Đại Học Ngân Hàng tp. Hcm họ và Tên : trần huệ chi



tải về 50.53 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu11.09.2017
Kích50.53 Kb.
Đại Học Ngân Hàng TP.HCM

Họ và Tên : TRẦN HUỆ CHI

Lớp : Cao Học 11B1
Thuyết Trình môn:Lịch Sử Các Học Thuyết Kinh Tế
Đề: Phân tích,nhận xét và rút ra ý nghĩa khi nghiên cứu:

- Lý luận giá trị của:William Petty, Adam Smith,David Ricardo,Karl Marx,Trường phái tân cổ điển

-Những nội dung cơ bản của thuyết trọng tiền hiện đại ở Mỹ
Bài làm:
1- Lý luận giá trị củaWilliam Petty:

-Phân tích:

1. Ông nêu ra nguyên lý về giá trị lao động khi bắt đầu phân tích nguồn gốc, đánh thức để tăng cường ngân khố và sử dụng hợp lý nguồn tài chính.

Đưa ra luận điểm đánh thuế vào lợi nhuận thương nghiệp và đất đai trên thực tế thông qua tiền, nêu bật vấn đề giá trị.

2. Chia giá cả ra làm 2 loại: giá cả chính trị (giá cả thị trường) và giá cả tự nhiên (giá trị bên trong). Giá cả chính trị phụ thuộc vào tình trạng ngẫu nhiên do đó khó hiểu rõ được. Giá cả tự nhiên do hao phí quyết định và năng suất lao động có ảnh hưởng đến mức hao phí đó. Petty căn cứ vào tỷ lệ hao phí lao động trong sản xuất hàng hóa thường và hao phí lao động trong sản xuất tiền tệ để tính giá cả tự nhiên...

Cùng một số lượng lao động như nhau mà khai thác được 2 ounce bạc hoặc 1 burel lúa mì thì 1 burel lúa mì giá 2 ounce bạc.

Do đó, Petty cho rằng lao động là cơ sở của giá cả tự nhiên.

3. Cơ sở của giá trị trao đổi là: hao phí lao động, thời gian lao động. Tỉ lệ trao đổi tùy thuộc vào hao phí lao động.

-Nhận xét:

Lý thuyết của ông còn ảnh hưởng của chủ nghĩa trọng thương: Ông chỉ thừa nhận lao động khai thác bạc là nguồn gốc của giá trị, còn giá trị của hàng hóa khác chỉ được xác định nhờ quá trình trao đổi với bạc

-Ý nghĩa:


  • Có ý nghĩa to lớn, thực tiễn đối với các nhà doanh nghiệp, quản lý trong việc sản xuất và trao đổi hàng hóa. Họ có thể nghiên cứu tâm lý khách hàng để sản xuất một loại vật phẩm nào đó đem lại lợi nhuận cho mình.

  • Ví dụ, vào mùa mưa, việc sản xuất áo mưa cũng nảy sinh nhiều vấn đề quan trọng, muốn sản xuất bán chạy cần phải nghiên cứu tâm lý người tiêu dùng: chất lượng, kích cỡ, màu sắc...

2-Lý luận giá trị của Adam Smith:

-Phân tích:

Lý luận giá trị của ông chỉ ra rằng tất cả các loại lao động sản xuất đều tạo ra giá trị và lao động là thước đo cuối cùng của giá trị. Ông khẳng định giá trị sử dụng không quyết định giá trị trao đổi. Cái quyết định mức độ giàu có của một dân tộc là số lượng lao động và năng suất lao động.

Q=W x t


Trong đó: Q: Số lượng sản phẩm của cải.

W: Năng suất lao động

t: Số lượng lao động

Khi phân tích giá trị hàng hóa, ông cho rằng giá trị được biểu hiện ở giá trị trao đổi hàng hóa. Lượng giá trị của hàng hóa là do hao phí lao động trung bình quyết định. Lao động là cái thật sự đo lường giá trị của hàng hóa, nghĩa là hao phí lao động sản xuất ra hàng hóa quyết định. Giá trị của hàng hóa bằng số lượng lao động mà người ta có thể mua được nhờ hàng hóa đó. Trong vấn đề phân phối giá trị ông cho rằng khi sức lao động biến thành hàng hóa hay khi xuất hiện tư bản thì phần sản phẩm do lao động tạo ra chia làm 2: tiền lương của công nhân và lợi nhuận của nhà tư bản. Theo ông, năng suất lao động phụ thuộc vào sự phân công lao động xã hội. Đây là tư tưởng của giai đoạn công trường thi công. Phân công lao động XH theo ông là một bước tiến vĩ đại nhất trong lịch sử XH loài người, là thiên hướng tự nhiên của con người. Cái quyết định sự phân công lao động XH ấy là do trao đổi mua bán hàng theo quy định. Tất cả các vấn đề trên đều xuất phát từ lợi ích kinh tế của mỗi cá nhân. Tính chuyên biệt của lao động một phần nhỏ là do bẩm sinh, chủ yếu là do quá trình đào tạo, học tập, rèn luyện.

Ông đưa ra 2 định nghĩa về giá cả tự nhiên và giá cả thị trường. Giá cả tự nhiên là biểu hiện tiền tệ của giá trị, giá cả thị trường là giá bán thực tế của hàng hóa được đưa ra thị trường. Giá cả tự nhiên có tính khách quan, còn giá cả thị trường thường chênh lệch với giá cả tự nhiên: thấp hơn hoặc cao hơn do phụ thuộc nhiều yếu tố như quan hệ cung – cầu của hàng hóa đó trên thị trường và sự độc quyền hàng hóa.

-Nhận xét:



  • Theo A.S, lao động là cái mình có thể mua bán. Thực tế giá trị hàng hóa được tính bằng số lượng lao động mà người ta có thể mua được nhờ hàng hóa đó. Vì vậy, lao động là cái không thể mua bán, chỉ có sức lao động mới có thể mua bán.

  • Ông đã không phân biệt nguồn gốc của giá trị trao đổi và việc phân phối giá trị khi nói tiền lương, lợi nhuận, địa tô là 3 nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập, cũng như mọi giá trị trao đổi. Khác với các nhà kinh tế trước ông cho rằng nông nghiệp thì cao hơn (tư tưởng trọng nông)

-Ý nghĩa:
-Tóm lại, trong lí thuyết giá trị của Smith có 2 đóng góp: Phân biệt giá trị sử dụng & giá trị trao đổi. Phát triển nguyên lí giá trị lao động, khẳng định được lao động là thước đo thực tế của giá trị, mặc dù chưa hoàn toàn nhất quán với quan điểm này.

3- Lý luận giá trị của David Ricardo:

-Phân tích:

- Ricardo bắt đầu lí luận giá trị của mình bằng sự phê phán A.Smith. Ông gạt bỏ những mâu thuân trong cách giải thích nước đôi của Smith. Trong định nghĩa của Smith về giá trị, gạt bỏ định nghĩa thứ 2, khẳng định tính đúng đắn của định nghĩa thứ nhất.

- Nói lao động quyết định giá trị là đúng không chỉ trong SX hàng hóa giản đơn mà còn đúng cả trong SX hàng hóa TBCN. Cho nên tiền lương của công nhân cao hay thấo không ảnh hưởng tới giá trị mà chỉ ảnh hưởng đến thu nhập của nhà TB. Vì không phải thu nhập quyết định giá trị, mà trái lại giá trị phân giải ra thành các nguồn thu nhập. Ông phân bịêt rạch ròi 2 quá trinh. Hình thành giá trị: trong SX, do lao động quyết định. Phân phối giá trị: sau SX, do giá trị phân phối thành thu nhập.

- Để xác định cơ cấu giá trị, Ricardo đã tính đén không chỉ những chi phí về lao động hiện tại mà cả những chi phí về lao động quá khứ được kết tinh trong máy móc, trong thiết bị nhà xưởng. Nhưng lại chưa tính đến phần lao động quá khứ kết tinh trong nguyên vật liệu. Giá trị= C1 + v + m.

- Tuy vậy, ông lại chưa giải thích được giá trị của máy móc, trang thiết bị, nhà xưởng được chuyển hóa vào hàng hóa ntn? Bởi ông chưa biết đến tính 2 mặt của lao động SX ra hàng hóa.

- Ricardo cũng bác bỏ quan điểm sai lầm của Smith khi cho rằng lao động trong nông nghiệp có năng suất cao hơn. Tuy nhiên, ông cũng có những kế thừa & phát triển.

- Ông cũng phân biệt được giá trị sử dụng với giá trị trao đổi, cũng khẳng định giá trị sử dụng không quyết định được giá trị trao đổi. Nhưng cũng chưa phân biệt được giá trị, giá trị trao đổi. Ông định nghĩa về giá trị như sau: Giá cả hàng hóa là do lao động tương đối cần thiết (lao động XH cần thiết) để SX ra hàng hóa quyết định chứ không phải là do khoản tiền thưởng lớn (tiền công) hay nhỏ để trả cho lao động đó quyết định.

- Ricardo còn phân biệt được lao động cá biệt & lao động XH. Ông khẳng định rằng lao động quyết định giá trị là lao động XH chứ không phải lao động cá biệt. Để xác định lượng giá trị hàng hóa, Ricardo đã đưa ra danh từ "thời gian lao động XH cần thiết". Đáng tiếc ông lại cho rằng thời gian lao động XH cần thiết được qui định bởi điều kiện SX xấu nhất. Và trong việc xác định lượng giá trị hàng hóam Ricardo, cũng còn ít nhiều ảnh hưởng bởi lí thuyết về sự khan hiếm. Ông nói: bình thường giá trị hàng hóa do thời gian lao động quyết định. Song trừ 1 vài hàng hóa quí & hiếm thì tính hữu ích cũng quyết định giá trị.

- Ricardo còn phân biệt giá trị với của cải. Theo ông, giá trị của hàng hóa nhiều hay ít không phụ thuộc vào khối lượng của cải nhiều hay ít mà phụ thuộc vào đk SX khó khăn hay thuận lợi. Ông còn chỉ ra được mối quan hệ tỉ lệ nghịch giữa giá trị hàng hóa & năng suất lao động. Bàn về mối quan hệ giữa giá cả tự nhiên & giá cả thị trường. Thực chất là mối quan hệ giữa giá trị & giá cả. Theo ông, giá cả tự nhiên quyết định giá cả thị trường. Giá cả thị trường bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố cho nên giá cả thị trường không thể ổn định trong 1 thời gian dài. Trong đó, nhân tố ảnh hưởng giá cả thị trường có cả quan hệ cung cầu, nhưng quan hệ cung cầu không thể quyết định đến giá cả thị trường. Việc quyết định nằm trong tay các nhà SX (mà xét cho cùng đó là do chi phí SX điều tiết),

- Ông cũng nghiên cứu ảnh hưởng của quan hệ cạnh tranh đối với giá cả trên thị trường. Cạnh tranh có cạnh tranh giữa những người bán, cạnh tranh giữa những người mua. Trong đk có hàng trăm kẻ cạnh tranh thì giá cả thị trường sẽ do sự cạnh tranh giữa những người bán điều tiết & nó sẽ được xác lập ngang hay gần với giá cả tự nhiên

-Nhận xét:

Trong lí luận giá trị, ông vẫn còn vấp phải 1 loạt những hạn chế:

+Khi phân tích về giá trị, mới chỉ nặng về lượng mà coi nhẹ mặt chất.

+Chưa phân bịêt được giá trị với giá trị trao đổi. Dẫn đến phạm sai lầm nghiêm trọng trong lí luận về tiền tệ.

+Chưa thấy được giá trị là 1 quan hệ SX hàng hóa.

+Vẫn còn bị ảnh hưởng bởi lí thuyết khan hiếm khi xác định lượng giá trị.

+Đã có đề cập đến lao động giản đơn & phức tạp, nhưng còn sơ lược.

+Chưa phân biệt được giữa giá trị với giá cả SX.

- Tất cả những hạn chế này của ông suy cho cùng đều bắt nguồn từ 1 nguyên nhân. Đó là ông chưa biết đến tính 2 mặt của lao động SX ra hàng hóa. Đây là hạn chế lớn nhất của Ricardo và khoa KTCT cổ điển Anh.

-Ý nghĩa:

Có thể nói rằng Ricardo là nhà lí luận giá trị lao động. Ông đã kết cấu lại toàn bộ khoa KTCT, đặt nó dựa trên 1 nguyên lí thống nhất là lao động quyết định giá trị. Tuy nhiên ông vẫn không thể phát triển lí luận đó tới cùng.



4-Lý luận giá trị của Karl Marx:

-Phân tích:

-Marx cho rằng lao động của người sx hàng hóa có tính 2 mặt là lao động cụ thể và lao động trừu tượng.Từ đó theo ông, trong quá trình sx, lao động cụ thể của người sx hàng hóa bảo tồn và di chuyển giá trị cũ C vào trong sp mới,còn lđ trừu tượng tạo ra giá trị mới V+m và toàn bộ giá trị hàng hóa gồm C+V+m

-Ông cho rằng giá trị thặng dư m là bộ phận lao động không được trả công do người công nhân tạo ra và bị tư bản chiếm đoạt

Lợi nhuận,lợi tức, địa tô đều là những hình thức biểu hiện cụ thể của giá trị thặng dư

-Nhận xét:

Sx ra giá trị thặng dư là quy luật tuyệt đối của CNTB.Sx ra giá trị thặng dư tối đa bằng cách tăng cường bóc lột công nhân làm thuê.

-Ý nghĩa:

Kêu gọi giai cấp vô sản đoàn kết lại,tổ chức đấu tranh để lật đổ toàn bộ giai cấp TS



5-Lý luận giá trị của Trường phái tân cổ điển:

-Phân tích:

- Giá trị không bắt nguồn, không phụ thuộc vào lao động mà phụ thuộc hoàn toàn vào tâm lý chủ quan của con người.

- Giá trị của hàng hóa là do sự tương tác giữa tính quan trọng , cấp thiết của nhu cầu và số lượng vật phẩm hiện có quyết định.

- Giá trị trao đổi được hình thành do sự đánh giá chủ quan của người mua, người bán về công dụng của hàng hóa.

- Giải thích được tại sao vật càng khan hiếm thì giá trị trao đổi càng cao.( dựa trên quy luật ích lợi biên tiệm giảm dần).

- Giá thị trường là kết quả sự va chạm giữa giá cung với giá cầu, va chạm giữa cung với cầu.

- Giá cả tỉ lệ thuận với khối lượng tiền đưu vào trong lưu thông.

-Nhận xét:

Đã cải cách khắc phục một số nhược điểm, một số tư tưởng của trường phái cổ điển để thích ứng với các điều kiện mới:



  • Nghiên cứu nhu cầu, tâm lý chủ quan của con người.

  • Thực tế hóa các tư tưởng của trường phái cổ điển, trừa tượng bất biến.

  • Kết hợp phạm trù kinh tế với phạm trù toán học, đưa ra các khái niệm mới như hàm cung, hàm cầu,..

  • Phát triển các lý thuyết Ích lợi biên tế, thuyết Giá trị biên tế, lý thuyết giá trị, lý luận về năng suất biên tế, lý thuyết tiền tệ.

-Ý nghĩa:

Học thuyết kinh tế tân cổ điển kế thừa nền tảng tư tưởng kinh tế của trường phái cổ điển, ủng hộ kinh tế tự do và chống lại sự can thiệp của nhà nước vào hoạt động kinh tế, tôn trọng quan điểm khách quan.



6-Những nội dung cơ bản của thuyết trọng tiền hiện đại ở Mỹ:

-Phân tích:

Trường phái trọng tiền hiện đại ở Mỹ chủ trương tự do hóa nền kinh tế đồng thời nhấn mạnh vai trò tự điều tiết của thị trường.

Trường phái trọng tiền hiện đại ở Mỹ đối lập và phê phán gay gắt những quan điểm chủ yếu của Keynes:



  • Về tình trạng nền kinh tế: Cho rằng giá cả và tiền lương trong điều kiện mới là tương đối linh hoạt mềm dẻo.

  • Thị trường vẫn có khả năng tự động điều tiết.

  • Do thị trường có khả năng tự điều chỉnh nên nền kinh tế có khả năng phát huy tiềm năng của mình. GNP thực tế gần sát GNP tiềm năng. Do đó đường tổng mức cung không phải là một khoảng nằm ngang mà là một đường dốc đứng gần với GNP (GNP: tổng thu nhập quốc dân)

  • Tổng cầu: Khi đường tổng cung là một đường dốc đứng, tổng cầu thay đổi thì nó không thay đổi hình dáng kể GNP thực tế mà chỉ làm thay đổi giá cả.

  • Các nhân tố ảnh hưởng đến tổng cầu: Trường phái này cho rằng chính sách tài chính không làm ảnh hưởng nhiều đến tổng cầu mà nhân tố quan trọng quyết định chính là khối lượng tiền tệ (ký hiệu: M) nói đúng hơn là tổng mức cung về tiền tệ.

Theo quan điểm trọng tiền hiện đại ở Mỹ: Tổng cung tiền tệ là một nhân tố chủ quan. Vì vậy, nó thường không ổn định và nó thường đặc biệt dễ bị chi phối bởi nhân tố chính trị như là chu kỳ kinh doanh chính trị (chu kỳ bầu cử tổng thống, nghị sĩ quốc hội...). Trong khi đó tổng mức cầu về tiền tệ là một đại lượng khách quan, tương đối ổn định vì nó phụ thuộc vào GNP tiềm năng.

Trường phái trọng tiền hiện đại Mỹ quan tâm đến căn bệnh chủ yếu của nền kinh tế: không phải là suy thoái và thất nghiệp mà căn bệnh nguy hiểm nhất là lạm phát. Họ đề ra biện pháp để chống lạm phát như sau: Thực hiện một chính sách tiền tệ, cụ thể, chủ động làm tăng tổng mức cung tiền tệ từ 3-4%/ năm (phù hợp với tốc độ tăng của tổng mức cầu tiền tệ là xấp xỉ mức phát triển của GNP tiềm năng. Một điểm cần chú ý ở đây là lạm phát giảm sẽ dẫn đến tình trạng thất nghiệp tăng.



-Nhận xét:

  • Họ cho rằng mức cung tiền tệ là nhân tố có ảnh hưởng quyết định đến việc tăng sản lượng quốc gia

  • Phái trọng tiền xuất phát từ chỗ cho rằng giá cả hàng hóa phụ thuộc vào khối lượng tiền tệ nên họ rất quan tâm đến vấn đề ổn định giá cả và chống lạm phát

  • Phái trọng tiền hiện đại ủng hộ và bảo vệ quan điểm tự do kinh doanh,chế độ tư hữu,quyền tự do hoạt động và trách nhiệm củ chủ DN

  • Ý nghĩa:

-Đã đề ra một giải pháp hữu hiệu để tránh lạm phát nhưng cũng cần phải lưu tâm đến suy thoái và thất nghiệp, là căn bệnh trầm kha của chủ nghĩa tư bản




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương