®¹i häc quèc gia hµ néi tr­êng ®¹i häc khoa häc tù nhiªn


1′-Acetoxychavicol acetat (30



tải về 1.49 Mb.
trang7/10
Chuyển đổi dữ liệu06.06.2018
Kích1.49 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10

32

1′-Acetoxychavicol acetat (30) đã được xác định là thành phần chủ yếu của phần chiết axeton từ thân rễ Alpinia galanga quyết định cho hoạt tính kháng plasmid. qua nghiên cứu phân lập theo định hướng hoạt tính sinh học 1′-acetoxychavicol acetat đã chứng tỏ khả năng điều trị plasmid được mã hóa kháng kháng sinh trong nhiều chủng vi khuẩn kháng đa thuốc của các chủng được phân lập từ bệnh viện như Enterococcus faecalis, Salmonella typhi, Pseudomonas aeraginosa, Escherichia coliBacillus cereus với hiệu quả điều trị 66%, 75%, 70%, 32% và 6% ở SIC 400-800μg/ml. Một nghiên cứu đã xác định tác dụng gây độc tế bào và sự tổn thương DNA của phần chiết nước từ Alpinia galanga trên 6 dòng tế bào người khác bao gồm các tế bào thông thường và nguyên bào sợi p53, các biểu mô thường, u vú và ung thư phổi. Các hợp chất trong phần chiết đã được xác định bằng phương pháp phổ khối lượng là 1’-acetoxychavicol acetat và các dẫn xuất đeaxetyl của hợp chất này. Tuy nhiên, trong thử nghiệm trên các tế báo ung thư phổi người A-549, các hợp chất này đã không quyết định cho hoạt tính gây độc tế bào gây ra bởi phần chiết nước [25].



Viêm xương khớp (OA) là một dạng phổ biến nhất của bệnh viêm khớp và ảnh hưởng đến hàng triệu người người dân trên toàn thế giới. Các bệnh nhân được điều trị theo truyền thống với các thuốc chống viêm không phải steroid (NSAIDs), các thuốc này đều liên quan đến các tác dụng phụ đáng kể. Tinh chế phần chiết axeton của Alpinia galanga Lin. cho p-hydroxycinnamaldehyd (33). Bằng cách sử dụng sự nuôi cấy mô sụn, p-hydroxycinnamaldehyd ngăn chặn sự mất axit uronic, kết quả giải là phóng hyaluronan (HA), các glycosaminoglycan được sunfat hóa (s-GAG) và các metall proteinase nền (MMP). p-Hydroxy- cinnamaldehyd và interleukin-1beta (IL- 1β) được ủ trong các tế bào sụn gốc người, cùng làm giảm sự giải phóng HA, s-GAG và MMP-2. Các kết quả đã cho thấy: (a) các mức biểu hiện của các gen dị hóa MMP-3 và MMP-13 đã được giữ nguyên và (b) các mức độ biểu hiện của các gen đồng hóa của collagen II, SOX9 và aggrecan đã được tăng lên. Nghiên cứu cho thấy p-hydroxycinnaldehyd từ A. galanga là một tác nhân tiềm năng cho điều trị bệnh viêm khớp [29].



33
Alpinia pricei Hayata là một thuốc cổ truyền Trung Quốc ở Đài Loan. Tác dụng của các phần chiết etanol (70%) từ thân rễ A. pricei có thể gây apoptosis trong các tế bào ung thư biểu mô người KB đã được nghiên cứu. Xử lý các tế bào KB với các nồng độ khác nhau của các phần chiết AP (25-200 µg/ml) dẫn đến các dãy hiện tượng gây bởi apoptosis, như sự mất sự sống của tế bào, sự thay đổi hình thái, và sự phân mảnh AND giữa các nhân. Sự chết tế bào được lập trình gây bởi AP gắn liền với sự mất thế năng màng ty lạp thể, sự chuyển cytochrome C, sự hoạt hóa caspase-3 và 9 với sự thoái biến nhiều ADP-ribose polymerase (PARP) trong các tế bào KB. Sự tăng apoptosis gây bởi AP này còn liên quan với một sự khử các mức của Bcl-2, một chất ức chế mạnh sự chết tế bào, và sự tăng protein Bax, chất mà mà nó tạo dime dị tô và bằng cách đó ức chế Bcl-2. Hơn nữa các phần chiết AP gây ra một sự tăng nồng độ oxy hóa (ROS) trong các tế bào KB. Các phát hiện này cho thấy A. pricei thể hiện tác dụng chống kháng sinh và ức chế sự phát triển trên các tế bào ung thư biểu mô người KB qua con đường gây ra sự chết được lập trình của các tế bào phụ thuộc vào ty lạp thể. A. pricei có thể có các tính chất chống ung thư có giá trị cho các sản phẩm dược và trong thực phẩm [41].

Alpinia pricei Hayata được trồng khắp châu Á và là một cây đặc hữu ở Đài Loan. Lá và rễ của cây này được sử dụng truyền thống để gói thực phẩm và là chất thay thế nấu ăn cho gừng tươi. Ảnh hưởng chống viêm in vitro của các phần chiết etanol từ Alpinia pricei Hayata (EEAP) và các hợp chất phenolic của nó đã được nghiên cứu. Sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) cho thấy EEAP có chứa axit caffeic (34), axit chlorogenic (35), axit ferulic (36), axit p-hydroxybenzoic (37), rutin (38), apigenin (23), curcumin (39) và pinocembrin (40). EEAP và các hợp chất phenolic, apigenin, curcumin và pinocembrin ức chế sự sản sinh nitơ oxide (NO) và prostaglandin E2 (PGE 2) được sinh ra trong các tế bào RAW 264.7. Hơn nữa, EEAP, apigenin, curcumin và pinocembrin làm giảm sự hoạt hóa của protein gây bởi LPS và sự biểu hiện mRNA của iNOS (inducible nitric oxide) và COX-2 (cyclooxygenase-2) ở các tế bào RAW 264.7 được gây ra bởi lipolyssacarit (LPS). Ngoài ra EEAP và hoạt chất chính pinocembrin (40) cũng ức chế mạnh sự chuyển nhân của yếu tố phiên mã NF-kappaB gây bởi LPS và sự biểu hiện reporter gen EEAP và pinocembrin cũng ức chế mạnh sự sản sinh các tiểu phân oxi hoạt động (ROS) nội bào gây bởi LPS trong các tế bào RAW 264.7. Khi kết quả này được kết hợp lại, nó cho thấy EEAP và pinocembrin ức chế sự sản sinh NO và PGE2 gây bởi LPS bằng cách ngăn chặn sự chuyển nhân của yếu tố phiên mã NF-kappaB và sự sản sinh ROS [41].



40

Trong nghiên cứu thành phần hóa học có trong quả Alpinia oxyphylla và hoạt tính gây độc tế bào của nó trên các dòng tế bào ung thư, 8 hợp chất đã được phân lập bằng các phương pháp sắc ký cột từ phần chiết 70% Me2CO-H2O quả cây A. oxyphylla. Cấu trúc của các hợp chất này đã được xác định là (9E)-humulen-2,3,6,7-diepoxid (41), 3(12),7(13),9E-humulatriene-2,6-diol (42), (-) oplopanon (43), yakuchinon A (44), yakuchinon B (45), tectochrysin (46), isovanillin (47) và (2E,4E)-6-hydroxy-2,6-dimethylhepta-2,4-dienal (48). Hoạt tính gây độc tế bào của các hợp chất 41, 4245 trên các dòng tế bào ung thư, A549, HT-29 và SGC-7901, đã được đánh giá bằng thử nghiệm sulforhodamine B (SRB). Các hợp chất 41, 42, 4748 đã được phân lập lần đầu tiên từ chi này và các hợp chất 41, 42, và 45 không thể hiện hoạt tính gây độc tế bào đối với ba dòng tế bào ung thư ở nồng độ 10 mg/L [37].





46 47

Khả năng bảo vệ thần kinh của axit protocatechuic (PCA) (49), một hợp chất phenolic được phân lập từ hạt Alpinia oxyphylla, đối với apoptosis và sự oxy hóa gây bởi hydrogen peroxid (H2O2) trong các tế bào được nuôi cấy PC12 đã được nghiên cứu. Sự tiếp xúc của các tế bào PC12 với 0,4 mM H2O2 gây ra một sự thoát lactate dehydrogenase (LDH) và giảm sự sống của tế bào trong thử nghiệm 3-(4,5-dimethylthiazol-2-yl)-2,5-diphenyltetrazolium bromide (MTT). PCA làm tăng sự sống tế bào của PC12 và làm giảm sự chết tế bào được lập trình gây bởi H2O2 trong một sự phụ thuộc vào liều lượng. Phân tích flow cytometric cho thấy tác dụng mạnh của PCA đối với sự bảo vệ các tế bào PC12 đối với apoptosis gây bởi H2O2. Trong các tế bào này, các hàm lượng của glutathione (GSH) và hoạt tính catalase đã được tăng cường, trong khi hoạt tính của glutathione peroxidase không thay đổi. Hơn nữa, PCA cũng bảo vệ sự hư hại tế bào gây ra bởi H2O2 và Fe 2 +, chất này tạo ra các gốc tự do hydroxyl (.OH) do phản ứng Fenton. Các kết quả này cho thấy rằng PCA có thể là một chất hóa học thích hợp cho điều trị stress và các bệnh thoái hóa thần kinh gây bởi sự oxy hoá [34].



Ba chất liên hợp monoterpen-chalcon, rubrain (50), isorubrain (51) và sumadain C (52) đã được phân lập từ hạt Alpinia katsumadai. Cấu trúc và cấu hình tương đối của các hợp chất đã được chứng minh bằng phổ NMR và X-ray. Hoạt tính gây độc tế bào của các hợp chất này đã được đánh giá trên các dòng tế bào HepG2, MCF-7 và MAD-MB-435, và 5-hydroxy-7-(4''-hydroxy-3-methoxyphenyl)-1-phenyl-3-heptanon đã được chứng minh là có hoạt tính gây độc tế bào [32].



50 51
Tám hợp chất đã được phân lập từ phần chiết etanol của Alpinia katsumadai Hayata, 1,7-dipheny-5-hydroxy-4,6-heptadien-3-on (52), 1,7-diphenyl-1,4,6-heptadien -3-on (53), pinocembrin, cardamomin (54), alpinetin (55), 7,4-dihydroxy-5-methoxy flavanon (56) và β-sitosterol (57). Trong đó 2 hợp chất đầu và (58) đã được phân lập lần đầu tiên từ loài thực vật này [42].



58

Tổng kết lại, các hợp chất phenolic mới vẫn tiếp tục được phân lập từ các loài Alpinia officinarum, Alpinia galanga, Alpinia kadsumadaiAlpinia oxyphylla. Các hợp chất này cho một tỷ lệ cao các hoạt chất chống viêm, kháng virut và chống ung thư.



1.3 Các nghiên cứu hoá học và hoạt tính sinh học của một số hợp chất khác từ chi Alpinia (Zingiberaceae)

Các thành phần hóa học khác thường được phát hiện trong các thực vật chi Alpinia (Zingiberaceae) là các hợp chất mono- và sesquitecpenoit trong các tinh dầu từ các bộ phận lá, thân, rễ và quả. Các đitecpenoit dãy labdan thường được phân lập và các hợp chất này cho các hoạt tính gây độc tế bào mạnh.

Các tinh dầu từ lá khô, thân giả và thân rễ loài Alpinia conchigera Griff. được thu nhập từ tỉnh Jeli của Kelanta, bờ biển phía đông của bán đảo Malaysia, đã nhận được bằng chưng cất lôi cuốn hơi nước. Phân tích GC và GC-MS đã nhận biết được 41 hợp chất, trong đó 13 thành phần đã được xác định lần đầu tiên. Ở lá, thân giả và thân rễ 40, 33 và 39 thành phần đã được xác định. Thành phần phổ biến nhất trong tinh dầu lá là β-bisabolen (15,3%), β-pinen (8,2%), β-sesquiphellandren (7,6%), chavicol (7,5%) và β-elemen (6,0%), trong khi β-bisabolen (19,9%), β-sesquiphellandren (11,3%), β-caryophyllen (8,8%) và β-elemen (4,7%), là các hợp chất chính trong tinh dầu thân giả. Trong tinh dầu thân rễ, 1,8-cineol (17,9%), β-bisabolen (13,9%), β-sesquiphellandren (6,8%) và β-elemen (4,0%) là các hợp chất chính. Các tinh dầu đã được thử nghiệm hoạt tính kháng nấm và kháng khuẩn, tuy nhiên chỉ có các sự ức chế yếu đối với các vi sinh vật thử nghiệm đã được phát hiện [29].

Trong liệu pháp điều trị thực vật, tinh dầu từ lá cây Alpinia zerumbet (Alpinia speciosa K. Schum.) đã được sử dụng cho điều trị các triệu chứng của bệnh thần kinh, như sự giảm thần kinh, stress, lo lắng, và các bệnh về kinh niên liên quan đến sự mất cân bằng hoocmon sinh sản ở phụ nữ. Thành phần hoá học của tinh dầu đã được phân tích bằng GC-MS. Các tính chất của tinh dầu gây ra sự thay đổi hành vi của chuột đã được nghiên cứu bởi các quan sát hành vi và bài toán mê cung nâng cao (EPM) được sử dụng làm phương pháp để đánh giá các biểu hiện giảm căng thẳng. Năm hợp chất chính, p-cymen (28,0±5%), 1,8-cineol (17,9±4,2%), terpinen-4-ol (11,9± 6,3%), limonen (6,3±2,2%) và camphor (5,2±2,1%) đã được xác định bằng GC và GC-MS. Đưa tinh dầu vào bằng đường hít (8,7 ppm) đã dẫn phản ứng nhảy duy nhất ở chuột. Để nghiên cứu các cơ chế điều chỉnh hành vi của tinh dầu, 10 mg/kg 5-HTP hoặc 10 mg/kg fluoxetine đã được tiêm vào đường màng bụng trước khi cho hít tinh dầu. Bằng các xử lý trước với 5-HTP hoặc fluoxetine, tần số nhảy đã giảm đáng kể. Trong thí nghiệm EPM, tinh dầu (0,087 và 8,7 ppm) đã cho thấy rõ hoạt tính giảm căng thẳng ở chuột [19].



Kỹ thuật HSCCC bán điều chế đã được áp dụng thành công trong phân lập và tinh chế nootkaton (59) từ tinh dầu quả Alpinia oxyphylla Miquel. Mười hai hệ dung môi 2 pha, bao gồm có 7 hệ không nước và 5 hệ hữu cơ nước-dung môi hữu cơ, với hệ số phân bố phù hợp của nootkaton mà còn hệ số tách thích hợp giữa nootkaton và valencen, tạp chất chủ yếu trong tinh dầu. Hơn nữa trong HSCCC, n-hexan-clorofom-axetonitril (10:1:10, v/v), và n-hexan-metanol-nước (5:4:1, v/v) đã được sàng lọc riêng biệt. Tuy nhiên, n-hexan-metanol-nước (5:4:1,v/v) được cho là tối ưu vì thời gian rửa giải rất ngắn và các dạng pic HSCCC tốt hơn. Bằng cách rửa giải pha dưới của hệ dung môi trong phương thức đầu-đuôi, 3,1 mg nootkaton đã nhận được với độ tinh khiết 92,3% (GC-MS) từ 80 mg tinh dầu thô trong thao tác một bước với thời gian ít hơn 4 giờ [24].



59

Nghiên cứu hoá học phần chiết CHCl3 từ hạt Alpinia zerumbet đã phân lập được 2 labdan đitecpen mới (6061) cùng với năm hợp chất đã biết (62-66). Tất cả các chất được phân lập đã được thử nghiệm hoạt tính gây độc tế bào trên các dòng tế bào ung thư THP-1, HL-60, A-375 và A-549. Hai hợp chất 6061 thể hiện hoạt tính gây độc tế bào mạnh [23].







1   2   3   4   5   6   7   8   9   10


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương