I. Kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế tháng 7 và 7 tháng năm 2015: Sản xuất công nghiệp



tải về 125.24 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu30.08.2016
Kích125.24 Kb.


TÀI LIỆU PHỤC VỤ SINH HOẠT CHI BỘ

THÁNG 8 NĂM 2015
A- THÔNG TIN THÀNH PHỐ

I. Kết quả thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế tháng 7 và 7 tháng năm 2015:

1. Sản xuất công nghiệp:

- Sản xuất công nghiệp duy trì tốc độ phát triển, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) trong tháng tăng 8,62% so với tháng trước; giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện 10.219,7 tỷ đồng, tăng 9,3%. Lũy kế trong 7 tháng năm 2015, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 6,95% so cùng kỳ; giá trị sản xuất công nghiệp ước thực hiện 55.794,7 tỷ đồng, đạt 54,1% KH, tăng 8,9% so cùng kỳ.

- Chỉ số tiêu thụ 6 tháng tăng 0,68% so với cùng kỳ, trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao như: sản xuất trang phục tăng 27,2%; đồ uống tăng 16,2%; các sản phẩm từ cao su và plastic tăng 16,1%; cưa xẻ, bào gỗ tăng 15,7%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 11,7%,…

2. Thương mại - dịch vụ:

a. Giá cả - Thương mại - xuất nhập khẩu:

- Giá cả: chỉ số giá tiêu dùng tháng 7/2015 tăng nhẹ 0,03% so với tháng trước, tăng 0,63% so tháng 12 năm trước và bình quân tăng 0,64% so cùng kỳ.

- Tình hình thị trường hàng hóa, cung ứng dịch vụ trên địa bàn ổn định, đáp ứng nhu cầu của người dân; tổng mức bán ra hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước tháng 7/2015 thực hiện 13.654,5 tỷ đồng; tổng mức bán lẻ hàng hóa, doanh thu dịch vụ đạt 7.024,5 tỷ đồng.

- Xuất khẩu: Trong tháng, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ thu ngoại tệ ước thực hiện 113,7 triệu USD, tăng 2,2% so tháng trước. Lũy kế trong 7 tháng năm 2015, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ thu ngoại tệ ước thực hiện 701,3 triệu USD, đạt 48,4% KH, giảm 3,1% so cùng kỳ.

- Nhập khẩu: Kim ngạch nhập khẩu tháng 7/2015 ước thực hiện 22,1 triệu USD, tăng 1,2% so tháng trước; ước trong 7 tháng đầu năm thực hiện 205,7 triệu USD, đạt 49% KH, tăng 4,2% so với cùng kỳ; trong đó các mặt hàng tăng nhiều nhất là xăng dầu, vải và phụ liệu hàng may mặc, phụ liệu thuốc lá.

b. Giao thông vận tải: Mở thử nghiệm đường bay Cần Thơ - Bangkok với tần suất 05 ngày/chuyến và chuyến bay đầu tiên khởi hành vào ngày 21/7/2015. Trong tháng, ước thực hiện vận chuyển hàng hóa 788,2 ngàn tấn, tăng 4,5% so tháng trước (luân chuyển 160,1 triệu tấn.Km, tăng 5,1%), vận chuyển hành khách ước thực hiện 1.046,5 ngàn lượt hành khách, tăng 1,1% (luân chuyển 14,3 triệu lượt HK.Km, giảm 5,2%).

c. Du lịch: Ước tháng 7/2015, các doanh nghiệp du lịch đón và phục vụ 150.000 lượt khách lưu trú (trong đó có 15.000 lượt khách quốc tế); về hoạt động lữ hành quốc tế: đón 1.800 khách nước ngoài đến Cần Thơ; đưa 1.900 khách đi du lịch nước ngoài; về hoạt động lữ hành nội địa đón phục vụ 10.000 lượt khách; doanh thu ước đạt 165,5 tỷ đồng.

3. Sản xuất nông nghiệp:

- Sản xuất lúa: Lúa Hè Thu đã xuống giống 78.581 ha, đạt 98,3% KH, giảm 3,1% so cùng kỳ; tính đến ngày 16/7/2015, đã thu hoạch 72.718 ha, năng suất ước đạt 5,88 tấn/ha (tăng 0,22 tấn/ha so cùng kỳ), sản lượng thu hoạch 428.091 tấn, đạt 91,4% KH. Lúa Thu Đông xuống giống 67.317 ha, vượt 25,5% KH, tăng 12,4% so cùng kỳ; hiện nay, lúa đang ở giai đoạn mạ, đẻ nhánh đến làm đòng, tuy nhiên do ảnh hưởng mưa liên tục nhiều ngày lúa Thu Đông mới gieo sạ bị chết giống ở một số diện tích ruộng trũng khó thoát nước.

- Về chăn nuôi: Trong tháng, tình hình chăn nuôi ổn định so tháng trước, không phát sinh bệnh lở mồm long móng gia súc, bệnh tai xanh ở heo và cúm gia cầm. Ngành nông nghiệp theo dõi quản lý chặt chẽ tình hình chăn nuôi; kiểm tra, giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh; kiểm soát giết mổ gia súc gia cầm và kiểm dịch vệ sinh thú y tại các siêu thị, chợ, điểm kinh doanh.

- Về nuôi trồng thủy sản: Tính đến ngày 09/7/2015, diện tích nuôi thủy sản được 5.453 ha, đạt 42% KH, bằng 83% so cùng kỳ; đã thu hoạch 1.565 ha với tổng sản lượng nuôi thủy sản đã thu hoạch 70.940 tấn, đạt 38,3% KH, tăng 10,4 so cùng kỳ; trong đó sản lượng cá tra 60.554 tấn, đạt 40,4% KH, tăng 17,7%. Ngành chú trọng phát triển các mô hình nuôi theo tiêu chuẩn an toàn vệ sinh thực phẩm, đến nay đã mở rộng diện tích nuôi cá tra theo tiêu chuẩn 46,7 ha.



4. Huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển:

a. Đầu tư xây dựng cơ bản: Trong tháng 7/2015, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước thực hiện 275,1 tỷ đồng, nâng tổng số trong 7 tháng/2015 thực hiện 1.392,7 tỷ đồng. Tiến độ giải ngân vốn ngân sách nhà nước địa phương quản lý năm 2015 theo kế hoạch (tính đến ngày 24/7/2015): đã thực hiện thanh toán và tạm ứng vốn được 1.696,4 tỷ đồng, đạt 52,6% KH (1.696,4/3.226,6 tỷ đồng).

b. Đăng ký kinh doanh và quản lý doanh nghiệp: Lũy kế trong 7 tháng, cấp mới đăng ký kinh doanh cho 557 doanh nghiệp các loại hình với tổng vốn đăng ký 1.805,2 tỷ đồng; cấp thay đổi đăng ký kinh doanh cho 824 lượt doanh nghiệp, trong đó có 98 doanh nghiệp đăng ký tăng vốn với số vốn tăng 1.623,1 tỷ đồng, 03 doanh nghiệp giảm vốn 15,4 tỷ đồng; thực hiện giải thể 59 doanh nghiệp các loại hình với tổng vốn 390,2 tỷ đồng.

c. Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI): Tính đến tháng 7/2015, thành phố có 65 dự án đầu tư nước ngoài với tổng vốn đăng ký 952,5 triệu USD, vốn thực hiện 305,8 triệu USD (trong đó vốn thực hiện 7 tháng/2015 là 22,9 triệu USD), chiếm 32,1% tổng vốn đăng ký; ngoài ra còn có 134 chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại thành phố Cần Thơ. Trong 7 tháng đầu năm 2015, doanh thu của các doanh nghiệp ước đạt 238 triệu USD, trong đó: xuất khẩu 133 triệu USD, tiêu thụ nội địa 105 triệu USD.

- Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) ước tháng 7/2015 thực hiện giải ngân 122 tỷ đồng; lũy kế trong 7 tháng, ước giải ngân 268,2 tỷ đồng (bao gồm: vốn ODA 203 tỷ đồng, vốn đối ứng 65,2 tỷ đồng).



5. Tài chính - ngân hàng:

a. Thu chi ngân sách: tính từ ngày 01/01/2015 đến ngày 20/7/2015: Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn thực hiện 9.361,5 tỷ đồng, đạt 89,1% dự toán HĐND TP giao, tăng 50,9% so cùng kỳ. Tổng thu ngân sách nhà nước theo chỉ tiêu giao thực hiện 4.834,5 tỷ đồng, đạt 58,1% dự toán TW và HĐND thành phố giao, tăng 15,9%. Thu xổ số kiến thiết 600 tỷ đồng, đạt 76,9% dự toán HĐND giao, tăng 13,4%. Tổng chi ngân sách địa phương thực hiện 5.044,6 tỷ đồng, đạt 72,9% dự toán TW giao và đạt 56,2% dự toán HĐND thành phố giao, tăng 31,8%.

b. Hoạt động ngân hàng: Ước đến cuối tháng 7/2015, tổng vốn huy động từ các tổ chức kinh tế và cá nhân trên địa bàn ước đạt 44.800 tỷ đồng, tăng 1,1% so với tháng trước, tăng 5,7% so với đầu năm; trong đó vốn huy động trên 12 tháng chiếm 26,1%; nguồn vốn huy động đáp ứng 83,1% tổng dư nợ cho vay. Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế ước đạt 53.900 tỷ đồng, tăng 1,1% so với tháng trước và tăng 8% so với đầu năm; trong đó dư nợ ngắn hạn chiếm 67,3% dư nợ trung - dài hạn chiếm 32,7%. Nợ xấu 4.300 tỷ đồng, chiếm 7,98% tổng dư nợ.

6. Công tác quản lý xây dựng, đất đai, bảo vệ môi trường:

a. Công tác quản lý xây dựng: Tăng cường công tác quản lý quy hoạch; chấp thuận 03 chủ trương quy hoạch (lũy kế từ đầu năm 2015 đến nay là: 26 chủ trương). Tiếp tục thực hiện các thủ tục về công tác lập Quy hoạch phân khu đô thị tỷ lệ 1/5000 các quận. Thành lập Hội đồng đánh giá, xếp hạng phương án thiết kế kiến trúc - quy hoạch Khu Hành chính tập trung thành phố Cần Thơ. Công tác quản lý hạ tầng kỹ thuật được đẩy mạnh. Công tác quản lý xây dựng, kiểm tra, kiểm soát chất lượng công trình xây dựng được tăng cường. Tiếp tục thực hiện các chương trình về nhà ở. Nâng cao chất lượng hoạt động của thị trường bất động sản, tập trung thực hiện Nghị quyết của Chính phủ tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản, theo dõi tiến độ các dự án vay hỗ trợ từ gói 30.000 tỷ đồng, hiện có 01 dự án được triển khai.

b. Công tác quản lý đất đai, bảo vệ môi trường: Đẩy mạnh kiểm tra tiến độ kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất của các quận, huyện, đến nay đạt tỷ lệ khoảng 60%. Tiếp tục kiểm tra, đôn đốc chủ dự án khu dân cư, khu tái định cư hoàn thành cơ sở hạ tầng để bàn giao 5-10% quỹ đất; thường xuyên rà soát, kiểm tra quỹ đất công, công tác giao đất, hợp đồng cho thuê đất, thuê mặt nước trên địa bàn thành phố. Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng các công trình trọng điểm. Thành lập Ban Chỉ đạo Đề án Văn phòng Đăng ký đất đai một cấp, Trung tâm Phát triển quỹ đất một cấp. Tổ chức thanh tra tài nguyên nước đối với 08 đơn vị và lĩnh vực bảo vệ môi trường đối với 09 đơn vị.

II. Kết quả thực hiện công tác văn hóa - xã hội :

1. Giáo dục - Đào tạo: Tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên các cấp học, bậc học. Tổ chức tuyển sinh lớp 10, kỳ thi trung học phổ thông quốc gia diễn ra nghiêm túc, đúng quy chế. Đảm bảo thực hiện phân luồng sau trung học cơ sở; huy động tối đa trẻ trong độ tuổi vào các lớp mầm non, mẫu giáo. Chuẩn bị các điều kiện hoạt động của các trường trong năm học 2015-2016. Khởi công mới công trình: Trung học phổ thông Phan Văn Trị và Trung học phổ thông Thốt Nốt.

2. Khoa học công nghệ: Trong tháng, tiếp tục thực hiện quản lý đề tài nghiên cứu khoa học. Hướng dẫn, thực hiện thủ tục xác lập và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ cho 18 nhãn hiệu, 02 kiểu dáng công nghiệp và 01 sáng chế. Hoạt động thử nghiệm, kiểm định và hiệu chuẩn ổn định; số phương tiện đo được kiểm định là 1.100 cái, đã hiệu chuẩn 554 phương tiện; thử nghiệm 1.284 mẫu với 5.188 chỉ tiêu về các lĩnh vực: môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm và chất lượng xăng dầu....

3. Lao động - Thương binh và Xã hội: Lũy kế 7 tháng đầu năm đã giải quyết việc làm cho 37.587 lao động (trong đó có 53 lao động đi làm việc ở nước ngoài), đạt 75,2% KH; ban hành quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 3.484 người; tuyển mới và đào tạo nghề cho 23.269 lao động, đạt 58,2% KH. Đã khai giảng 80 lớp dạy nghề cho lao động nông thôn với 2.800 người, đạt 65,7% KH lớp đã phân bổ; đến nay đã bế giảng 25 lớp với 875 người. Thực hiện chăm lo gia đình chính sách, người có công cách mạng; mạng lưới an sinh xã hội được chú trọng.

4. Y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng: Trong tháng, tình hình dịch bệnh ổn định, không xảy ra vụ dịch nguy hiểm, các bệnh truyền nhiễm không có cas tử vong. Giám sát và hỗ trợ chiến dịch truyền thông dự phòng lây truyền HIV từ mẹ sang con; hỗ trợ kỹ thuật chương trình điều trị cai nghiện ma túy bằng Methadone tại 03 cơ sở điều trị; phát hiện mới 80 cas nhiễm HIV, chuyển sang AIDS 78 ca, tử vong 26 ca; lũy kế toàn thành phố đã phát hiện có 5.524 ca nhiễm HIV, trong đó tử vong 2.106 ca. Ngành y tế tổ chức tập huấn, điều trị, chăm sóc và biện pháp phòng hộ chống lây nhiễm, phòng dịch Cúm MERS-CoV; tuyên truyền ngày bảo hiểm y tế Việt Nam, Ngày dân số thế giới,..

5. Hoạt động Văn hóa - Thể dục thể thao: Đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và xây dựng nếp sống văn hóa - văn minh đô thị. Hoạt động bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc ngày càng được quan tâm, đã sưu tầm 80 ảnh tư liệu, triển lãm; sưu tầm và xác minh được 50 hiện vật. Tổ chức phục vụ khách tham quan tại Bảo tàng, Di tích lịch sử khám lớn Cần Thơ, các khu di tích trên địa bàn, triển lãm lưu động và cộng tác tuyên truyền di sản văn hóa trong học đường, thu hút tổng cộng 55.977 lượt khách.

Các đội tuyển tham dự các giải thể thao trong và ngoài nước với 15 huấn luyện viên, 131 vận động viên; kết quả đạt 23 HCV; 18 HCB; 37 HCĐ. Tổ chức giải Bóng bàn toàn quốc Báo Nhân dân lần thứ 33,…



III. Hoạt động đối ngoại; quốc phòng, an ninh, trật tự xã hội:

1. Hoạt động đối ngoại: Trong tháng, có 23 đoàn với 109 lượt khách quốc tế đến tham quan, khảo sát và làm việc tại thành phố Cần Thơ; cho phép 14 đoàn với 18 lượt cán bộ, công chức, viên chức đi công tác và tham quan du lịch tại các nước và vùng lãnh thổ. Tiếp tục duy trì hoạt động hợp tác quốc tế, thông tin và văn hóa đối ngoại với các nước1.

2. Quốc phòng, an ninh, trật tự xã hội: Các lực lượng quân sự phối hợp tốt với lực lượng công an tuần tra, canh gác, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn. Thẩm định, phê chuẩn kế hoạch chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu, kế hoạch cơ động lực lượng trong chuyển trạng thái sẵn sàng chiến đấu cho các đơn vị. Tổ chức khám sức khỏe cho thanh niên sẵn sàng nhập ngũ đợt 2/2015. Tổ chức thực hiện công tác tập huấn, huấn luyện và giáo dục quốc phòng, an ninh cho các đối tượng đúng theo kế hoạch.

Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về trật tự an toàn giao thông và công tác tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm về trật tự an toàn giao thông được đẩy mạnh. Trong tháng 7, tai nạn giao thông xảy ra 06 vụ (tăng 01 vụ), làm chết 06 người (tương đương so cùng kỳ), làm bị thương 03 người (tăng 01 người); lũy kế 7 tháng đầu năm, xảy ra 43 vụ, tăng 01 vụ so cùng kỳ; làm chết 46 người, tăng 01 người; bị thương 17 người, giảm 08 người so với cùng kỳ.


B- TIN TRONG NƯỚC

  1. MỘT SỐ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI 6 THÁNG ĐẦU NĂM 2015



- Về kinh tế: Tổng sản phẩm trong nước (GDP) ước tính tăng 6,28% so với cùng kỳ năm 2014.

Cả nước có 4.406 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, với tổng vốn đăng ký là 282,4 nghìn tỷ đồng, tăng 21,7% về số doanh nghiệp và tăng 22,3% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2014. Số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, chấm dứt hoạt động sản xuất, kinh doanh là 4.708 doanh nghiệp, giảm 0,9% so với cùng kỳ năm 2014. Số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động là 27.051 doanh nghiệp, giảm 5,8% so với cùng kỳ năm 2014.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 1.572,1 nghìn tỷ đồng, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm 2014.

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành ước tính đạt 553,8 nghìn tỷ đồng, tăng 9,4% so với cùng kỳ năm 2014 và bằng 31,1% GDP.

Tính đến thời điểm 15/6/2015, tổng thu ngân sách nhà nước ước tính đạt 406,2 nghìn tỷ đồng, bằng 44,6% dự toán năm; tổng chi ngân sách nhà nước ước tính đạt 501,2 nghìn tỷ đồng, bằng 43,7% dự toán năm.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 77,7 tỷ USD, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2014, thấp hơn mức tăng 15,4% của 6 tháng đầu năm 2014. Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 81,5 tỷ USD, tăng 17,7% so với cùng kỳ năm 2014.

Chỉ số giá tiêu dùng bình quân tăng 0,86% so với bình quân cùng kỳ năm 2014.

- Một số vấn đề xã hội: Cả nước có 183,5 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 32,3% so với cùng kỳ năm 2014, tương ứng với 756,2 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 34,4%. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 16,4 nghìn tấn lương thực và 8,5 tỷ đồng. Tổng kinh phí dành cho hoạt động an sinh xã hội và giảm nghèo trong 6 tháng đầu năm là 3.268 tỷ đồng. Hơn 5,9 triệu bảo hiểm y tế đã được cấp phát miễn phí cho các đối tượng chính sách trên địa bàn cả nước.

Bên cạnh những kết quả đạt được, kinh tế - xã hội nước ta 6 tháng đầu năm vẫn còn gặp một số khó khăn, thách thức: Thời tiết diễn biến phức tạp, nhất là khô hạn kéo dài ở các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và tình trạng xâm nhập mặn đã ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Thị trường xuất khẩu bị thu hẹp đã tác động trực tiếp tới tăng trưởng khu vực nông nghiệp, nhất là sản xuất lương thực và nuôi trồng thủy sản. Xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp trong nước giảm so với cùng kỳ, nhập siêu tăng. Khách quốc tế đến Việt Nam giảm. Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký mới giảm mạnh. Tình trạng buôn lậu, sản xuất và buôn bán hàng giả, hàng hóa kém chất lượng còn diễn ra phức tạp, ảnh hưởng đến môi trường sản xuất, kinh doanh lành mạnh và quyền lợi của người tiêu dùng. Đời sống của một bộ phận nhân dân ở các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng bị thiên tai còn nhiều khó khăn. Kết quả giảm nghèo ở một số địa phương chưa thực sự bền vững. Việc triển khai các nhiệm vụ tái cơ cấu kinh tế còn chậm, nhất là tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước. Công tác chỉ đạo, điều hành còn hạn chế, làm ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả, điều hành từ Trung ương đến cơ sở.

Để hoàn thành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2015 đã đề ra, Chính phủ yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương tập trung triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ, giải pháp của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, trong đó chú trọng các trọng tâm sau: Tiếp tục điều hành chính sách lãi suất, tỷ giá theo hướng ổn định; thúc đẩy tăng trưởng tín dụng gắn với bảo đảm cơ cấu tín dụng phù hợp; thu hút đầu tư toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế thực hiện đầu tư; đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư của tất cả các dự án từ mọi nguồn vốn; tích cực triển khai đồng bộ Đề án tái cơ cấu nông nghiệp, Chương trình xây dựng nông thôn mới; khắc phục hậu quả, hạn chế thiệt hại do hạn hán, thiếu nước, chỉ đạo sản xuất vụ Hè Thu, vụ Mùa năm 2015 hợp lý; tích cực tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản gắn với thực hiện chiến lược về nhà ở, đặc biệt là đối với nhà ở xã hội; đôn đốc tiến độ các dự án trọng điểm về giao thông; tiếp tục thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chính sách an sinh và phúc lợi xã hội, nắm tình hình đời sống nhân dân vùng bị ảnh hưởng bởi thiên tai để thực hiện hỗ trợ kịp thời; tăng cường công tác kiểm soát dịch bệnh nguy hiểm, giám sát chặt chẽ các nguy cơ xâm nhập và lây lan, chủ động phương án phòng chống dịch; chủ động phát hiện, đấu tranh ngăn chặn kịp thời hoạt động của các thế lực thù địch, đối tượng phản động, chống phá; thực hiện quyết liệt công tác đấu tranh, trấn áp tội phạm, đặc biệt là tội phạm có tổ chức, tội phạm ma túy; tuyên truyền, vận động đoàn viên, hội viên cùng các tầng lớp Nhân dân đoàn kết, chung sức, đồng lòng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.



2. NÂNG CAO HIỆU QUẢ PHÒNG CHÁY, CHỮA CHÁY VÀ CỨU NẠN, CỨU HỘ

Chỉ thị số 47-CT/TW ngày 25/6/2015 của Ban Bí thư Trung ương về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng cháy, chữa cháy khẳng định, những năm qua, công tác phòng cháy, chữa cháy đã được cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể nhân dân các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện và đạt được những kết quả tích cực. Tuy nhiên, tình hình cháy, nổ, sự cố, tai nạn vẫn diễn biến phức tạp, làm nhiều người chết, bị thương và gây thiệt hại lớn về tài sản, ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, môi trường đầu tư và an sinh xã hội.

Để nâng cao hiệu quả phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Ban Bí thư yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:

(1) Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. Các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân từ Trung ương đến cơ sở phải xác định công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên hằng ngày; việc chấp hành các quy định của pháp luật về phòng cháy, chữa cháy là một tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của tổ chức cơ sở đảng, cơ quan, đơn vị, đoàn thể, hội viên, cán bộ, đảng viên, công nhân, viên chức và người lao động. Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm nếu để xảy ra cháy, nổ gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản trong phạm vi lãnh đạo, quản lý của mình.

(2) Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kiến thức, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. Vận động cán bộ, đảng viên, công nhân, viên chức và người lao động thấy rõ trách nhiệm, tự giác chấp hành pháp luật về phòng cháy, chữa cháy; tích cực tham gia công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.

(3) Công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ phải lấy phòng ngừa là chính; huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân vào việc thực hiện nhiệm vụ phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; coi công tác phòng cháy, chữa cháy là công việc hằng ngày ở mọi nơi, mọi lúc. Có chế độ, chính sách thỏa đáng đối với những người bị thương, hy sinh hoặc thiệt hại về tài sản khi tham gia chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ; kịp thời động viên, khen thưởng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc.

(4) Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy. Xây dựng chiến lược phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. Kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao năng lực thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về phòng cháy, chữa cháy ở các cấp. Phát huy trách nhiệm của lực lượng Công an nhân dân trong việc hướng dẫn các bộ, ban, ngành, địa phương thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. Tăng cường thanh tra, kiểm tra công tác phòng cháy, chữa cháy, nhất là đối với các chung cư, nhà cao tầng, trung tâm thương mại, chợ, rừng; khắc phục dứt điểm vi phạm, sơ hở về bảo đảm an toàn phòng cháy, chữa cháy. Xử lý nghiêm tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về phòng cháy, chữa cháy.

(5) Đẩy mạnh xã hội hóa công tác phòng cháy, chữa cháy. Có chính sách khuyến khích các tổ chức, cá nhân tích cực tham gia xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng, kỹ thuật về phòng cháy, chữa cháy; nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, sản xuất phương tiện, thiết bị phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; mua sắm phương tiện phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ.

(6) Triển khai đồng bộ các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn, hạn chế các vụ cháy, nổ lớn, nhất là ở các nơi có nguy cơ cháy, nổ cao; tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng. Mọi hoạt động phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ trước hết phải thực hiện và giải quyết bằng lực lượng, phương tiện tại chỗ. Đồng thời, sẵn sàng lực lượng, phương tiện, phương án và các điều kiện để ứng phó kịp thời khi có cháy, nổ, sự cố, tai nạn, hạn chế đến mức thấp nhất hậu quả về người và tài sản.

(7) Nâng cao hiệu quả công tác cứu nạn, cứu hộ của lực lượng phòng cháy, chữa cháy. Thường xuyên tổ chức tập huấn, diễn tập, thực tập các phương án, tình huống xử lý sự cố cháy, nổ và cứu nạn, cứu hộ có huy động nhiều lực lượng tham gia. Xây dựng cơ chế phối hợp giữa các lực lượng, nhất là phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa Công an nhân dân với Quân đội nhân dân trong triển khai thực hiện nhiệm vụ cứu nạn, cứu hộ.

(8) Xây dựng lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy chính quy, chuyên nghiệp, từng bước hiện đại, nắm vững pháp luật, tinh thông nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; bố trí phù hợp ở các địa bàn trọng điểm. Chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy; có chính sách đối với lực lượng trực tiếp tham gia chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ. Ưu tiên đầu tư ngân sách để xây dựng cơ sở vật chất, trang bị phương tiện và các điều kiện bảo đảm phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; nghiên cứu, ứng dụng khoa học - công nghệ phục vụ việc sản xuất, lắp ráp trang thiết bị, phương tiện phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ ở trong nước.

3. NHỮNG ĐIỂM MỚI VỀ CHẾ ĐỘ HƯU TRÍ TRONG LUẬT BẢO BẢO HIỂM XÃ HỘI (SỬA ĐỔI)

(Tiếp theo Thông báo nội bộ số 7/2015)

5. Về BHXH một lần:

(a) Sửa đổi quy định điều kiện hưởng BHXH một lần để hạn chế tối đa việc hưởng BHXH một lần nhằm đảm bảo an sinh xã hội lâu dài, cụ thể: Chỉ giải quyết BHXH một lần đối với người lao động khi đã hết tuổi lao động mà không đủ điều kiện hưởng lương hưu hoặc ra nước ngoài để định cư hợp pháp; bổ sung quy định giải quyết BHXH một lần đối với người mắc bệnh hiểm nghèo. Riêng đối với lực lượng vũ trang thực hiện như quy định hiện hành, được giải quyết ngay khi phục viên, xuất ngũ, nếu không đủ điều kiện để hưởng lương hưu và người lao động có nhu cầu;

(b) Tăng mức trợ cấp BHXH một lần từ 1,5 tháng lên 02 tháng mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH mỗi năm đóng BHXH từ năm 2014 trở đi (tương ứng mức đóng BHXH là 22% cho quỹ hưu trí, tử tuất).

6. Về điều chỉnh tiền lương đã đóng BHXH: Sửa đổi với người tham gia BHXH từ trước ngày luật này có hiệu lực thi hành thì việc điều chỉnh tiền lương đã đóng BHXH vẫn thực hiện như quy định hiện hành. Đối với người bắt đầu tham gia BHXH từ ngày luật này có hiệu lực thi hành thì tiền lương đã đóng BHXH được điều chỉnh trên cơ sở chỉ số giá sinh hoạt của từng thời kỳ áp dụng cho mọi người lao động, không phân biệt khu vực nhà nước hay ngoài nhà nước.

7. Về tạm dừng hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hàng tháng: Bỏ quy định người đang chấp hành hình phạt tù giam bị tạm dừng hưởng lương hưu; bổ sung trường hợp hưởng không đúng quy định; bổ sung quy định về việc tiếp tục thực hiện khi người xuất cảnh trở về định cư hợp pháp; đồng thời quy định việc truy lĩnh lương hưu, trợ cấp trong trường hợp người bị Tòa án tuyên bố là mất tích đối với người mất tích trở về.

8. Bổ sung quy định về giải quyết trợ cấp một lần đối với người đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng ra nước ngoài để định cư.
C- TIN THẾ GIỚI

1. CÁC KẾT QUẢ CHÍNH CHUYẾN THĂM CHÍNH THỨC HOA KỲ CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG VÀ ĐOÀN ĐẠI BIỂU CẤP CAO VIỆT NAM

Nhận lời mới của Chính quyền Tổng thống Mỹ Ba-rắc Ô-ba-ma, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã thăm chính thức Hợp chúng quốc Hoa Kỳ từ ngày 06-10/7/2015. Chuyến thăm đã thành công tốt đẹp, đạt được tất cả các mục tiêu đề ra ở mức cao; là chuyến thăm có ý nghĩa lịch sử, vì lần đầu tiên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam thăm chính thức Hoa Kỳ; vượt lên trên khuôn khổ thông thường và mang ý nghĩa quốc tế, tạo một dấu mốc quan trọng trong quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ; góp phần tạo môi trường thuận lợi để phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc, nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam. Chương trình hoạt động của đồng chí Tổng Bí thư và Đoàn đại biểu cấp cao nước ta phong phú, toàn diện, thiết thực, để lại ấn tượng tốt đẹp, rất tích cực trong cán bộ, đảng viên và nhân dân ta. Chuyến thăm thu hút sự quan tâm sâu sắc, đánh giá cao của chính giới, báo chí, các tầng lớp xã hội và cộng đồng kiều bào ta tại Hoa Kỳ, góp phần củng cố, tăng cường tình hữu nghị, thúc đẩy quan hệ hợp tác đối tác toàn diện Việt Nam - Hoa Kỳ.



- Chuyến thăm thể hiện sự tôn trọng, hiểu biết lẫn nhau, xây dựng sự tin cậy giữa lãnh đạo cấp cao hai bên; xác định tầm nhìn chung có tính chiến lược và tạo xung lực mới thúc đẩy quan hệ hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ cho những năm tới. Việc Hoa Kỳ mời Tổng Bí thư ta thăm chính thức, đón tiếp trọng thị với những nghi thức lễ tân vượt quy định thông thường và nhất trí đưa Tuyên bố chung thành Tuyên bố về tầm nhìn chung Việt Nam - Hoa Kỳ thể hiện sự coi trọng của lãnh đạo Hoa Kỳ trong quan hệ với Việt Nam, tôn trọng thể chế chính trị của ta, công nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và cá nhân Tổng Bí thư ta. Nhận thức của chính giới và dư luận Hoa Kỳ về Lãnh đạo ta, về Đảng Cộng sản Việt Nam và về Việt Nam có những chuyển biến tích cực, thuận lợi cho quan hệ hợp tác giữa Hoa Kỳ và Việt Nam. Đó là kết quả, nỗ lực của Lãnh đạo, Nhân dân hai nước với tinh thần khép lại quá khứ, vượt qua khác biệt, phát huy tương đồng, hướng tới tương lai. Đối với các vấn đề còn khác biệt, hai bên đã trao đổi thẳng thắn, cởi mở, chân thành trên tinh thần hiểu biết, tôn trọng lẫn nhau, nhất trí tiếp tục duy trì đối thoại xây dựng, không để trở thành trở ngại cho sự phát triển quan hệ song phương. Một sự kiện đáng chú ý là tại Lễ kỷ niệm 50 năm Hoa Kỳ can thiệp quân sự vào Việt Nam do Quốc hội Hoa Kỳ tổ chức chiều ngày 08/7 (có lịch từ đầu năm) đã có nhiều ý kiến phát biểu cho rằng, chiến tranh của Hoa Kỳ tại Việt Nam là “một sai lầm lớn”, đánh giá tích cực về quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ 20 năm qua, hoan nghênh chuyến thăm Hoa Kỳ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

- Chuyến thăm đạt được nhiều nội dung thiết thực, tạo điều kiện đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hợp tác cùng có lợi giữa hai nước trên nhiều lĩnh vực. Trong thời gian chuyến thăm, ngoài “Tuyên bố về tầm nhìn chung quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ”, các cơ quan, bộ, ngành hai nước đã ký kết nhiều thỏa thuận hợp tác, cụ thể hóa chủ trương hợp tác toàn diện giữa hai nước.

- Trao đổi, chia sẻ quan điểm, nhận thức về các vấn đề quốc tế và khu vực, trong đó có vấn đề Biển Đông; tăng cường hợp tác, đóng góp tích cực cho hòa bình, an ninh, ổn định, hợp tác và phát triển khu vực châu Á - Thái Bình Dương và thế giới. Hoa Kỳ bày tỏ quan điểm ủng hộ việc giải quyết tranh chấp thông qua các biện pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, không sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực, không đơn phương thay đổi nguyên trạng, quân sự hóa hoặc áp đặt kiểm soát trên biển, trên không ở Biển Đông. Chúng ta hoan nghênh các nước, trong đó có Hoa Kỳ, đóng vai trò tích cực và có trách nhiệm trong việc duy trì hòa bình, an ninh, ổn định, an toàn, tự do hàng hải và hàng không, thúc đẩy hợp tác phát triển ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Các lãnh đạo Chính quyền và Quốc hội Hoa Kỳ bày tỏ quan ngại và bức xúc về các hoạt động xâm phạm an ninh mạng, tôn tạo quy mô lớn các đảo và bãi đá trên Biển Đông; bày tỏ sự quan tâm đặc biệt đến tình hình Biển Đông.

- Chuyến thăm đã góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam. Sự coi trọng, đón tiếp trọng thị của lãnh đạo Hoa Kỳ, của Liên Hợp quốc đối với Tổng Bí thư và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam, kết quả các cuộc hội đàm và nội dung Tuyên bố về Tầm nhìn chung quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đã thu hút sự quan tâm và nhận được sự đánh giá tích cực của dư luận quốc tế, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam.

- Thành công của chuyến thăm mang ý nghĩa chính trị to lớn đối với Việt Nam. Chuyến thăm đã nhận được sự quan tâm theo dõi của dư luận trong nước, quốc tế và kiều bào ta ở nước ngoài. Kết quả tích cực, tốt đẹp của chuyến thăm nhận được sự đồng tình, ủng hộ đánh giá cao trong nội bộ và dư luận nhân dân, góp phần củng cố uy tín của Đảng, tạo đồng thuận xã hội đối với đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, tạo không khí tích cực, thuận lợi cho quá trình chuẩn bị tiến tới Đại hội XII của Đảng. Chuyến thăm cũng đã góp phần quan trọng triển khai thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc của Đảng và Nhà nước ta; đồng thời, khẳng định một cách mạnh mẽ với cộng đồng quốc tế rằng Việt Nam nhất quán thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, chủ trương tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
2. MỘT SỐ TÌNH HÌNH THẾ GIỚI ĐÁNG CHÚ Ý THỜI GIAN GẦN ĐÂY

- Mỹ và Cuba nhất trí mở lại Đại sứ quán tại Oa-sinh-tơn và La Ha-ba-na: Sau gần bảy tháng thương lượng, với bốn vòng đàm phán, tiến trình bình thường hóa quan hệ Mỹ - Cuba đã đạt được bước tiến mang dấu mốc lịch sử. Hai nước tuyên bố mở cửa Đại sứ quán tại thủ đô mỗi nước vào ngày 20/7/2015. Như vậy, Chính phủ Mỹ và Cuba đã chính thức khôi phục quan hệ ngoại giao sau hơn 50 năm gián đoạn. Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng không chỉ trong quan hệ giữa hai nước, mà còn đối với đời sống chính trị quan hệ quốc tế, một minh chứng về sự hóa giải thành công mối quan hệ thù địch và đối đầu kéo dài trở thành đối tác đối thoại vì hòa bình và phát triển, phù hợp xu thế thời đại. Dư luận quốc tế, nhất là khu vực Mỹ Latinh hoan nghênh việc Mỹ và Cuba khôi phục quan hệ ngoại giao. Tổng thống Mỹ Ba-rắc Ô-ba-ma tuyên bố, quan hệ ngoại giao Mỹ - Cuba đã chính thức bình thường hóa; tiếp tục kêu gọi Quốc hội sớm bãi bỏ lệnh cấm vận Cuba mà ông đã nhiều lần cho là “lỗi thời và không phục vụ các lợi ích của Mỹ”.

- Đối thoại chiến lược và kinh tế Mỹ - Trung Quốc: Mỹ và Trung Quốc tiến hành Đối thoại chiến lược và kinh tế lần thứ 7 tại thủ đô Oa-sinh-tơn (Mỹ) ngày 23 và 24/6/2015. Hai bên cam kết thúc đẩy hợp tác, song cũng thừa nhận hai nước có bất đồng và mâu thuẫn trong một số vấn đề. Cuộc đối thoại tập trung thảo luận về các thách thức và cơ hội về chiến lược và kinh tế mà hai nước đang phải đối mặt, vấn đề Biển Đông cùng các mối quan ngại chung như biến đổi khí hậu, chương trình hạt nhân của I-ran và Triều Tiên, an ninh mạng và nhân quyền.

Trong buổi tiếp đoàn Trung Quốc, Phó Tổng thống Mỹ G.Bai-đơn cho rằng, trong bối cảnh tranh chấp tại Biển Đông và Biển Hoa Đông vẫn diễn biến phức tạp, Mỹ khuyến cáo tất cả các quốc gia tuân thủ luật lệ quốc tế, hợp tác để giữ cho mọi tuyến đường biển quốc tế phải được thông suốt và bảo vệ nhằm bảo đảm các tuyến giao thương trọng yếu. Ông kêu gọi các quốc gia cần giải quyết tranh chấp về lãnh thổ thông qua con đường ngoại giao. Tổng thống Mỹ Ba-rắc thúc dục Trung Quốc giải quyết căng thẳng trong quan hệ hai nước; bày tỏ quan ngại cách hành xử trên không gian mạng của Trung Quốc và những căng thẳng liên quan đến các vùng biển tranh chấp ở châu Á.


3. HỘI THẢO LÝ LUẬN LẦN THỨ 11 GIỮA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN TRUNG QUỐC

Hội thảo Lý luận lần thứ 11 giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc diễn ra trong hai ngày 17 và 18/6/2015 tại thành phố Thượng Hải, Trung Quốc, với chủ đề: “Quản lý, phát triển xã hội - Kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc”. Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam do đồng chí Đinh Thế Huynh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương làm Trưởng đoàn. Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc do đồng chí Lưu Kỳ Bảo, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Bí thư, Trưởng Ban Tuyên truyền Trung ương làm Trưởng Đoàn.

Tại Lễ Khai mạc, đồng chí Đinh Thế Huynh đã có bài phát biểu đề dẫn với chủ đề: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo quản lý, phát triển xã hội trong thời kỳ đổi mới”. Đồng chí Đinh Thế Huynh nhấn mạnh, ngay từ những ngày đầu đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức đổi mới là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, vì vậy, bên cạnh nhiệm vụ phát triển kinh tế, phải đặc biệt chăm lo giải quyết các vấn đề xã hội, nhất là chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội cho người dân. Khẳng định trong 30 năm đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi trọng công tác phát triển xã hội, kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Công tác an sinh xã hội, phát triển và quản lý xã hội ở Việt Nam thời gian qua đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế, ổn định chính trị, tạo đồng thuận xã hội, tiếp tục đưa đất nước phát triển đi lên.

Đồng chí Lưu Kỳ Bảo, Trưởng đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Trung Quốc phát biểu đề dẫn với chủ đề: “Tìm tòi thực tiễn và kinh nghiệm chủ yếu xây dựng xã hội của Trung Quốc”. Đồng chí Lưu Kỳ Bảo nhấn mạnh, song song với việc phát triển kinh tế, Đảng Cộng sản Trung Quốc hết sức coi trọng xây dựng xã hội, đưa ra nhiệm vụ chiến lược xây dựng xã hội hài hòa xã hội chủ nghĩa. Từ sau Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XVIII của Đảng Cộng sản Trung Quốc đến nay, Ban Chấp hành Trung ương do đồng chí Tập Cận Bình làm Tổng Bí thư đặc biệt nhấn mạnh vai trò quan trọng của xây dựng xã hội, đẩy mạnh công tác dân sinh và quản trị xã hội, giải quyết những vấn đề người dân quan tâm nhất, thúc đẩy công tác xây dựng xã hội giành được những thành quả quan trọng.

Trưởng đoàn của hai nước khẳng định vai trò và ý nghĩa quan trọng của Hội thảo Lý luận giữa hai Đảng. Với chủ đề Quản lý và phát triển xã hội, Hội thảo lần này góp phần nhận thức sâu sắc hơn về quy luật xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở mỗi nước; đi sâu trao đổi ý kiến, tham khảo và học hỏi lẫn nhau những kinh nghiệm hay, cách làm tốt để tiếp tục hoàn thiện công tác quản lý, phát triển xã hội; thúc đẩy hơn nữa sự phát triển xã hội, vì cuộc sống hạnh phúc và phồn vinh của nhân dân.

4. HỘI NGHỊ CẤP CAO MÊ CÔNG - NHẬT BẢN LẦN THỨ 7

Hội nghị cấp cao Mê Công - Nhật Bản lần thứ 7 diễn ra tại Nhật Bản ngày 04/7/2015, với sự tham dự của lãnh đạo cấp cao các nước Mê Công (Cam-pu-chia, Lào, My-an-ma, Thái Lan, Việt Nam) và Nhật Bản. Hội nghị thông qua Tuyên bố Chiến lược Tô-ki-ô 2015, nhấn mạnh tầm quan trọng của đại dương, tài sản chung của thế giới; khẳng định tầm quan trọng của việc hợp tác chặt chẽ hơn để bảo đảm an ninh, an toàn hàng hải trong khu vực; nhấn mạnh việc cần phải thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và sớm đạt được Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC). Các nhà lãnh đạo nhắc lại cam kết bảo đảm quyền tự do hàng hải và hàng không, an toàn hàng hải, giao thương thông suốt và giải quyết hòa bình các tranh chấp theo các nguyên tắc của luật pháp quốc tế. Lãnh đạo các nước bày tỏ quan ngại về những diễn biến gần đây tại Biển Đông làm phức tạp thêm tình hình, gây giảm lòng tin và có thể phá hoại hòa bình, an ninh và ổn định tại khu vực.

Tại Hội nghị, Thủ tướng Sin-dô A-bê đã thông báo quyết định của Nhật Bản dành 750 tỷ yên (6,1 tỷ USD) Viện trợ phát triển chính thức (ODA) hỗ trợ các nước Mê Công trong ba năm tới.

Đoàn Việt Nam do Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng dẫn đầu đã tham gia tích cực vào quá trình chuẩn bị cho Hội nghị, phối hợp Nhật Bản và các nước Mê Công xây dựng Chiến lược Tô-ki-ô theo hướng hỗ trợ tối đa cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của các nước Mê Công. Sáng kiến của Việt Nam về mở rộng kết nối tiểu vùng Mê Công với các khu vực chung quanh, nhất là với khu vực Nam Á, đã trở thành một nội dung quan trọng trong Chiến lược Tô-ki-ô 2015. Tại diễn đàn của Hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ biển đảo tại Biển Đông đang diễn biến phức tạp; những hoạt động bồi đắp, cải tạo và xây dựng trên quy mô lớn đã làm thay đổi căn bản nguyên trạng cấu trúc của nhiều đảo, đá và bãi ngầm, vi phạm luật pháp quốc tế, vi phạm Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), làm giảm lòng tin và gia tăng căng thẳng khu vực. Những hành động này đã gây quan ngại sâu sắc và sự lên tiếng không chỉ của các nước ASEAN, của khu vực mà còn nhiều quốc gia, tổ chức trên thế giới. Việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải ở Biển Đông là nguyện vọng, là lợi ích và trách nhiệm chung của tất cả các nước trong và ngoài khu vực. Các bên liên quan cần tuân thủ các nguyên tắc tự kiềm chế, không làm phức tạp thêm tình hình, không làm thay đổi nguyên trạng, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, giải quyết hòa bình các tranh chấp trên cơ sở tuân thủ luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982; thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố DOC; thúc đẩy việc sớm xây dựng Bộ quy tắc COC.

Trong chuyến thăm làm việc tại Nhật Bản, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã hội đàm với Thủ tướng Nhật Bản Sin-dô A-bê. Hai Thủ tướng tuyên bố về cơ bản kết thúc đàm phán song phương trong khuôn khổ Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và sẽ nỗ lực cùng các thành viên khác sớm kết thúc đàm phán và ký TPP trong thời gian tới. Thủ tướng Sin-dô A-bê đồng ý hỗ trợ Việt Nam xây dựng trường Đại học Việt - Nhật, giúp nâng cấp một số trường đại học và dạy nghề ở Việt Nam; cam kết tăng thêm số học bổng cho lưu học sinh Việt Nam, nhận nhiều hơn các điều dưỡng viên, lao động Việt Nam tại Nhật Bản.
5. THÀNH LẬP NGÂN HÀNG ĐẦU TƯ CƠ SỞ HẠ TẦNG CHÂU Á

Tại Hội nghị đặc biệt cấp bộ trưởng Tài chính các nước tham gia AIIB diễn ra ngày 29/6/2015 ở Trung Quốc, 57 quốc gia thành viên sáng lập đã ký biên bản chính thức thành lập AIIB và trở thành thành viên của AIIB. Hội nghị thông qua Quy chế hoạt động của ngân hàng, với vốn điều lệ 100 tỷ USD và vốn đăng ký ban đầu dự kiến khoảng 50 tỷ USD.

AIIB xác định các nguyên tắc hoạt động cơ bản là hợp tác cùng có lợi, công bằng và đổi mới; tuyên bố điều hành theo các tiêu chuẩn cao, được giám sát chặt chẽ theo các quy tắc quản trị với phương châm hoạt động “hiệu quả, trong sạch và xanh”. Hội đồng quản trị của AIIB được áp dụng theo cơ chế không thường trực nhưng thường xuyên được triệu tập để thảo luận các chính sách chủ chốt. AIIB cam kết nỗ lực để bảo đảm tính minh bạch, quyết định độc lập và trách nhiệm xã hội.

Các thành viên sáng lập AIIB đã ký kết các điều khoản chính thức liên quan đến việc góp vốn của mỗi thành viên và vốn điều lệ của Ngân hàng. Mỗi thành viên sáng lập của AIIB sẽ được phân phối hạn ngạch cổ phần dựa trên quy mô nền kinh tế của nước đó. Hiện Trung Quốc, Ấn Độ và Nga là 3 cổ đông lớn nhất của AIIB. Trung Quốc sẽ đóng góp 30,34% trong tổng số 100 tỷ USD vốn cơ bản của AIIB, đổi lại Trung Quốc sẽ nhận được 26,06% quyền biểu quyết về các quyết định quan trọng liên quan tới hoạt động của ngân hàng này. Ấn Độ là cổ đông lớn thứ hai của AIIB có tỷ lệ góp vốn là 8,52% và quyền biểu quyết là 7,5%.

Theo kế hoạch, AIIB sẽ bắt đầu hoạt động vào cuối năm 2015, trụ sở chính của AIIB đặt tại Bắc Kinh (Trung Quốc), cung cấp tài chính cho các hoạt động xây dựng đường bộ, đường sắt, nhà máy điện và các mạng lưới viễn thông cần thiết cho sự phát triển của các nền kinh tế trong khu vực. Tiếng Anh sẽ là ngôn ngữ giao dịch chính thức tại thể chế này.

Từ nay đến trước tháng 12/2015, 7 quốc gia, gồm: Đan Mạch, Cô-oét, Ma-lay-xi-a, Phi-lip-pin, Hà Lan, Nam Phi và Thái Lan sẽ ký thỏa thuận tham gia AIIB với tư cách thành viên. Mỹ và Nhật Bản tuyên bố không tham gia thỏa thuận thành lập AIIB. Nhiều chuyên gia kinh tế thế giới nhận định, sự ra đời của AIIB xuất phát từ nhu cầu thực tế khi châu Á là khu vực có dân số lớn nhất thế giới, nhu cầu về vốn để phát triển hạ tầng trong tương lai rất lớn.



D-VĂN BẢN MỚI
Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, gồm 25 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/7/2015. Một số quy định chủ yếu của Nghị định:

Tổ chức, cá nhân được vay vốn để phục vụ sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn: a) Hộ gia đình, hộ kinh doanh trên địa bàn nông thôn; b) Cá nhân; c) Chủ trang trại; d) Các hợp tác xã, tổ hợp tác trên địa bàn nông thôn; đ) Các tổ chức và cá nhân cung ứng các dịch vụ phục vụ trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ tiêu thụ và xuất khẩu sản phẩm nông, lâm, diêm nghiệp và thủy sản; e) Các doanh nghiệp chế biến các sản phẩm từ nông nghiệp hoặc kinh doanh trong các lĩnh vực công nghiệp, thương mại, cung ứng dịch vụ phi nông nghiệp, có cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn nông thôn.

Cơ chế bảo đảm tiền vay:

(1) Tổ chức tín dụng được xem xét cho khách hàng vay trên cơ sở có bảo đảm hoặc không có bảo đảm bằng tài sản theo quy định hiện hành.

(2) Tổ chức tín dụng quy định rõ mức cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, điều kiện và thủ tục cho vay không có bảo đảm bằng tài sản đối với từng đối tượng khách hàng, phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành về cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Riêng đối với các đối tượng khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, hộ sản xuất kinh doanh ở nông thôn, các hợp tác xã, chủ trang trại, tổ chức tín dụng được xem xét cho vay không có bảo đảm bằng tài sản theo các mức như sau: a) Tối đa đến 50 triệu đồng đối với đối tượng là các cá nhân, hộ sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp; b) Tối đa đến 200 triệu đồng đối với các hộ kinh doanh, sản xuất ngành nghề hoặc làm dịch vụ phục vụ nông nghiệp, nông thôn; c) Tối đa đến 500 triệu đồng đối với đối tượng là các hợp tác xã, chủ trang trại.

(3) Tổ chức tín dụng xem xét cho vay tín chấp đối với các đối tượng khách hàng là cá nhân, hộ gia đình trên cơ sở có bảo đảm của các tổ chức chính trị - xã hội ở nông thôn theo quy định hiện hành. Tổ chức chính trị - xã hội phối hợp và được thực hiện toàn bộ hoặc một số khâu của nghiệp vụ tín dụng sau khi đã thỏa thuận với tổ chức tín dụng cho vay.

(4) Căn cứ vào đặc thù cho vay đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, các tổ chức tín dụng hướng dẫn cụ thể quy trình thực hiện bảo đảm tiền vay đối với khách hàng vay vốn theo hướng đơn giản và thuận tiện.

(5) Các đối tượng khách hàng được vay không có tài sản bảo đảm quy định phải nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (đối với các đối tượng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) hoặc được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đất không có tranh chấp. Khách hàng chỉ được sử dụng giấy xác nhận chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đất không có tranh chấp để vay tại một tổ chức tín dụng và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc sử dụng giấy xác nhận trên để vay không có tài sản bảo đảm theo quy định tại Nghị định này.



(6) Các cá nhân, hộ gia đình khi đăng ký giao dịch bảo đảm để vay vốn tại tổ chức tín dụng để sản xuất kinh doanh thì không phải nộp lệ phí đăng ký giao dịch bảo đảm cho cơ quan đăng ký giao dịch bảo đảm theo thẩm quyền.
(Theo nguồn: Ban Tuyên giáo Trung ương;

Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Cần Thơ)

1






Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương