Hoïc vieän coâng ngheä böu chính vieãn thoâng Taøi Lieäu Söu Taàm


Khắc phục những sự cố thông thường của ổ đĩa quang



tải về 3.64 Mb.
trang9/34
Chuyển đổi dữ liệu07.06.2018
Kích3.64 Mb.
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   ...   34
Khắc phục những sự cố thông thường của ổ đĩa quang



Dấu hiệu

Lý do có thể

Chẩn đoán và khắc phục

Không thể bật nguồn cho máy tính

Mất nguồn

- Kiểm tra dây cấp điện nguồn của ổ đĩa có nối với cáp điện bộ nguồn PSU chưa?

- Tất cả cáp cấp điện đều bảo đảm đấu nối tốt?



- Kiểm tra PSU có hoạt động không, quạt nguồn có quay không?

Các thiết bị IDE xung đột

Kiểm tra lại cáp IDE xem có cắm chính xác không? và set jumper chính xác.

Ổ đĩa không có dấu hiệu hoạt động

Không thể đọc được đĩa

Thử nghe xem có tiếng đĩa quay không? Nếu đĩa quay mà vẫn không đọc được, thử với đĩa khác tốt hơn. Nếu vẫn không đọc được, có thể mắt đọc hoặc motor có vấn đề.

FlashROM bị hư do cập nhật firmware không đúng

Đèn LED phía trước sáng liên tục trong quá trình boot, vẫn có thể Flash lại firmware mới. Tải đúng phiên bản từ Website chính thức của nhà sản xuất và cẩn thận làm chính xác theo hướng dẫn.

Không thể đóng khay đĩa hoặc khay đĩa không đẩy ra được

Mất nguồn

Kiểm tra nguồn cấp điện đằng sau ổ đĩa.

Nút Eject bị trục trặc hoặc dây curoa giãn

Kiểm tra lại nút Eject còn nhạy không? thay dây curoa nếu cần.

FlashROM bị hư

Tải firmware mới về để flash lại.

Khay đĩa không ngay ngắn

Bị tác động của ngoại lực trong quá trình đóng/mở khay. Thông thường sẽ không được bảo hành trong trường hợp như vậy

Đĩa bị bể, vỡ

Đĩa bị vỡ trong khi đang quay, các mảnh vụn gây kẹt. Dùng cây kim  chọt vào lỗ nhỏ ở mặt trước đĩa để đẩy khay đĩa ra. Dọn sạch mảnh vỡ trước khi đóng vào.

Ổ đĩa gây tiếng ồn

Tiếng ồn khi đóng/mở khay đĩa

Do các bánh răng truyền động giữa motor và khay đĩa, các ổ đĩa dùng dây curoa sẽ êm hơn.

Tiếng ồn phát ra từ phần nào đó ở bên trong của ổ đĩa khi hoạt động

Hệ thống cân bằng tự động cho motor khi quay, để giảm sự rung và tiếng ồn khi hoạt động ở tốc độ cao. Cơ chế chính nằm ở vòng tròn chứa các viên bi  kim loại có thể di chuyển tự do và lực ly tâm sẽ khiến đĩa trở nên cân bằng hơn. Khi không quay, những viên bi này lăn tự do sẽ tạo nên một số tiếng ồn nhỏ trong ổ đĩa.

Tiếng hú khi bắt đầu cho đĩa vào

Tiếng ồn là do các viên bi di chuyển giữa các vị trí để tái tạo sự cân bằng.

Tiếng hú trong quá trình đọc đĩa

Vì nhiều lý do, tốc độ quay của motor trong khi đọc thường xuyên được thay đổi. Trong suốt quá trình này, các viên bi sẽ được sắp xếp lại để đảm bảo sự cân bằng.

Tiếng ồn không đều

Khi đĩa bắt đầu quay, trước khi motor chuyển sang trạng thái quay cân bằng bình thường có thể có tiếng ồn không đều là do đĩa không thật sự đồng đều về độ phẳng, có thể hơi bị cong, đây là điều bình thường.

Tiếng ồn dị thường

Bất cứ tiếng kêu phát ra do va chạm đều không bình thường. Hãy mang đến dịch vụ bảo hành để kiểm tra.

Máy tính không thể nhận diện được ổ đĩa

BIOS không thể nhận ra ổ đĩa

- Kiểm tra lại cáp IDE ở mặt sau xem có gắn chính xác hay không?

- Kiểm tra jumper xem có bị trùng lặp? Lưu ý chỉ có một Master và một Slaver trên cùng một kênh IDE



Không thấy ổ đĩa trong môi trường DOS

Tải driver dùng trong môi trường DOS về và nhớ nạp nó lúc khởi động.

Không thấy ổ đĩa trong môi trường Windows

Kiểm tra lại “IDE BUS controller” trong BIOS mainboard để chắc chắn rằng cả hai kênh IDE đều đã được bật lên (enable).

Không thể đọc đĩa

Bề mặt đĩa có thể bị dơ

Lau lại bề mặt đĩa bằng loại vật liệu mềm như dạ để tránh làm trầy xước. Lau từ trong ra ngoài, không lau theo vòng tròn.

Đĩa bị hỏng, trầy xước

Ổ đĩa không thể đọc được đĩa bị hỏng do ghi không đúng hoặc bị trầy xước quá nhiều. Hãy giữ gìn đĩa của bạn cẩn thận.

Không đúng định dạng

Hãy chắc chắn rằng ổ đĩa của bạn cũng hỗ trợ định dạng được ghi trên CD.

Chơi nhạc không bình thường

Kết nối trên kênh IDE có vấn đề

Kiểm tra lại cáp kết nối với kênh IDE.

Cáp Audio

Kiểm tra cáp audio có cắm đúng vị trí ở trên ổ đĩa và trên sound card.

Card âm thanh hoặc loa

Kiểm tra card âm thanh, speaker có được thiết lập đúng và các chức năng hoạt động bình thường hay không.

Tốc độ truyền thấp hơn thiết kế

Đĩa ghi không đầy

Ổ đĩa dùng công nghệ CAV để đọc đĩa, do vậy tốc độ truyền dữ liệu chỉ đạt maximum ở vị trí ngoài cùng (từ vị trí phút 70 trở đi).

Kiểm tra trong môi trường không thích hợp

Tốc độ truyền tối đa chỉ đạt ở những track ngoài cùng của đĩa.

Tiện ích kiểm tra phải test cả track ngoài cùng, và đĩa phải được ghi đúng chuẩn test.



Thiết lập trong Windows chưa tối ưu

Chế độ DMA/UDMA có bật hay không? Nếu không, hãy bật nó lên (vào Control panel).

Chất lượng đĩa không tốt (do nhà sản xuất hay do bảo quản)

Cất giữ đĩa cẩn thận, tránh làm dơ, trầy xước hoặc gần nguồn nhiệt, ánh sáng mặt trời chiếu trực tiếp.

Không thể cập nhật firmware mới

Firmware mới không phù hợp với model hiện đang dùng

Kiểm tra lại model ổ đĩa đang dùng và phiên bản firmware đã tải về. Hãy download từ Website chính thức của nhà sản xuất.

Sự cố sau khi cập nhật firmware

Bị gián đoạn trong khi Flash Firmware

Quá trình Flash Firmware có thể bị gián đoạn bởi điện yếu hoặc hệ thống shutdown bất ngờ. Hãy thực hiện lại. Nếu không được, gửi đến dịch vụ bảo hành.

Cập nhật không đúng

Đọc lại và làm theo hướng dẫn Flash Firmware của chính nhà sản xuất loại ổ đĩa bạn dùng.

(Theo tài liệu của hãng LiteOn – sản xuất thiết bị Optical Drive dạng OEM cho Compaq, Sony, Gigabyte, TDK, v.v...).

Vận chuyển ổ đĩa cứng cho an toàn



Cách cầm nắm một ổ đĩa cứng

Board mạch của ổ đĩa cứng (HDD) do các linh kiện rất nhỏ tạo thành. Các linh kiện này rất mỏng manh. Khi cầm HDD không đúng cách, ta có thể làm chúng bể hoặc nứt, cũng như trầy sướt các chân mà mắt thường khó phát hiện được, gây ra hiện tượng HDD không còn được máy tính “nhìn thấy” (không detect được).

Cách cầm nắm một HDD đúng cách là cầm vào hai bên cạnh của ổ đĩa, không được chạm tay vào board mạch, cũng như hạn chế tối đa việc tiếp xúc trực tiếp với ổ đĩa.



Bảo vệ chống hiện tượng tĩnh điện

Cơ thể chúng ta có thể sản xuất ra tĩnh điện bất cứ lúc nào, cho nên khi tiếp xúc với HDD, ta cần phải có dụng cụ bảo vệ hiện tượng tĩnh điện như : bao tay và thiết bị chống tĩnh điện. Nếu không có dụng cụ bảo vệ thì nên chạm tay vào thùng máy (để khử tĩnh điện) trước khi tiếp xúc với HDD. Nếu hiện tượng tĩnh điện xảy ra, dễ gây ra hiện tượng nổ chíp và hư đầu đọc.

Bảo vệ chống hiện tượng phóng điện

Vì board mạch được thu gọn lại rất nhỏ, khi tiếp xúc với board mạch, chúng ta có thể vô tình làm các hoa chất và mồ hôi dính lên board khiến cho hiện tượng dẫn điện xảy ra gây chạm mạch (nổ chip). Cáp nguồn lỏng lẻo sẽ gây nẹt tia lửa điện và cũng gây ra hiện tượng nổ chíp.



Sử dụng, bảo quản và vận chuyển đúng cách

Khi sử dụng phải nhẹ nhàng, gắn ổ cứng vào máy tính một cách cố định. Khi gắn cáp tín hiệu và cáp nguồn phải gắn nhẹ nhàng, ngay thẳng để khỏi bể miếng nhựa và gãy chân trên board mạch.

Đừng bao giờ dựng đứng một ổ cứng vì dễ bị ngã và phải hạn chế tiếp xúc nhiều với nó. Khi vận chuyển một ổ cứng phải bỏ vào bao chống tĩnh điện do nhà sản xuất cung cấp khi mua.

Khi vận chuyển nhiều ổ cứng, chúng ta nên đặt chúng vào thùng có mốp bảo vệ, để tránh sự va chạm có thể xảy ra. Khi lấy ra chỉ được cầm vào cạnh của ổ cứng. Tuyệt đối không nên bỏ ổ cứng trong giỏ xe hay kẹp vào gác-ba-ga của xe.

Không được rung, lắc hay lấy ổ cứng ra khỏi máy khi nó đang hoạt động. Chỉ sau khi HDD dừng hoạt động khoảng mười giây mới được tiếp xúc và phải có dụng cụ bảo vệ khử tĩnh điện. Sau khi tắt máy, ta phải đợi chừng 30 giây sau mới khởi động lại.

11 biện pháp giữ an toàn cho HDD

Khi mang ổ cứng đi bảo hành, ta nên xem như mình đang cầm trên tay một ổ cứng mới. Nên tuân thủ đúng cách cầm nắm cũng như vận chuyển và đóng gói. Nếu làm sai, nơi bán và nhà sản xuất có thể từ chối bảo hành.

1. Hạn chế số lần cầm nắm, tháo ráp, cũng như vận chuyển càng ít càng tốt.

2. Đừng bao giờ vận chuyển ổ cứng mà không đặt chúng trong bao chống tĩnh điện.

3. Hãy nghĩ rằng ổ cứng của chúng ta rất mỏng manh, hãy sử dụng cẩn thận.

4. Phải bảo vệ HDD khỏi hiện tượng sốc tĩnh điện và phóng điện.

5. Không chồng các ổ cứng lên nhau.

6. Sau khi máy tính ngưng hoạt động ít nhất mười giây, chúng ta mới tháo ổ cứng ra.

7. Hạn chế sự va chạm mạnh đối với ổ cứng.

8. Đừng bao giờ sờ vào mặt ngang ổ cứng mà chưa có sự bảo vệ tĩnh điện.

9. Đừng dựng đứng ổ cứng, mà nên đặt nằm.

10. Không bao giờ lấy ổ cứng ra khi nó đang hoạt động.

11. Khi gắn ổ cứng vào máy tính, bạn nên đặt nó vào nhẹ nhàng, cắm cáp tín hiệu và cáp nguồn ngay thẳng, nếu không sẽ gây ra hiện tượng gãy chân nguồn và bể miếng nhựa.

(Theo tài liệu hướng dẫn về ổ cứng Maxtor của Công ty AceCom Indochine)




Phân biệt RAM

SINGLE-SIDED VÀ DOUBLE-SIDED:

RAM (chủ yếu là SDRAM và DDR) được đóng gói với hai hình thức chỉ gắn các chíp bộ nhớ lên một mặt thanh bo mạch (gọi là RAM một mặt, Single-sided) hay gắn trên cả hai mặt bo mạch (RAM hai mặt, Double-sided). Nhưng không phải nhà sản xuất muốn gắn một hay hai mặt tùy ý, mà phải tùy theo cấu trúc của module RAM.

LONG DIMM VÀ SODIMM:

Các thanh RAM dành cho máy tính để bàn có nguyên khổ nên gọi là LONG DIMM. Còn loại xài cho máy tính xách tay có kích thước ngắn hơn gọi là SODIMM (Small Outline DIMM, DIMM có viền ngoài nhỏ). SDRAM SODIMM có 144 chân, trong khi DDR SODIMM và DDR2 SODIMM có 200 chân.

BGA VÀ TSOP:

Đây là cách gắn các con chíp bộ nhớ lên thanh bo mạch. BGA (Ball Grip Array) là công nghệ dán chíp lên bo mạch, được giới thiệu là ưu việt hơn, tản nhiệt tốt hơn, nhiệt độ thấp hơn và có khả năng đạt tốc độ cao hơn, cũng như với kích thước nhỏ hơn. Còn TSOP (Thin Small Outline Packages) là công nghệ cũ hàn các con chíp lên bo mạch ( t r ô n g giống như những con bọ với vô số chân tua tủa các bên mép).

SDRAM:

SDRAM (Synchronous DRAM) là bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên động đồng bộ). Đây là thế hệ bộ nhớ chủ yếu của Pentium III trở về trước. Gia đình chipset Pentium 4 đầu tiên của Intel là i845 cũng hỗ trợ bộ nhớ này, nhưng phải là SDRAM 133MHz hay còn gọi là PC133 – đây cũng chính là tốc độ cao nhất của SDRAM được chính thức hỗ trợ.

RAMBUS:

Chính xác phải gọi là RDRAM (Rambus Dynamic Random Access Memory, bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên động Rambus) hay DRDRAM (Ditrect RamBus). Như tên gọi của mình, Rambus là một dạng bộ nhớ khác hẳn các loại RAM bình thường. Nói cho chính xác, đây là một hệ thống phụ về bộ nhớ (memory subsystem). Nó bao gồm bộ nhớ RAM, bộ điều khiển RAM, và bus nối RAM với CPU và các thiết bị trong máy tính sử dụng Rambus. Tuy chạy nhanh, khỏe, nhưng quá mắc (do hãng Rambus thu tiền bản quyền sáng chế), nên Rambus “chết yểu”. Tốc độ cao nhất được bán trên thị trường là 800MHz (PC800). Intel chỉ đưa ra hai chipset máy để bàn hỗ trợ Rambus là i820 và i850. Vì thế, RDRAM PC1066 là tốc độ cuối cùng của Rambus, nhưng chỉ có vài hãng sản xuất và “ngậm” luôn làm ... kỷ niệm.

Vì tốc độ quá nhanh nên nhiệt độ rất cao, Rambus phải được trang bị thêm một miếng nhôm tản nhiệt. Rambus có hai loại RDRAM (16-bit, gồm PC-600, PC- 800, PC-1066) có 184 chân và RIMM (32-bit, gồm RIMM 3200, RIMM 4200) có 232 chân.



DDR SDRAM:

Double Data Rate SDRAM hay DDRAM (bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên động đồng bộ tốc độ dữ liệu gấp đôi) là thế hệ bộ nhớ mới đang thịnh hành và là bộ nhớ chính của các hệ thống Pentium 4.

DDR hay DDR SDRAM thế hệ đầu có tốc độ tối đa là 400MHz/ PC-3200 (200MHz/PC-1600, 266MHz/PC-2100, 333MHz/PC- 2700) và thanh DDR có 184 chân.

DDR2 hay DDR SDRAM thế hệ thứ hai hiện có hai tốc độ chính 400MHz (DDR2-400/PC2-3200) và 533MHz (DDR2-533/PC2- 4300). Một số hãng cũng đã đưa ra loại 667MHz (DDR2-667/PC2- 5300). Thanh DDR2 có 240 chân.



DIMM, Module và CHIP, RAM, ROM, DRAM, SRAM, SDRAM

DIMM:

Viết tắt từ thuật ngữ tiếng Anh Dual-In-line Memory Modules (đơn vị bộ nhớ trực tuyến đôi), DIMM thường dùng trong tên gọi của những khe cắm (slot) bộ nhớ trên bo mạch chủ. Đó là hai thanh nhựa chạy song song kẹp phía giữa là hai hàng tiếp điểm bằng kim loại dạng lò xo để tiếp xúc với chân cắm thanh RAM. Số tiếp điểm tương ứng với số chân trên thanh RAM.



Bạn thử tham khảo cách người ta mô tả việc gắn bộ nhớ như sau: gắn DDR Module vào DIMM Slot (gắn thanh DDR vào khe cắm DIMM).

SODIMM (Small Outline DIMM, DIMM có viền ngoài nhỏ) là dạng DIMM ngắn dùng trong máy tính xách tay.

MODULE VÀ CHIP:

Khi nói về bộ nhớ RAM, người ta phân biệt rõ module (thanh nhựa, hay gọi là bo mạch, có gắn các con chip) và chip (miếng silicon chứa mạch điện tử siêu nhỏ gắn trên thanh nhựa). Như vậy, DDR Module là thanh bộ nhớ DDR hoàn chỉnh, còn DDR chip là con chip bộ nhớ DDR. Việc xử lý dữ liệu nằm ở các con chip, còn các bo mạch (board) chỉ đơn thuần là giao diện kết nối và tiếp xúc.

RAM:

Random Access Memory (bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên) là nơi máy tính sử dụng để lưu trữ tạm thời dữ liệu cho các chương trình đang chạy, hay các file đang mở để giúp CPU xử lý tốt nhất. RAM dùng để chỉ bộ nhớ chính của hệ thống. Thuật ngữ RAM còn được hiểu là Read-And-write Memory (bộ nhớ có thể đọc và ghi). Nghĩa là bạn có thể ghi dữ liệu vào RAM và đọc dữ liệu từ RAM. RAM phải được nuôi bằng nguồn điện. Khi máy tính tắt, các dữ liệu trong RAM cũng tiêu đời nhà ma. Nó trái ngược với bộ nhớ ROM.

ROM:

Đúng như tên cúng cơm của mình, Read Only Memory, ROM là dạng bộ nhớ chỉ có thể đọc dữ liệu chứa sẵn trong nó. Để nạp dữ liệu vào ROM, người ta cần phải dùng thiết bị chuyên dùng, gọi nôm na là “nạp ROM”. Nhờ vậy mà dữ liệu chứa trong ROM không bị mất đi dù cho máy tính ngưng hoạt động. Đây chính là dạng bộ nhớ dùng cho BIOS của bo mạch chủ. Các máy tính luôn có một lượng nhỏ ROM lưu giữ các lệnh cho việc khởi động hệ thống.

DRAM:

DRAM (đọc là đi-ram) viết tắt từ Dynamic Random Access Memory (bộ nhớ truy xuất ngẫu nhiên động). Đây là dạng RAM phải được phục hồi (hay còn gọi là làm tươi, refresh) thường xuyên theo các định kỳ.

SRAM:

Khác với DRAM, SRAM (Static Random Access Memory, đọc là éts-ram, bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên tĩnh) là một dạng bộ nhớ nhanh hơn và có độ tin cậy cao hơn DRAM nói chung. Thuật ngữ “tĩnh” là để chỉ việc bộ nhớ SRAM không cần phải được làm tươi (refresh) như DRAM. Vì sao nhanh hơn? Trong khi DRAM hỗ trợ thời gian truy cập khoảng 60 nanoseconds (ns), SRAM có thể cho phép truy cập với thời gian thấp chỉ 10ns. Thời gian chu kỳ (cycle time) của SRAM cũng ngắn hơn rất nhiều so với DRAM vì nó không cần phải “xả hơi” (pause) giữa các lần truy cập. Ngặt một nỗi là chi phí sản xuất SRAM đắt hơn DRAM rất nhiều nên nó chỉ được dùng làm bộ nhớ đệm (cache).

SDRAM:

Viết tắt từ Synchronous DRAM, SDRAM là bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên động đồng bộ. Đây là một dạng DRAM có thể chạy với các tốc độ xung nhịp (clock speed) cao hơn nhiều so với bộ nhớ thường. Chẳng hạn, SDRAM 133MHz có tốc độ nhanh hơn 3 lần FPM RAM cơ bản, hơn 2 lần so với EDO RAM và BEDO RAM.

Gọi là đồng bộ vì SDRAM thật sự đồng bộ chính nó với bus của CPU.




Một số kinh nghiệm cài đặt phần cứng



Phần cứng (hardware) nói chung là những thiết bị được gắn vào máy ví dụ như card màn hình, card âm thanh, modem, máy in, máy scan, webcam... Để phần cứng hoạt động được chính xác, bạn cần phải cài đặt trình điều khiển thiết bị (driver) cho nó. Có những phần cứng không cần driver như ổ đĩa cứng (HDD), ổ đĩa mềm (HDD), ổ đĩa CD, Ram... do BIOS của mainboard có thể tự nhận biết được.

Để gắn thiết bị vào máy tính, chỉ cần trình độ trung bình là có thể gắn được. Có những thiết bị được gắn vào máy tính phía bên ngoài mà không cần mở thùng máy, tùy theo đầu cắm của thiết bị mà ta chọn cổng cắm thích hợp, là COM, LPT hoặc USB, không sợ nhầm vì các cổng này kích thước khác nhau. Có những thiết bị phải mở thùng máy mới gắn được, nhưng cũng không phức tạp lắm, chỉ cần chọn khe thích hợp với card phần cứng đó, và bạn cũng không sợ cắm lộn vì kích cỡ các khe này cũng khác nhau. Thông dụng có 3 loại khe cắm là ISA – màu đen, PCI – màu trắng và AGP – màu nâu (AGP chỉ dùng cho card màn hình, bạn phải xem tài liệu của mainboard để biết nó hỗ trợ 2X hoặc 4X, 8X). Khi gắn thiết bị vào hệ thống máy, bạn phải tắt máy, tắt nguồn điện và yêu cầu cắm chặt, cắm sát, bắt vít lại để cố định nó.

Muốn xem các thiết bị phần cứng nào đã được cài đặt vào trong hệ thống thì bấm phím phải chuột vào My Computer trên Desktop, chọn lệnh Properties để mở cửa sổ System Properties, chọn thẻ Device Manager.

Để các thiết bị phần cứng hoạt động chính xác, bạn cần cài đặt driver cho nó bằng một trong các cách sau:

- Thông dụng nhất là đưa đĩa driver của phần cứng đó vào ổ CD, màn hình cài đặt sẽ tự động hiện lên.

- Vào Start\ Settings\ Control Panel\ Add New Hardware, theo các bước hướng dẫn để cài đặt.

- Trong hộp thoại System Properties, chọn thẻ Device Manager, chọn đối tượng phần cứng không thích hợp (là các đối tượng có dấu hiệu màu đỏ hoặc vàng phía trước, hoặc các đối tượng đã bị gỡ bỏ nhưng vẫn còn sót lại driver – đa phần là modem hay card màn hình), chọn lệnh Remove, rồi bấm lệnh Refresh, sẽ xuất hiện các bước hướng dẫn để bạn cài đặt.

Bạn sẽ thấy cửa sổ cài đặt sau:



Điều chính yếu là bạn phải chọn đúng nhãn hiệu, đời của thiết bị phần cứng và chọn đúng driver cho bản Windows đang cài trên máy bạn. Ví dụ HP hay Epson? Nếu là HP thì HP nào, Laser hay Deskjet? 5L, 6L, 1100 hay 1200...? Bạn đang dùng Windows nào? Win 95, 98, NT, Me, 2000 hay XP?

Nguyên tắc chung như đã trình bày ở trên, nhưng đối với card màn hình và máy in thì có các bước cài đặt dễ dàng hơn.

Với card màn hình, bạn bấm phím phải chuột vào Desktop, chọn lệnh Properties. Cửa sổ Display Properties xuất hiện, chọn thẻ Settings, bấm chọn Advanced..., chọn thẻ Adapter, bấm Change, bạn sẽ thấy các cửa sổ cài đặt quen thuộc hiện ra.

Với máy in, bạn vào Start\ Settings\ Printers, bấm đúp chuột vào Add Printer, bấm chọn Have Disk, chọn ổ đĩa chứa Driver của máy in đó.


KHẮC PHỤC SỰ CỐ CỦA MÀN HÌNH VÀ CARD MÀN HÌNH
VÕ VĂN THÀNH

Khi bật máy lên màn hình không chịu làm việc (màn hình trống với một màu đen thui, không có con trỏ) hoặc có hoạt động nhưng màu sắc bị sai lệch, có nhiều thứ bạn cần phải kiểm tra như:

- Kiểm tra xem đầu cắm nguồn có bị lỏng lẻo không (cả đầu cắm với nguồn điện nhà hay với bộ nguồn của máy tính và đầu cắm vào màn hình).

- Kiểm tra xem ổ điện nhà có tốt không (cắm đèn vào ổ xem có sáng lên không).





- Kiểm tra đầu cắm cáp dữ liệu của màn hình xem có chân nào bị cong hay bị đẩy thụt vào bên trong không. Có thể có một số chân bị bỏ trống, điều đó cũng bình thường chứ không phải đầu cáp bị hư. Màn hình không sử dụng hết tất cả các chân trong một đầu cắm DB15. Nếu có chân nào bị cong, bạn có thể sử dụng một cây nhíp nhỏ để uốn thẳng lại. Phải thật thận trọng, chúng rất dễ bị gãy.

- Kiểm tra cáp màn hình để đảm bảo nó được gắn chặt và đảm bảo nó được siết ốc đủ chặt. Lắc lắc cả hai đầu mút của sợi cáp để kiểm tra xem cáp có bị “gãy ngầm” ở bên trong không.

- Bạn cũng có thể dùng tay vỗ lên màn hình (nhưng đừng mạnh tay quá) để xem có bộ phận nào ở bên trong bị lỏng hay bị hở mạch không. Nên thận trọng vì nếu bạn vỗ mạnh có thể làm “tiêu” bóng đèn hình đó!

- Một vấn đề thường gặp đối với màn hình là sự cố của chức năng tiết kiệm năng lượng mà nó thường được điều khiển bằng một rờ le (bạn có thể nghe được tiếng đóng mở khi nó hay mạch điện tử hỗ trợ của nó bị hư). Hầu hết các màn hình tiết kiệm năng lượng đều có một đèn LED, đèn sẽ chuyển sang màu xanh khi chúng nhận được tín hiệu từ máy tính và màu cam hay một màu khác khi chúng không nhận được tín hiệu từ máy tính. Một số sẽ hiển thị dòng chữ “No Signal” (không có tín hiệu) hay cái gì đó tương tự khi chúng được bật lên nhưng lại không phát hiện được tín hiệu từ máy tính. Thông thường, bạn có thể làm cho màn hình kết nối lại tín hiệu với máy tính bằng cách bật tắt công tắc nguồn của màn hình (nằm ở phía trước màn hình) lặp đi lặp lại vài lần hay nhấn và giữ nó một lát rồi thả ra và nhấn lại.

- Vấn đề cũng có thể là do máy tính. Thử với một màn hình khác để xác định liệu vấn đề là do máy tính hay do chính màn hình. Hoặc thử màn hình của bạn với một máy tính khác.

- Bạn cũng nên thử tháo vỏ máy ra và cắm lại card màn hình. Nếu bạn có một card màn hình AGP, bạn hãy dời bất kỳ card mở rộng nào khác (card âm thanh, card mạng, card modem...) trong khe cắm PCI bên cạnh khe cắm AGP sang một khe cắm PCI khác. Khe cắm đó thường dùng chung một đường ngắt (interrupt) với khe cắm AGP.

- Thử một card màn hình khác.

- Thông thường nếu card màn hình hay màn hình bị hư thì bạn sẽ nghe các mã hiệu báo lỗi bằng các tiếng bíp. Nếu màn hình không có tín hiệu từ máy tính và bạn cũng không nghe được tiếng bíp, bạn nên kiểm tra và cắm lại các thanh RAM.

- Thử khởi động máy với cấu hình tối thiểu: bo mạch chủ (có nối với loa máy để có thể nghe được tiếng bíp nếu có lỗi ở card màn hình hay màn hình), CPU, bộ nhớ RAM và card màn hình.

- Tham khảo các Website của hãng sản xuất card màn hình, bo mạch chủ, và màn hình để biết các vấn đề có liên quan và cách giải quyết.

- Cuối cùng, nếu đã cố tới mức này mà không giải quyết được vấn đề, bạn nên nhờ đến các chuyên viên có tay nghề kiểm tra và sửa chữa giùm bạn.




Tạo thêm một phân vùng mới trên ổ đĩa hiện có mà không làm mất dữ liệu

Trong bài viết này, tôi giới thiệu với các bạn cách tạo phân vùng mới trên ổ đĩa mà không ảnh hưởng gì tới dữ liệu hiện có của bạn bằng Paragon Partition Manager 5.5 nằm trên đĩa Hiren Boot CD 5.0 (để an toàn, bạn nên sao lưu dữ liệu trước khi thực hành).

Nguyên lý làm việc: Giảm bớt size (dung lượng) của phân vùng được chọn và lấy phần thừa ra để tạo một phân vùng mới.

Bước 1: Cho đĩa Hiren Boot vào ổ và khởi động bằng đĩa CD-ROM này. Ở menu chính, chọn Disk Partition Tools -> Paragon Partition Manager rồi đợi một lúc cho chương trình nạp vào bộ nhớ.

- Chọn ổ đĩa vật lý bạn muốn chia trong khung Hard Disk (được đánh số thứ tự từ 0), ở đây tôi chọn ổ DISK 0 có dung lượng 9.766MB.



- Chọn phân vùng trong bảng bên dưới. Chương trình sẽ liệt kê tất cả các phân vùng có trên ổ cứng bạn chọn với các thông tin: tên, định dạng, kích thước, dung lượng còn trống, dung lượng đã sử dụng, chế độ ẩn hiện và nhãn đĩa. Tôi chọn ổ D.

Bước 2: Nhấp nút Ressize, trong bảng Ressize Partition chọn kích thước của ổ đĩa cần tạo thêm bằng cách kéo thanh trượt về phía trái. Phần phía bên phải chính là phần thừa ra để chuẩn bị tạo một phân vùng mới.



Lưu ý: bạn chỉ giảm kích thước phân vùng xuống ngang bằng với dung lượng dữ liệu đang có. Sau khi chọn xong, nhấn OK và đợi chương trình hoàn tất công việc.

Bước 3: Chọn phần thừa ra ở bước 2. Nhấn nút Create tạo phân vùng mới, nhấn Format để định dạng phân vùng. Điền đầy đủ các thông tin mà chương trình yêu cầu sau đó OK.



1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   ...   34


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương