát triển giáo dục vùng khó khăn hiện đang thực hiện, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có những kiến nghị với chính phủ những chính sách cần sửa đổi cho phù hợp với tình hình thực tế hiện nay như sau :

1. Chế độ học bổng và chính sách xã hội với học sinh, sinh viên là người dân tộc thiểu số :

Nâng mức học bổng cho học sinh dân tộc nội trú từ 160.000/tháng lên 90% so với mức lương tối thiểu hiện hành.

Nâng mức trợ cấp xã hội áp dụng đối với học sinh, sinh viên ở các xã vùng cao, vùng sâu, vùng có điều kiện kinh tế ? xã hội đặc biệt khó khăn đang học hệ chính quy, dài hạn tập trung tại các trường đào tạo công lập bằng 70% mức lương tối thiểu hiện hành.

Mở rộng hệ cử tuyển cao đẳng và đại học đối với các học sinh người dân tộc thiểu số được học tại các trường dự bị đại học.

Phát triển qui mô, hệ thống các trường phổ thông dân tộc nội trú và bán trú tùy điều kiện và yêu cầu qui hoạch nguồn nhân lực nhằm phát triển kinh tế xã hội của địa phương.

Tiếp tục hỗ các học sinh nghèo, các học sinh đặc biệt khó khăn những học phẩm tối thiểu và sách giáo khoa, xây các ký túc xá cho học sinh được theo học ở các trường xa nhà.

2. Chế độ với giáo viên chủ nhiệm, giáo viên phụ trách ở các trường phổ thông dân tộc bán trú cần được hưởng theo nghị định 35/2001/NĐCP ngày 9/7/2001.

3. Qui định cụ thể về xây nhà công vụ cho giáo viên và ký túc xá cho học sinh ở các địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.

4. Có chế độ khuyến khích đào tạo các chuyên gia về tiếng nói, chữ viết dân tộc thiểu số.



Câu 113: Cử tri tỉnh Hà Giang cho rằng tập trung đầu tư cho sự nghiệp giáo dục - đào tạo; ưu tiên và tăng số lượng cử tuyển cho con em các dân tộc vùng sâu, vùng xa được vào các trường ĐH, CĐ. Xem xét lại việc cải cách sách giáo khoa, đồ dùng giảng dạy và học tập, nhất là ở các lớp đầu cấp tiểu học và trung học cơ sở. Điều chỉnh lại Thông tư liên Bộ Tài chính - Lao động, Thương binh và Xã hội ? Giáo dục và Đào tạo về giải quyết chính sách thu hút đối với giáo viên đến vùng đặc biệt khó khăn cho hợp lý đối với toàn bộ giáo viên đang công tác ở vùng khó khăn này.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Từ năm 2001 Bộ GD&ĐT đã trình Thủ tướng Chính phủ tăng thêm số lượng chỉ tiêu cử tuyển, cụ thể năm 2001 là 930 chỉ tiêu, năm 2002 là 1200 chỉ tiêu và năm 2003 là 1500 chỉ tiêu. Năm 2004 Bộ GD&ĐT đã trình Thủ tướng nâng số chỉ tiêu cử tuyển lên 2000. Việc tăng chỉ tiêu như trên là sự quan tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước đối với phát triển đào tạo nguồn nhân lực cho các vùng đặc biệt khó khăn. Tuy số chỉ tiêu chưa đáp ứng được nhu cầu của các địa phương, nhưng đây là sự cố gắng lớn của Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan, vì mỗi chỉ tiêu đào tạo cử tuyển Nhà nước phải bao cấp hoàn toàn trong suốt 5 năm đào tạo (kể cả 1 năm học dự bị) với mức đầu tư khá lớn so với đào tạo 1 sinh viên đại học bình thường.

Vấn đề điều chỉnh một số chính sách để thu hút giáo viên đến vùng đặc biệt khó khăn, Bộ GD&ĐT sẽ cùng các Bộ, ngành có liên quan nghiên cứu và xem xét. Tuy nhiên sinh viên ngành sư phạm cũng phải thấy trong 4 năm đào tạo, đã được nhà nước ưu tiên miễn học phí, thì khi tốt nghiệp ra trường phải có trách nhiệm nhận sự phân công của tổ chức, sẵn sàng đi đến các vùng khó khăn. Đối với các giáo viên ở miền xuôi đã công tác tại các vùng khó khăn nhiều năm (ít nhất là 5 năm) thì các địa phương ở miền xuôi cũng phải có trách nhiệm tiếp nhận họ trở về sau khi đã phục vụ lâu năm ở miền núi, vùng sâu, vùng xa.

Việc thay SGK, trang cấp đồ dùng dạy học, nhất là ở các lớp đầu cấp tiểu học, trung học cơ sở đang được thực hiện theo tinh thần của Nghị quyết 40/2000 Quốc hội về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông. Dù có một số khó khăn bước đầu song sau một năm thực hiện được đánh giá là đạt được các yêu cầu đề ra.

Ngày 9/7/2001 Chính phủ đã có Nghị định số 35/2001/NĐ-CP về chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục công tác ở trường chuyên biệt, ở trường có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Ngày 28 tháng 3 năm 2002, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ), Bộ Tài chính và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã có Thông tư liên tịch số 11/2002/TTLT-BGD&ĐT-BTCCBCP- BTC- BLĐTB&XH hướng dẫn Nghị định 35/2001/NĐ-CP, trong đo quy định rõ các chế độ lương, phụ cấp thu hút vv... Do điều kiện cân đối ngân sách nên chưa mở rộng diện đối tượng thực hiện.

Câu 114 : Cử tri tỉnh Hà Tĩnh cho rằng cần có chính sách cho con em nghèo, con em nông dân theo học các trường ĐH, CĐ. Một em theo học 5 năm rất tốn kém. Nếu Nhà nước không có chính sách hỗ trợ thì con em nghèo, con em nông dân khó mà theo học được.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Những năm gần đây, nhà nước đã có chính sách hỗ trợ con em nghèo, con em nông dân như: quy định mức thu học phí ở khu vực nông thôn thấp hơn khu vực thành phố; quy định miễn, giảm học phí cho con em nông dân có hoàn cảnh khó khăn; được ưu tiên chỗ ở trong kí túc xá; được vay tiền để trang trải chi phí học tập từ quỹ tín dụng sinh viên; sinh viên nông thôn học giỏi được ưu tiên xét cấp học bổng. Bộ Giáo dục và Đào tạo đang cùng các Bộ, ngành có liên quan nghiên cứu trình Thủ tướng Chính phủ cho phép sửa đổi, bổ sung thêm một số chính sách nhằm hỗ trợ học sinh, sinh viên nông thôn theo học trong các trường đào tạo.



Câu 115: Cử tri tỉnh Bắc Kạn kiến nghị Nhà nước đã quan tâm nhiều đến sự nghiệp giáo dục - đào tạo cho miền núi và tỉnh Bắc Kạn, tuy nhiên chỉ tiêu hàng năm còn quá ít so với nhu cầu. Đề nghị Nhà nước nghiên cứu cho thành lập Trường Đại học dự bị dân tộc cho các tỉnh miền núi, vùng cao phía Bắc trên cơ sở Trường PTTH vùng cao Việt Bắc để các cháu có thời gian học tập thêm trong thời gian học dự bị, đảm bảo chất lượng kiến thức để các cháu có thể thi vào các trường đại học, cao đẳng hàng năm, nhanh chóng tạo nguồn cán bộ cho các xã miền núi, đáp ứng quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, rút ngắn khoảng cách tụt hậu về kinh tế - xã hội giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miền núi.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Hiện nay, tại các tỉnh phía Bắc đã có Trường Dự bị Đại học Dân tộc Trung ương ở Việt Trì, Trường Phổ thông trung học Vùng cao Việt Bắc (Thái Nguyên), ngoài ra Trường Đại học Sư phạm (thuộc Đại học Thái Nguyên) cũng đang làm nhiệm vụ đào tạo dự bị đại học dân tộc. Do vậy chưa cần thiết phải thành lập thêm trường dự bị đại học dân tộc nữa.



Câu 116: Cử tri tỉnh Bắc Ninh đề nghị có chính sách ưu đãi đối với học sinh, sinh viên là con em nông dân. Mức đóng góp các khoản học đường ở các trường ĐH, CĐ hiện nay quá cao so với thu nhập của người nông dân.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Ngoài những chính sách ưu đãi chung đối với học sinh, sinh viên, nhà nước đã ban hành một số chính sách ưu đãi đối với học sinh, sinh viên nông thôn như: quy định mức thu học phí ở khu vực nông thôn thấp hơn khu vực thành phố; quy định miễn, giảm học phí cho con em nông dân có hoàn cảnh khó khăn; được ưu tiên chỗ ở trong kí túc xá; được vay tiền để trang trải chi phí học tập từ quỹ tín dụng sinh viên; sinh viên nông thôn học giỏi được ưu tiên xét cấp học bổng. Đối với các khoản đóng góp trong các trường đại học, cao đẳng công lập hiện nay đều nằm trong khung, mức quy định của Nhà nước. Tuy nhiên, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang cùng các Bộ, ngành có liên quan nghiên cứu trình Thủ tướng Chính phủ cho phép sửa đổi, bổ sung thêm một số chính sách ưu đãi hơn nhằm hỗ trợ học sinh, sinh viên nông thôn.



Câu 117: Cử tri tỉnh Đak Lăk cho rằng Nhà nước có chính sách miễn giảm học phí, đống góp xây dựng trường ở những vùng khó khăn, những nhu cầu xây dựng trường học ở những vùng này hết sức cần thiết. Do đó đề nghị cần có chính sách bù đắp từ NSNN cho thực hiện nhu cầu này.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Xin nêu một số văn bản của Đảng và Nhà nước về chính sách miễn giảm học phí ở những vùng khó khăn, đó là Quyết định số 70/QĐ-TTg ngày 31/3/1998 đã qui định miễn học phí cho học sinh, sinh viên có cha mẹ thường trú tại vùng cao miền núi và vùng sâu, hải đảo. Chỉ thị số 68-CT/TW ngày 18/4/1991 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá VI) về công tác ở vùng đồng bào dân tộc Khơme về miễn học phí cho học sinh, sinh viên người dân tộc Khơme; Quyết định số 135/QĐ-TTg ngày 31/7/1997 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế- xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi và vùng sâu, vùng xa về được cấp sách giáo khoa, văn phòng phẩm và miễn học phí cho các cháu học sinh trong các vùng, các xã đặc biệt khó khăn; Quyết định số 168/2001/QĐ-TTg ngày 30/10/2001 và Quyết định số 173/2001/QĐ-TTg ngày 6/11/2001, Quyết định số 186/2001/QĐ-TTg ngày 7/12/2001 cũng của Thủ tướng Chính phủ về miễn học phí cho học sinh người dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và học sinh, là con các gia đình nghèo, hộ chính sách vùng đồng bằng sông Cửu Long và các xã đặc biệt khó khăn thuộc chương trình 135 ở 6 tỉnh miền núi phía Bắc. Các loại đối tượng chính sách này đã được Bộ GD&ĐT đưa vào dự thảo tờ trình Thủ tướng Chính phủ để bổ sung đối tượng miễn học phí, khi ban hành qui định mới về chế độ học phí.

Riêng về nhu cầu xây dựng cơ sở vật chất trường sở ở các vùng khó khăn thì hàng năm với NSNN đầu tư cho giáo dục, các Bộ GD và ĐT, Bộ KH và ĐT và Bộ Tài chính đều có sự xem xét ưu tiên cho các địa phương, các vùng kinh tế khó khăn. Những nơi này được phân bổ kinh phí cao hơn các địa phương khác (bao gồm cả kinh phí đầu tư XDCB trường lớp và CTMT quốc gia giáo dục đào tạo).

Câu 118: Cử tri Trà Vinh kiến nghị cử tri dân tộc Khmer đề nghị mở trường Đại học Dân tộc nội trú cho học sinh dân tộc tại đồng bằng Sông Cửu Long. Tiếp tục in ấn, phát hành sách giáo khoa Ngữ văn Khmer cấp II và III.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Đề nghị Uỷ ban nhân dân tỉnh Trà Vinh có công văn trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương. Nếu được phê duyệt, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ hướng dẫn tỉnh xây dựng đề án thành lập trường này.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo NXBGD tổ chức biên soạn sách Tiếng Khơmer và các sách tham khảo Tiếng Khơmer ở Tiểu học. Đồng thời Bộ đã chỉ đạo NXBGD tổ chức biên soạn Giáo trình dạy Tiếng Khơmer ở trường Sư phạm đào tạo giáo viên Tiểu học (do nhà giáo nhân dân Lâm Es chủ biên). Còn SGK Ngữ văn Khơmer cấp II và cấp III thì do địa phương tổ chức biên soạn, in ấn và phát hành. Sắp tới Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ có chủ trương chung về vấn đề dạy Tiếng Dân tộc.

V. CÁC KIẾN NGHỊ VỀ DẠY THÊM, HỌC THÊM



Câu 119-127 : Cử tri các tỉnh và thành phố Hải Phòng, Bắc Ninh, Hưng Yên, Bắc Giang, TP Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Ninh Thuận, Lâm Đồng, Khánh Hoà có ý kiến chất vấn của các đoàn đại biểu Quốc hội về dạy thêm, học thêm, có nội dung như sau:

- Đề nghị cần có biện pháp kiểm tra sát sao hơn nữa đối với việc dạy thêm, học thêm trong các cấp học. Thực tế hiện nay việc dạy thêm không giảm, còn tràn lan, tuỳ tiện, không theo quy định, hướng dẫn.

- Đề nghị có biện pháp chấn chỉnh tốt hơn đối với việc dạy thêm, học thêm và cần có biện pháp xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm.

- Hiện nay việc dạy thêm vẫn diễn ra tràn lan, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều biện pháp nhằm khắc phục tình trạng này, nhưng việc dạy thêm vẫn chưa giảm. Cử tri cho rằng có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu vẫn là do thiếu kiểm tra thường xuyên, thiếu kiên quyết trong xử lý của những cơ quan quản lý có trách nhiệm(cho đến nay hầu như các địa phương chưa xử lý được trường hợp nào vi phạm trong việc dạy thêm). Bên cạnh đó ý thức, phẩm chất của một số giáo viên còn chưa cao, cho nên tình trạng dạy thêm vẫn còn diễn ra. Đề nghị Chính phủ cần có quy định cụ thể về kiểm tra và xử lý đối với việc dạy thêm.

- Đề nghị ngành giáo dục quản lý chặt chẽ việc dạy thêm, học thêm. hiện nay học sinh phải học quá nhiều, ít thời gian vui chơi giải trí làm ảnh hưởng đến sức khoẻ học sinh, đời sống gia đình phụ huynh.

- Vấn đề dạy thêm và học thêm hiện nay vẫn còn nhiều trì trệ, phức tạp mặc dù các ngành chức năng đã có nhiều biện pháp khắc phục, chấn chỉnh. Nhà nước cần có những biện pháp kiên quyết, đồng bộ hơn .

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Học thêm là một nhu cầu chính đáng của một bộ phận không nhỏ học sinh và gia đình nhằm mở rộng, nâng cao kiến thức. Tuy nhiên, việc dạy thêm, học thêm tràn lan ở một số địa phương hiện nay đang gây ra những tiêu cực đáng lo ngại, làm giảm lòng tin của nhân dân vào đội ngũ nhà giáo và nhà trường. Ngày 17 tháng 5 năm 2000, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Chỉ thị 15/2000/CT-BGD&ĐT, về các biện pháp cấp bách tăng cường quản lý dạy thêm, học thêm, nhằm mục đích khắc phục biểu hiện tiêu cực trong việc dạy thêm của giáo viên các trường phổ thông công lập theo Quyết định 242/TTg ngày 24 tháng 5 năm 1993 của Thủ tướng Chính phủ, xử lý kịp thời sai phạm, nhất là việc bắt ép học sinh học thêm để thu tiền, người cố tình vi phạm phải được xử lý nghiêm khắc, kể cả buộc thôi việc. Đồng thời quản lý thống nhất các lớp dạy thêm theo nhu cầu của người học do tổ chức hoặc cá nhân mở trong hoặc ngoài trường học và các cơ sở giáo dục khác. Như vậy việc thực hiện Chỉ thị 15 nói trên hiện nay ở nhiều địa phương, dưới sự chỉ đạo của UBND và sự tham mưu tích cực của cơ quan quản lý giáo dục các cấp, việc tổ chức, quản lý dạy thêm, học thêm đã có nhiều cố gắng, hạn chế dần những tiêu cực xảy ra. Tuy vậy vẫn còn một số địa phương, đặc biệt là khu vực các thành phố, thị xã việc tổ chức thực hiện còn nhiều hạn chế, vẫn còn nhiều dư luận không tốt về dạy thêm, học thêm. Đặc biệt, việc dạy thêm tràn lan hiện nay chủ yếu diễn ra ở các trường THCS, THPT dưới hình thức những giáo viên dạy chính khoá lại tổ chức cho học sinh của mình học thêm ở ngoài nhà trường. Thực trạng đó có nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là sự yếu kém trong công tác quản lý của các cấp quản lý giáo dục, việc chỉ đạo thanh tra, kiểm tra chưa thường xuyên, việc chấn chỉnh và xử lý chưa kiên quyết, thiếu đồng bộ, biện pháp còn hạn chế, kém hiệu lực, hiệu quả. Mặt khác còn do một số gia đình phụ huynh có điều kiện kinh tế đã tìm mọi cách cho con em mình được học thêm nhiều thày, nhiều lớp dẫn đến tình trạng học nhiều buổi gây mệt mỏi, không có thời gian tự học ở nhà.

Thực tế cho thấy nhiều học sinh thông qua học thêm đã vươn lên khá giỏi, thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng, như vậy không thể không thừa nhận mặt giá trị tích cực của dạy thêm, học thêm trong việc góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Nhưng thực tế ở một số địa phương, dạy thêm, học thêm trong nhiều trường hợp đã bị lạm dụng bởi động cơ không lành mạnh và không dựa trên các nhu cầu có thực của việc học tập, bắt ép học sinh học thêm để thu tiền. Vì vậy muốn đảm bảo nguyện vọng được học thêm chính đáng của học sinh, Nhà nước, ngành giáo dục phải có được những chủ trương và biện pháp phù hợp với thực tế nhằm tổ chức và quản lý tốt hơn việc dạy thêm, học thêm, để không còn hiện tượng tiêu cực xảy ra.

Tháng 10/2003, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ chỉ đạo các Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức một đợt tổng kiểm tra việc dạy thêm, học thêm tại các địa phương trên phạm vi toàn quốc, nhằm đánh giá thực trạng, phát hiện những trường hợp vi phạm để xử lý nghiêm khắc. Đồng thời yêu cầu UBND và cơ quan quản lý giáo dục các cấp rút kinh nghiệm trong việc chỉ đạo và quản lý việc dạy thêm, học thêm. Trên cơ sở kết quả kiểm tra, Bộ GD&ĐT phối hợp với Công đoàn Giáo dục việt Nam sẽ tổ chức Hội nghị tổng kết 3 năm thực hiện chỉ thị 15 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT. Trong thời gian tới tiếp tục chỉ đạo phối hợp đồng bộ nhiều biện pháp: đổi mới chương trình giáo dục phổ thông và thay sách giáo khoa mới, chuyển dần các trường học có điều kiện sang học 2 buổi/ngày, cải tiến thi cử khắc phục tình trạng học thuộc, học vẹt, học tủ để ứng phó với thi cử, kết hợp với các biện pháp hành chính mạnh mẽ và kiên quyết. Bộ GD&ĐT sẽ báo cáo xin ý kiến Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một chủ trương mới để chỉ đạo kiên quyết và hiệu quả hơn trong hoạt động dạy thêm, học thêm, vừa tăng cường giáo dục đội ngũ giáo viên vừa đề cao trách nhiệm của UBND và cơ quan quản lý giáo dục các cấp, trong khi chờ chủ trương mới, Bộ GD&ĐT yêu cầu các sở GD&ĐT chỉ đạo cho tạm ngừng các lớp dạy thêm ở ngoài nhà trường. Trong quá trình chuẩn bị, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ nghiên cứu kỹ ý kiến đóng góp của các đoàn đại biểu Quốc hội để có giải pháp khả thi, tăng cường hiệu lực quản lý, chấn chỉnh triệt để tình trạng tiêu cực trong dạy thêm, học thêm hiện nay.



Câu 121 : Cử tri tỉnh Khánh Hoà đề nghị Chính phủ có biện pháp hữu hiệu để xây dựng ký túc xá sinh viên ở các trường đại học, cao đẳng và có biện pháp kiểm tra kiểm soát việc dạy thêm, học thêm. Đề nghị bỏ quy định học thêm theo yêu cầu .

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Vấn đề ký túc xá sinh viên các trường đại học và cao đẳng đã được Nhà nước quan tâm từ những năm trước, tuy vậy do ngân sách Nhà nước có hạn phải chi nhiều vấn đề cấp thiết, nên ký túc xá sinh viên của các trường đại học, cao đẳng chỉ mới đáp ứng được 35 ? 40% nhu cầu. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã chủ động phối hợp với các Bộ, Ngành trình Chính phủ đề án "Giải quyết chỗ ở cho sinh viên các trường đại học và cao đẳng". Trong khi chờ Chính phủ phê duyệt dự án Bộ Giáo dục và Đào tạo đã dành tỷ lệ đáng kể từ ngân sách Nhà nước và huy động các nguồn vốn khác để xây dựng thêm nhiều ký túc xá mới cho sinh viên. Sau khi đề án được phê duyệt Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ phối hợp với các Bộ, Ngành có liên quan để triển khai nhanh, giải quyết khó khăn về ký túc xá cho sinh viên các trường đại học và cao đẳng. Về vấn đề dạy thêm, học thêm xin xem trả lời câu 119-127.



Câu 128 : Cử tri tỉnh Kiên Giang cho rằng cần quan tâm đầu tư kinh phí, đồ dùng dạy học cho các bậc học sinh phổ thông.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Từ năm học 2002 ? 2003, chương trình mục tiêu của Nhà nước đã có thêm phần kinh phí phục vụ đổi mới chương trình giáo dục phổ thông. Năm 2002 Nhà nước hỗ trợ 227 tỷ đồng, năm 2003 Nhà nước hỗ trợ 380 tỷ đồng. Tuy nhiên, đây là kinh phí hỗ trợ nên so với nhu cầu vẫn còn thiếu nhiều, nguyên tắc phân bổ là ưu tiên cho các tỉnh có nhiều xã đặc biệt khó khăn, vùng núi phía Bắc, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, duyên hải, vùng Tây nguyên.... Để bảo đảm đủ kinh phí thực hiện thành công việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông các Sở Giáo dục và Đào tạo cần huy động nhiều nguồn vốn; chi thường xuyên (theo thông tư 30/TT-LB của Bộ Giáo dục và Đào tạo ? Bộ Tài chính về dành tỷ lệ từ 6% đến 10% kinh phí chi thường xuyên để mua sách thiết bị...), kinh phí từ chương trình 135, kinh phí từ quỹ học phí, huy động các nguồn hỗ trợ của doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh để xây dựng phòng học thực hiện kiên cố hoá trường lớp hỗ trợ cho việc triển khai thiết bị có hiệu quả.



Câu 130 : Cử tri thành phố Hải phòng đề nghị khắc phục tình trạng phòng học xuống cấp không đảm bảo tiêu chuẩn, qui cách hiện phổ biến ở mọi nơi .

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho các trường học là nhiệm vụ của các cấp, các ngành và của toàn xã hội. Trong thời gian vừa qua được sự quan tâm của các cấp, các ngành và toàn xã hội, ngành giáo dục - đào tạo đã có nhiều cố gắng trong việc huy động và sử dụng các nguồn vốn để xây dựng cơ sở vật chất cho các trường học, số phòng học kiên cố và bán kiến cố được xây dựng ngày càng tăng. Các phòng học xây dựng theo hình thức bán kiến cố chưa có sự thống nhất về tiêu chuẩn, qui phạm và mức vốn đầu tư nên chất lượng công trình không đồng đều, sau thời gian sử dụng từ 5 đến 10 năm đã xuống cấp.

Để khắc phục trình trạng này, trong những năm gần đây Ngành giáo dục - đào tạo đã đề xuất với Chính phủ và các Bộ, Ngành cho thực hiện Chương trình mục tiêu tăng cường cơ sở vật chất các trường học (chủ yếu là để xây dựng thêm phòng học mới và chống xuống cấp các phòng học đã xây dựng từ những năm 1990 trở về trước). Được Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, Ngành chấp thuận, chương trình này được bố trí vốn đầu tư thực hiện từ năm 1992-1993; Chương trình đã đạt được kết quả bước đầu, cơ sở vật chất các trường học tuy còn nhiều khó khăn, nhưng đã được tăng cường, tạo điều kiện nâng dần chất lượng giáo dục.

Ngày 17-02-2003 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 26/2003/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia Giáo dục và Đào tạo đến năm 2005. Chương trình gồm 7 dự án, trong đó có Dự án " Tăng cường cơ sở vật chất các trường học, các trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp, xây dựng một số trường đại học, trung học chuyên nghiệp trọng điểm". Với việc thực hiện mục tiêu của Chương trình này, cùng với việc thực hiện Chương trình kiên cố hóa trường, lớp học và một số dự án ODA, cơ sở vật chất các trường học sẽ được thay đổi đáng kể, các phòng học xây dựng từ lâu đã và đang xuống cấp sẽ được khắc phục.



Câu 131 : Cử tri tỉnh Sơn La kiến nghị đẩy nhanh tiến độ xây dựng Trường Đại học Tây Bắc .

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

1. Vài nét về quá trình thành lập Trường Đại học Tây Bắc

- Ngày 23 tháng 3 năm 2001 Thủ tướng Chính phủ có QĐ số 39/2001/QĐ-TTg thành lập Trường Đại học Tây Bắc trên cơ sở trường Cao đẳng Sư phạm Tây Bắc đóng tại thị trấn Thuận Châu, tỉnh Sơn La.( cách thị xã Sơn La 30km về phía Tây Bắc)

- Sau khi có QĐ thành lập Trường Đại học Tây Bắc, ngày 12 tháng 7 năm 2001, Bộ GD&ĐT đã có công văn số 6931-b/ KHTC giao cho Trường Đại học Tây Bắc phối hợp với Viện Thiết kế Trường học lập Đề án xây dựng trường Đại học Tây Bắc và tiến hành công việc chuẩn bị đầu tư xây dựng, lập Ban quản lý dự án, xin cấp đất...

- Ngày 22/2/2001 UBND tỉnh Sơn La có công văn số 142/UB và ngày 6/7/2001 UBND tỉnh Sơn La có công văn số 1192/UB đồng ý cấp cho trường Đại học Tây Bắc 85 ha tại Bản Dửn, xã Chiềng Ngần, thị xã Sơn La.

- Ngày13 tháng 5 năm 2002 Bộ GD&ĐT đã có tờ số 3988/ KHTC trình Thủ tướng Chính phủ xin phê duyệt báo cáo nghiên cứu tiền khả thi xây dựng trường Đại học Tây Bắc tại Bản Dửn, xã Chiềng Ngần thị xã Sơn La để trình Chính Phủ phê duyệt.

2. Tiến độ xây dựng Trường Đại học Tây Bắc.

- Để đáp ứng nguyện vọng cấp thiết của các con em đồng bào dân tộc vùng Tây Bắc, ngày 27/12/2001, Bộ GD&ĐT đã có QĐ số 7183QĐ/BGD&ĐT-KHTC phê duyệt Dự án xây dựng Cụm công trình Nhà điều hành và nhà học chung các khoa khối sư phạm Trường Đại học Tây Bắc tại Bản Dửn, xã Chiềng Ngần thị xã Sơn La. Tiếp theo Bộ đã chỉ đạo Trường Đại học Tây Bắc hoàn thành các thủ về quản lý và đấu thầu xây dựng và đã tiến hành khởi công Cụm công trình này vào ngày 22/ 6/2002.

- Ngày 9/8/2002 Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng các Bộ liên quan họp thẩm định dự án tiền khả thi xây dựng trường Đại học Tây Bắc. Đoàn kiểm tra thấy việc khởi công Cụm công trình Nhà điều hành và nhà học chung các khoa khối sư phạm là chưa đầy đủ thủ tục, cần phải chờ Thủ tướng Chính phủ phê duyệt dự án tiền khả thi. Vì vậy Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo trường Đại học Tây Bắc tạm dừng thi công ( từ tháng 8/2002).

- Ngày 26/2/2003 Thủ tướng Chính phủ có công văn số 216/CP-KG phê duyệt báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án đầu tư XD trường Đại học Tây Bắc

- Ngày 26/2/2003 Thủ tướng Chính phủ có văn bản số 215/CP-KG cho phép tiếp tục thi công Cụm Nhà điều hành và nhà học chung các khoa khối sư phạm Trường Đại học Tây Bắc.

- Ngay sau khi được Chính phủ cho phép tiếp tục triển khai thi công, Bộ GD&ĐT đã có công văn chỉ đạo trường Đại học Tây Bắc tiếp tục thi công Cụm công trình nhà điều hành và nhà học chung các khoa khối sư phạm và đẩy nhanh tiến độ để hoàn thành công trình.

- Ngày 9/9/2003 công trình này đã nghiệm thu phần móng đến cốt O,O và đến nay chuẩn bị đổ sàn tầng 2.

Theo tiến độ thi công dự tính đến cuối năm 2004 cụm công trình sẽ hoàn thành.

3. Công việc đang tiếp tục triển khai.

- Bộ GD&ĐT tiếp tục chỉ đạo Trường Đại học Tây Bắc đẩy nhanh tiến độ thi công, tiến hành công tác đền bù giải phóng mặt bằng.

- Tiến hành thủ tục phê duyệt dự án khả thi, quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết.

- Dự kiến 2005 sẽ chuy�n một số bộ phận chính của trường xuống địa điểm mới tại thị xã Sơn La.

4. Những thuận lợi và khó khăn:

a) Khó khăn:

Do địa hình miền núi, vận chuyển khó khăn, mùa mưa gây sạt lở đất, nên ảnh hưởng đến tiến độ thi công.

Địa điểm xây dựng công trình hiện nay cách xa địa điểm của trường là 30 km cũng là một khó khăn trong công tác điều hành, xử lý công việc.

b) Thuận lợi:

- Chủ trương xây dựng trường Đại học Tây Bắc được bà con nhân dân và UBND tỉnh Sơn La nhiệt tình ủng hộ tạo điều kiện trong việc tiến hành các thủ tục cấp đất, đền bù giải phóng mặt bằng, tái định cư.



Câu 132: Cử tri tỉnh Sơn La cho rằng đối với các trường phổ thông miền núi, vùng đặc biệt khó khăn tình trạng dạy chay và học chay vẫn còn phổ biến. Đề nghị nhà nước đầu tư trạng bị giảng dạy học tập cho các trường này để đảm bảo chất lượng dạy và học. Cùng với việc đầu tư trang thiết bị cần có đội ngũ cán bộ quản lý sách, thiết bị trường học .

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Đối với các tỉnh miền núi khó khăn, phần kinh phí thực hiện việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã được tính đủ cho nhu cầu thiết bị và bồi dưỡng giáo viên. Chương trình 135 đã hỗ trợ cho học sinh toàn bộ sách giáo khoa và vở viết. Kinh phí hỗ trợ về thiết bị dạy học của Chính phu cũng có được phân phối ưu tiên cho miền núi. Tuy nhiên đội ngũ giáo viên, nhất là cán bộ làm công tác thư viện, nhân viên thí nghiệm thiếu nhiều, vừa phụ thuộc vào biên chế vừa không có nguồn, mặc dù đã có các lớp cử tuyển đào tạo riêng cho con em dân tộc. Các địa phương đang tích cực đào tạo theo địa chỉ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các trường đại học cao đẳng đào tạo cho các địa phương miền núi theo nhu cầu, phù hợp với các quy định hiện hành.



Câu 133 : Cử tri tỉnh Nghệ An đề nghị Bộ GD&ĐT quan tâm đầu tư xây dựng ký túc xá, khu nội trú cho các trường ở cụm xã ở các huyện miền núi, nâng suất học bổng cho học sinh các trường THCS, trường THPT nội trú.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Bộ sẽ đề nghị Sở Giáo dục Đào tạo tỉnh Nghệ An phối hợp với các ngành chức năng của tỉnh xem xét qui mô thực tế của các trường PTDTNT và nhu cầu học tập của học sinh dân tộc, báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh kết hợp nguồn vốn XDCB tập trung được Bộ Kế hoạch Đầu tư giao hàng năm cùng với kinh phí Dự án "" Hỗ trợ giáo dục miền núi, vùng dân tộc ít người và vùng có nhiều khó khăn " trong khuôn khổ Chương trình mục tiêu quốc gia GD-ĐT được cấp hàng năm và các nguồn vốn của địa phương để đầu tư xây dựng ký túc xá, khu nội trú cho các trường ở cụm xã ở các huyện miền núi tạo điều kiện mở rộng khả năng thu nhận học sinh dân tộc có nhu cầu được đi học.

Việc nâng suất học bổng cho học sinh các trường phổ thông dân tộc nội trú hiện nay là cấp bách. Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lập Tờ trình và dự thảo Quyết định trình Thủ tướng Chính phủ xem xét phê duyệt sớm.

Câu 134 : Cử tri tỉnh Yên Bái đề nghị Nhà nước có chính sách hỗ trợ các xã, phường, thị trấn về kinh phí để thực hiện tách từ trường PTCS thành trường tiểu học và Trung học cơ sở. Thực tế hiện nay ở các tỉnh miền núi, các xã phường, thị trấn chưa bao giờ nhận được khoản đầu tư nào của Nhà nước cho xây dựng cơ sở trường học.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Việc tách trường PTCS thành trường tiểu học và Trung học cơ sở đã được các địa phương tiến hành trong nhiều năm qua, kinh phí xây dựng trường sở được Bộ Kế hoạch và Đầu tư giao trong khuôn khổ kế hoạch XDCB tập trung hàng năm, ngoài ra Kinh phí chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo cũng được phân bổ cho các địa phương (trong đó có tỉnh Yên Bái) hàng năm. Việc quyết định đầu tư xây dựng trường học để tách trường PTCS do Sở Giáo dục Đào tạo Yên Bái, cùng Sở KHĐT tham mưu cho Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định.



Câu 135 : Cử tri các tỉnh Bạc Liêu, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Nam Định đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo cần chấn chỉnh, khác phục nhanh tình trạng thiếu sách giáo khoa, đồ dùng dạy học, các phòng thí nghiệm trong dạy học và học theo chương trình cải cách hiện nay. Đề nghị tăng ngân sách đầu tư đồng bộ trang thiết bị cho trường học, quản lý chặt chẽ các cơ sở sản xuất đồ dùng dạy học .

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Nhìn chung số lượng sách giáo khoa hiện nay không thiếu, đặc biệt là sách cho học sinh. Riêng sách giáo viên thì một số địa phương nhận được chậm. Rút kinh nghiệm năm học 2002 ? 2003, năm học 2003 ? 2004 thiết bị dạy học về cơ bản đã cung cấp tương đối kịp thời. Thiết bị chứng minh dùng cho giáo viên hầu như có đủ từ đầu năm, riêng thiết bị thực hành cho học sinh, một số đơn vị cung ứng chậm. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các địa phương thúc đẩy các công ty sản xuất, cung ứng ngay, không nhất thiết phải chờ đồng bộ. Các thiết bị được sử dụng ngay từ đầu năm học phải được cung cấp kịp thời. Việc quản lý các đơn vị sản xuất được kiểm soát trong 2 khâu:

Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức duyệt mẫu thiết bị; Các đơn vị sản xuất kinh doanh thiết bị dạy học phải được duyệt mẫu thiết bị mới được phép cung ứng cho các trường học. Mẫu thiết bị đã được phê duyệt được lưu ở Bộ để kiểm tra chất lượng khi công ty cung ứng cho các trường học

Chất lượng thiết bị của các công ty khi cung ứng cho các trường học được ràng buộc trong hợp đồng kinh tế bằng cách kiểm tra mẫu khi chào hàng và đối chiếu với mẫu đặt ở Sở Giáo dục và Đào tạo khi nghiệm thu.

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo các Sở GD&ĐT xây dựng các PTN bộ môn để triển khai tốt thiết bị dạy học, bắt đầu từ các thành phố lớn và các địa phương có điều kiện sau đó nhân rộng dần.

Câu 137 : Cử tri các tỉnh Gia Lai, Quảng Nam cho rằng Bộ đổi mới sách giáo khoa lớp 1 và lớp 6 nhưng đội ngũ giáo viên và cơ sở vật chất trường lớp còn bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu dạy học chương trình mới. Đến nay đã gần kết thúc năm học nhưng công ty thiết bị trường học Trung ương không cung cấp đầy đủ ĐDDH lớp 1 và lớp 6 theo hợp đồng đã ký kết với địa phương và số đồ dùng dạy học đã nhận còn kém chất lượng, làm ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học .

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Năm 2002 mặc dù kinh phí Bộ Tài chính thông báo muộn, nhưng đến tháng 10 kinh phí hỗ trợ đã được cấp về tỉnh. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã có hướng dẫn cụ thể về mua sắm thiết bị, đã gửi Danh mục thiết bị dạy học lớp 1, lớp 6 và Quyết định phê duyệt mẫu của các đơn vị tham gia duyệt mẫu để các Sở Giáo dục và Đào có thông tin mua sắm thiết bị. đúng là có cung cấp thiết bị dạy học chậm cho các trường học và có một số kém chất lượng, thậm chí Công ty cung ứng thiết bị không cung cấp đủ thiết bị như cử tri nêu. Năm 2003 bằng các văn bản và thông tư hướng dẫn Bộ Giáo dục và Đào tạo đã giao trách nhiệm cho các Giám đốc Sở trong công tác đầu tư mua sắm thiết bị, kể cả chất lượng, số lượng và tiến độ cung ứng.



Câu 139 : Cử tri huyện Quảng Uyên tỉnh Cao Bằng phản ánh.... Hiện nay nhà trường đã được cấp trang thiết bị phục vụ công tác giảng dạy, nhưng vì một số nới chưa có điện lưới nên không dùng được. Đề nghị cần nghiên cứu có chính sách hỗ trợ như cấp nguồn năng lượng để phục vụ giảng dạy ở những nơi còn nhiều khó khăn chưa có điện như các vùng núi.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Mẫu thiết bị thực hành của lớp 6, lớp 7 khi được phê duyệt đều cố gắng sử dụng cơ học và dùng pin, vì vậy việc thực hành của học sinh sẽ không bị ảnh hưởng nhiều vào lưới điện. Một số thiết bị dùng cho giáo viên để hướng dẫn và mở rộng bài học như băng hình, băng tiếng, đàn Organ bị phụ thuộc vào lưới điện quốc gia, thì một số địa phương đã khắc phục được một phần như dùng pin, ắc quy để sử dụng máy ghi âm, đàn Organ.



Câu 140, 142, 147 : Cử tri các tỉnh Thái Nguyên, Cà Mau, Ninh Bình, thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến các phương tiện thông tin đại chúng đăng tải nhiều về việc đồ dùng dạy học phục vụ cho chương trình cải cách sách giáo khoa không đảm bảo yêu cầu, chất lượng kém, đề nghị Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo trả lời cụ thể vấn đề này và có biện pháp xử lý nghiêm đơn vị, cá nhân để xảy ra sai sót.

Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các cơ quan chức năng cung cấp thiết bị dạy học kịp thời và đảm bảo chất lượng. Việc cung cấp ĐDDH các môn vật lý và hoá học không đảm bảo chất lượng. Ví dụ: nhiệt kế đo độ sôi của nước không chỉ ở vạch 100 độ C, kim áp kế kim loại không quay, lực kế đo xong lò xo không co lại, đệm nhảy tiêu chuẩn dày 40 cm nhưng chỉ dày 10 cm.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Trước hết phải nói đến trách nhiệm của đơn vị sản xuất và đơn vị mua hàng là các Công ty Sách ? Thiết bị trường học, các Sở Giáo dục và Đào tạo địa phương, khi kiểm tra nghiệm thu thiết bị của đơn vị cung ứng Công ty và Sở Giáo dục và Đào tạo đã không thực hiện tốt các quy định nghiệm thu hàng hoá, mặc dù tại Quyết định phê duyệt mẫu thiết bị Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ghi chú cụ thể đối với một số hạng mục đòi hỏi phải đồng bộ và có sự chính xác cao như hạng mục nhiệt kế dầu 0 ? 100oC của môn Vật lý đã ghi rõ " Đối với hạng mục này, khi mua cần kiểm tra độ chính xác của tất cả số lượng để bảo đảm khi đo tất cả đều cho kết quả như nhau " . Một số môn thuộc chuyên ngành khác như đệm thể dục đã có hướng dẫn áp dụng tiêu chuẩn của Uỷ ban Thể dục thể thao khi mua sắm. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có cuộc họp kiểm điểm đơn vị sản xuất thuộc Bộ và các doanh nghiệp sản xuất thiết bị trường học để rút kinh nghiệm và làm văn bản chỉ đạo các Sở Giáo dục và Đào tạo tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình nghiệm thu thiết bị.



Câu 141: Cử tri tỉnh Bắc Kạn cho rằng Huyện Chợ Mới là huyện nghèo của tỉnh Bắc Kạn. Do điều kiện sống của dân cư không tập trung nên việc học tập của các em gặp nhiều trở ngại, nhà ở xa trường học, đường giao thông đi lại rất khó khăn, nhất là mùa mưa lũ. Đề nghị Nhà nước quan tâm xây dựng trường nội trú, tạo điều kiện cho các em ở xa trường có cơ hội học tập.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Việc xây dựng trường nội trú tạo điều kiện cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn, nhà ở xa trường, đường giao thông không thuận tiện...là việc làm hết sức cần thiết. Đề nghị UBND huyện Chợ Mới làm việc với Sở Giáo dục Đào tạo Bắc Cạn để được hướng dẫn về thủ tục, trình UBND tỉnh để được quan tâm đầu tư kinh phí xây dựng trường phù hợp với qui mô học sinh và qui hoạch mạng lưới trường lớp học của Huyện nhà.



Câu 143 : Cử tri tỉnh Nam Định đề nghị Nhà nước điều chỉnh lại giá sách giáo khoa và đồ dùng thiết bị dạy học; chất lượng nhiều đồ dùng dạy học quá kém.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Giá thiết bị được tính trên cơ sở danh mục thiết bị dạy học tối thiểu, đảm bảo các yêu cầu về nội dung, chất lượng và các yêu cầu đặc thù về sư phạm. Ban Vật giá chính phủ chủ trì phê duyệt giá thiết bị của các đơn vị sản xuất trên cơ sở hàng mẫu và bản khai của các đơn vị. Năm học 2003 ? 2004 để bảo đảm chất lượng thiết bị dạy học, các công ty sản xuất, cung ứng thiết bị phải lưu 01 bộ mẫu ở Bộ Giáo dục và Đào tạo, 01 bộ ở Sở Giáo dục và Đào tạo. Các đơn vị chức năng của Sở căn cứ vào hàng mẫu để nghiệm thu hợp đồng. Việc điều chỉnh giá của sách giáo khoa và thiết bị phải căn cứ trên các tính toán cụ thể, đối với sách giáo khoa, giá sách được tính trên cơ sở số trang, màu in, nội dung phức tạp của sách. Đối với thiết bị, giá được tính trên cơ sở nhân công, vật liệu và công nghệ chế tạo..., tuỳ từng đơn vị, giá thiết bị có khác nhau, vì vậy việc cạnh tranh trong đấu thầu là để chọn thiết bị đạt chất lượng và có giá cả hợp lý.



Câu 144 : Cử tri tỉnh Phú Yên đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo nghiên cứu đầu tư, khắc phục để chương trình cải cách sách giáo khoa có tính khả thi hơn.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Để thực hiện Nghị quyết 40/2000/QH10 của Quốc hội khoá X và Chỉ thị 14/2001/TTg ngày 11/6/2001 của Chính phủ về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành thực hiện các công việc có liên quan và chỉ đạo các địa phương, các đơn vị trực thuộc bảo đảm các điều kiện phát triển kèm theo để triển khai tốt chương trình và sách giáo khoa mới. Trước khi áp dụng đại trà, sách giáo khoa đã được thí điểm 2 năm với sự góp ý của nhiều giới xã hội và đông đảo đội ngũ các thầy cô giáo đứng lớp. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉnh lý lại sách giáo khoa theo sự đóng góp hợp lý của các nhà giáo dục và chuyên gia và sẽ khắc phục những khuyết điểm trong những bộ sách giáo khoa tiếp theo trong quá trình sử dụng tiếp tục tổ chức tốt việc bồi dưỡng giáo viên, đặc biệt thuyết minh với Chính phủ để tăng cường cơ sở vật chất.



Câu 145: Cử tri tỉnh Đồng Nai cho rằng đồ dùng dạy học không có chỗ chứa, do đó đề nghị mỗi khối lớp cần có 3 phòng chức năng. Hiện nay thiết bị thực hành là khó khăn nhất của ngành giáo dục.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Trong hoàn cảnh cơ sở vật chất của các trường rất hạn hẹp, nhiều trường không có cả kho để chứa thiết bị nên việc triển khai thiết bị gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên chương trình kiên cố hoá trường học đang thực hiện sẽ giúp tháo gỡ được vấn đề này. Về cơ bản các địa phương cần huy động thêm các nguồn vốn khác để hỗ trợ cho việc kiên cố hoá phòng học nhằm bảo quản tốt và phát huy hiệu quả thiết bị trong giảng dạy và học tập.



Câu 146, 150: Cử tri các tỉnh Đăk Lăk, Thanh Hoá đề nghị Nhà nước đầu tư xây dựng để xoá phòng học làm bằng tranh, tre, nứa, lá, để ổn định việc học tập của con em.

Đề nghị Nhà nước tăng cường đầu tư kinh phí để xây dựng cơ sở vật chất trường học, xoá các phòng học tranh, tre, nứa, lá.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Hai kiến nghị của cử tri 2 tỉnh Đắk Lắk và Thanh Hóa có nội dung như nhau, xin được trả lời như sau:

Trong nhiều năm qua, được sự quan tâm của các cấp, các ngành cùng với sự nỗ lực của ngành giáo dục - đào tạo trong việc xây dựng cơ sở vật chất các trường học; Do vậy cơ sở vật chất các trường học hiện nay tuy còn nhiều khó khăn nhưng đã được tăng cường một bước, số phòng học xây dựng kiên cố và bán kiến cố ngày càng nhiều; Nhưng số phòng học tạm thời tranh, tre, nứa, lá vẫn còn tới hơn 67.500 phòng, chiếm tỷ lệ khoảng 15% tổng số phòng học hiện có.

Để khắc phục tình trạng này, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xây dựng Đề án thực hiện Chương trình cố hóa trường, lớp học, trình Thủ tướng Chính phủ, với 5 mục tiêu: xoá phòng học 3 ca, thanh toán phòng học tạm thời tranh tre nứa lá, cải tạo các phòng học xuống cấp, xây dựng thêm phòng học mới để đáp ứng yêu cầu học 2 buổi/ngày ở bậc tiểu học và đáp ứng yêu cầu phát triển về qui mô giáo dục.

Đề án được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại quyết định số 159/2002/QĐ-TTg ngày 15-11-2002, trước mắt thực hiện 2 mục tiêu: xoá phòng học 3 ca trong năm 2003, thanh toán phòng học tạm thời tranh tre nứa lá vào năm 2005. Để thực hiện 2 mục tiêu trên, trong 3 năm (2003-2005) cần xây dựng khoảng 67.500 phòng học mới. Các phòng học được xây dựng kiên cố theo thiết kế mẫu của Bộ xây dựng và Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.

Đề án được thực hiện bằng các nguồn vốn sau: một là Ngân sách TW hỗ trợ các địa phương, hai là Ngân sách hàng năm của các địa phương, ba là đóng góp tự nguyện của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các tổ chức quốc tế, các nhà hảo tâm trong và ngoài nước. Nguồn vốn Ngân sách TW được huy động từ việc phát hành công trái giáo dục năm 2003, với tổng số tiền là 2.500 tỷ đồng. Số vốn này được phân bổ hỗ trợ cho các địa phương còn phòng học 3 ca, phòng học tạm thời, tranh, tre, nứa lá để thực hiện 2 mục tiêu ghi trong quyết định số 159/2002/QĐ-TTg ngày 15-11-2002 của Thủ tướng Chính phủ. Với việc thực hiện Chương trình này, đến năm 2005 sẽ thanh toán được số phòng học tạm thời tranh, tre, nứa, lá mà các địa phương đã báo cáo tại thời điểm tháng 8-2002.



Câu 149: Đại biểu TP.Hồ Chí Minh kiến nghị Chính phủ xem xét cấp kinh phí đầy đủ về đầu tư trang thiết bị cho các phòng thí nghiệm thuộc Đại học Quốc gia TP. HCM. Quan tâm đầu tư dành cho Trường Đại học KHXH & NV của Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh các nhiệm vụ nghiên cứu cũng như các chương trình khoa học xã hội do Hội đồng Lý luận TW quản lý tham gia giải quyết những vấn đề nhân văn Nam bộ.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Trả lời kiến nghị này của cử tri không thuộc thẩm quyền quản lý của Bộ Giáo dục và Đào tạo mà thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính trả lời.

VI. CÁC KIẾN NGHỊ VỀ CẢI CÁCH GIÁO DỤC

Câu 152: Cử tri tỉnh Lào Cai cho rằng việc Bộ Giáo dục và Đào tạo cải tiến quy trình tuyển sinh vào các cấp học, bậc học, trong đó có việc dự kiến lấy thời gian học THPT của học sinh làm căn cứ để tính điểm ưu tiên là bất hợp lý, gây nên phản ứng lo lắng của phụ huynh, giáo viên và học sinh vùng cao, vùng sâu. Đề nghị cần tiến hành đi nghiên cứu thực tế, xem xét kỹ lưỡng trước khi ban hành văn bản này (đề nghị giữ nguyên quy định xét điểm ưu tiên theo hộ khẩu thường trú của học sinh như hiện nay)".

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Cho đến thời điểm hiện nay, Bộ GD&ĐT chưa quy định lấy thời gian học THPT làm căn cứ để tính ưu tiên khu vực. Các trường vẫn thực hiện chính sách ưu tiên theo khu vực như quy chế quy định.



Câu 154 : Cử tri tỉnh Sơn La đề nghị Nhà nước nghiên cứu ban hành chính sách quy định cụ thể về mô hình lớp bán trú để cho giáo viên yên tâm giảng dạy.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Hình thức học bán trú được thực hiện từ năm 1996 đã khẳng định là một mô hình tốt giúp cho học sinh có nhiều thời gian học tập và giảm bớt thời gian đi lại, đặc biệt ở các vùng xa xôi hẻo lánh, vùng núi... Bộ Giáo dục và Đào tạo luôn động viên, khuyến khích phát triển hình thức học tập này ở các địa phương. Hiện nay ở nhiều nơi đã tổ chức tốt các lớp học bán trú dân nuôi và hoạt động có hiệu quả với sự đóng góp của cộng đồng dân cư.

Tuy nhiên, theo phân cấp quản lý hiện nay việc tổ chức các loại hình học tập này là do địa phương hoàn toàn tự quyết định về mọi chi phí, quy mô và định hướng phát triển căn cứ vào nhu cầu, mức sống của dân và khả năng của địa phương. Về loại hình này đến nay chưa thể có một quy định cụ thể vì nó hoàn toàn tuỳ thuộc vào tình hình phát triển kinh tế xã hội của từng tỉnh, từng địa phương có nhiều mức chi, mức hỗ trợ, mức đóng góp khác nhau.

Trong thời gian tới Bộ sẽ tổ chức đánh giá kết quả hoạt động của loại hình này và có những định hướng, tiến đến xây dựng các định mức cần thiết phù hợp cho từng vùng địa lý trên toàn quốc để đi dần vào thống nhất và ổn định.



Câu 156, 158. Cử tri các tỉnh Hà Tây, Yên Bái cho rằng việc triển khai thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa lớp 1 và 6 chưa đồng bộ, trang thiết bị phục vụ cho dạy và học còn chậm, chất lượng kém và chưa đáp ứng yêu cầu của các trường.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Năm học 2002-2003, năm học đầu tiên thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về đổi mới chương trình, sách giáo khoa lớp 1 và 6, việc triển khai trang thiết bị phục vụ cho dạy và học của Bộ Giáo dục và Đào tạo còn gặp một số khó khăn và hạn chế như ý kiến đã nêu. Tại các Hội nghị sơ kết một năm thay sách ở lớp 1 trên toàn quốc (tổ chức tại 4 khu vực vào tháng 7/2003) và Hội nghị giao ban với các Giám đốc sở, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiếp thu ý kiến đóng góp của nhiều địa phương, nghiêm túc rút kinh nghiệm để khắc phục và triển khai chỉ đạo thực hiện thay sách ở lớp 2, lớp 7 được tốt hơn.

Để tạo điều kiện phục vụ tốt cho việc thay sách ở lớp 2, lớp 7 năm học 2003-2004, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có những biện pháp tổ chức và chỉ đạo kịp thời, đẩy nhanh tiến độ hơn năm học trước, cụ thể:

- Toàn bộ sách giáo khoa lớp 2, lớp 7 do Nhà xuất bản Giáo dục in ấn và gửi về địa phương từ đầu tháng 5/2003, tạo điều kiện thuận lợi cho việc nghiên cứu, tập huấn và chỉ đạo bồi dưỡng toàn bộ giáo viên dạy sách giáo khoa mới.

- Danh mục Thiết bị dạy học lớp 2, lớp 7 (mới) và lớp 1, lớp 6 (bổ sung) đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành từ tháng 3/2003 (Quyết định số 12/2003/QĐ-BGDĐT và Quyết định số 13/2003/QĐ-BGDĐT ngày 24/3/2003). Căn cứ vào đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức thẩm định duyệt mẫu thiết bị dạy học của các đơn vị sản xuất kinh doanh thiết bị, trước khi sản xuất và cung ứng cho các trường học.

- Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Thông tư số 25/2003/TT-BGDĐT ngày 09/6/2003 hướng dẫn thực hiện mua sắm thiết bị dạy học phục vụ việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông.

Sau khi nhận được phê duyệt giá của Bộ Tài chính, các địa phương chịu trách nhiệm tổ chức đấu thầu các mặt hàng về thiết bị dạy học do các đơn vị sản xuất kinh doanh. Trong năm học 2003-2004, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ tiếp tục chỉ đạo việc cung ứng và sử dụng trang thiết bị dạy học nhằm thực hiện yêu cầu đổi mới nội dung và phương pháp dạy học ở lớp 1,2; lớp 6, 7, chuẩn bị tốt hơn cho việc thay sách những năm học tiếp sau.

Câu 157 : C ử tri tỉnh Hà Tây cho rằng chương trình ở lớp 2, lớp 7 còn chắp vá...

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

- Việc xây dựng chương trình cho một lớp, một cấp, một bậc học không hề đơn giản hoá theo một cách làm chủ quan của một hay một nhóm người mà phải do một tập thể đông đảo các hà khoa học, nhà tư nhân được thực hiện theo những định hướng chung, đảm bảo tính chỉnh thể, liên tục, liên thông giữa mọi cấp, bậc học. Sau đó được Hội đồng Quốc gia thẩm định cả trước và sau khi đưa ra thí điểm và cuối cùng được rút kinh nghiệm, chỉnh sửa mới đưa ra triển khai đại trà. Vì vậy không thể nói chương trình lớp 2, lớp 7 là chắp vá.

- Việc triển khai đại trà chương trình, sách giáo khoa lớp 2, lớp 7 mới chỉ bắt đầu từ năm học 2003 - 2004. Mọi sự đánh giá lúc này là còn quá sớm, cần có thời gian thực tế từ người dạy, người học và kiểm nghiệm của toàn xã hội sau một thời gian nhất định.

- Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chỉ đạo hướng dẫn thực hiện chương trình đối với các vùng, miền trong cả nước. Tuỳ theo yêu cầu chương trình từng môn học cụ thể mà có hướng dẫn riêng, để đảm bảo nguyên tắc phù hợp với điều kiện dạy - học ở mỗi vùng, miền khác nhau.



Câu 158: Cử tri tỉnh Yên Bái hỏi về kế hoạch phổ cập giáo dục THCS.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Bộ Giáo dục & Đào tạo đã có công văn số 3667/THPT ngày 11/5/2001, về kế hoạch triển khai Nghị quyết của của Quốc hội về thực hiện phổ cập GD THCS. Trong công văn này Bộ Giáo dục & Đào tạo đã nêu lên mục đích, nhiệm vụ và giải pháp chính, việc tổ chức thực hiện PCGD THCS. Bộ Giáo dục & Đào tạo cũng đã dự kiến danh sách các tỉnh đạt chuẩn giai đoạn 2001-2005 trên cơ sở đăng kí của các địa phương, nêu lên tiến độ và các mốc thời gian đến năm 2010.

Đến nay, đã công nhận được 15 tỉnh đạt chuẩn là :

Hà Nội, Đà Nẵng, Hải Phòng, Hà Tây, Nam Định, Hải Dương, Tuyên Quang, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Bắc Ninh, Tp. Hồ Chí Minh, Vĩnh Phúc, Hoà Bình, Ninh Bình.

Danh sách các tỉnh đăng kí đến năm 2005 và 2010 có sự điều chỉnh so với những dự kiến ban đầu do các ban chỉ đạo địa phương quyết định. (phụ lục kèm theo).

Về tài chính, Công tác PCGD THCS đã được đưa vào chương trình mục tiêu, được cấp kinh phí trực tiếp cho mỗi tỉnh từ năm 2002.



Câu 159: Cử tri TP Hồ Chí Minh cho rằng vấn đề nhức nhối là việc cải cách giáo dục thay đổi liên tục gây lãng phí cho ngân sách và xáo trộn xã hội, nội dung chương trình học còn nặng và thường xuyên thay đổi, gây quá tải đối với học sinh, đặc biệt là cấp I.

Bộ Giáo dục và Đào tạo xin trả lời như sau:

Chương trình Cải cách giáo dục ở cấp I được triển khai từ năm 1981. Qua 21 năm thực hiện, sách giáo khoa tiểu học dùng chính thức trên toàn quốc về cơ bản là ổn định; chỉ tiến hành thay cuốn sách giáo khoa Tiếng Việt 1 vào năm 1989 và chỉnh lí nội dung của một số cuốn sách vào năm 1994. Cho đến khi thực hiện Nghị quyết số 40/2000/QH10 của Quốc hội khoá X và Chỉ thị 14/2001/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về Đổi mới Giáo dục phổ thông, chương trình và sách giáo khoa ở bậc Tiểu học (cấp I trước đây) mới thật sự thay đổi nhằm đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ chính trị của đất nước trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Để thực hiện tốt chức năng quản lí nhà nước, được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức biên soạn, thử nghiệm sách giáo khoa ở tiểu học (từ lớp 1 đến lớp 5) một cách khoa học, thận trọng nhằm bảo đảm tính kế thừa những thành tựu của sách cũ, tránh quá tải, đồng thời đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới và tăng cường khả năng hội nhập với các nước trong khu vực. Trước khi triển khai thực hiện trên toàn quốc, các cuốn sách giáo khoa đều được Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức xin ý kiến rộng rãi và tiến hành thẩm định một cách công phu, nghiêm túc.

Sau một năm thực hiện việc thay sách ở lớp 1, hầu hết ý kiến của giáo viên và phụ huynh học sinh đều cho rằng: sách giáo khoa lớp 1 được in ấn đẹp, cơ bản là phù hợp với trình độ học sinh, đáp ứng được yêu cầu đổi mới cả về nội dung phương pháp dạy học ; học sinh được tích cực, chủ động nâng cao kiến thức - kĩ năng và được giáo dục toàn diện. Số liệu khảo sát về chất lượng học tập cuối năm học 2002-2003 của học sinh lớp 1 toàn quốc về môn Toán và môn Tiếng Việt cho thấy như sau:



Tổng số HS

lớp 1

Loại Giỏi (%)

Loại Khá (%)

Loại TB (%)

Loại Yếu (%)

Toán T.Việt

Toán T.Việt

Toán T.Việt

Toán T.Việt

1.638.115

46,67 40,32

26,89 30,28

21,93 24,38

4,51 5,02



1   2   3   4   5   6


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương