Hoïc vieän coâng ngheä böu chính vieãn thoâng Taøi Lieäu Söu Taàm



tải về 3.64 Mb.
trang5/34
Chuyển đổi dữ liệu07.06.2018
Kích3.64 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   34




LẮP RÁP VÀ SỬ DỤNG CỨNG


Lắp ráp

Máy tính cá nhân (PC) hiện nay cho phép bạn sử dụng bốn ổ đĩa cứng có giao tiếp IDE/ EIDE cùng lúc. Để phân biệt các ổ đĩa trên cùng một cáp tín hiệu, chúng ta phải xác lập bằng cách nối tắt các chân cắm được quy định cụ thể trên từng ổ đĩa (set jumper). Nhà sản xuất luôn cung cấp sơ đồ set jumper kèm theo ổ đĩa của mình vì nếu thiếu, chỉ có cách là set “mò” hay dựa trên ổ đĩa khác. (Chú ý: ổ đĩa CD-ROM theo chuẩn giao tiếp IDE cũng được tính vào tổng số này.)

Nếu muốn sử dụng trên bốn ổ đĩa trong một máy, bạn có thể mua card Ultra ATA gắn vào Slot PCI còn trống trên mainboard. Mỗi card Ultra ATA cho phép gắn thêm bốn ổ đĩa cứng và mainboard sẽ quản lý các ổ đĩa này tương tự các ổ đĩa SCSI. Chú ý: Bạn phải cài driver dành cho từng phiên bản Windows của nhà sản xuất cung cấp kèm theo card.

Các quy ước khi lắp ráp, kết hợp ổ đĩa:

- Dây cáp: Cáp tín hiệu của ổ đĩa cứng IDE/EIDE (40 dây) có ba đầu nối giống y nhau. Một đầu để gắn vào đầu nối EIDE trên mainboard, hai đầu còn lại để gắn vào đầu nối trên hai ổ đĩa cứng. Khi cắm dây, chú ý cắm sao cho vạch màu ở cạnh cáp nối với chân số 1 của đầu nối. Thường chân số 1 được quy ước trên mainboard là cạnh có ghi số 1 hay có dấu chấm tròn, hoặc dấu tam giác. Trên ổ đĩa là cạnh có ghi số 1, hay cạnh nằm sát dây cắm nguồn. Có hãng sản xuất đã ngừa trường hợp cắm ngược cáp bằng cách bỏ bớt một chân ở đầu nối trên mainboard, và bít một lỗ tương ứng ở đầu nối trên cáp. Khi nối cáp, cố gắng xoay trở đầu cáp sao cho đoạn dây đi từ mainboard đến ổ đĩa cứng là ngắn nhất. Thậm chí, bạn có thể nối đầu giữa lên Mainboard, hai đầu bìa lên ổ đĩa cứng. Chú ý: Đối với cáp Ultra ATA (80 dây) ta phải cắm đúng quy định của nhà sản xuất (thường các đầu cắm phân biệt bằng màu sắc).

Giữa hai nhóm ổ đĩa 1, 2 và 3, 4 phân biệt bởi hai dây cáp gắn vào hai đầu nối Pri (thứ nhất 1, 2) hay Sec (thứ nhì 3, 4). Giữa ổ đĩa 1, 2 hay 3, 4 phân biệt bằng cách set Jumper trên mỗi ổ đĩa là Master (1, 3) hay Slave (2, 4).



- Trên ổ đĩa có các set sau: Master (single): Ổ đĩa chính duy nhất. Master (dual): Ổ đĩa chính nhưng có kết hợp với ổ khác.

Slave: Ổ đĩa phụ.

Cable Select: Xác lập master hay slave bằng vị trí đầu cáp.

Có một số mainboard bắt buộc ổ đĩa khởi động phải được set là Master và được gắn vào cáp Pri (1). Có một số mainboard đời mới cho phép bạn vào BIOS xác lập khởi động bằng ổ đĩa nào cũng được hay tự động dò tìm ổ đĩa khởi động theo thứ tự do bạn quy định trong BIOS (ổ mềm, CD ROM, SCSI, ổ cứng C hay D, E, F...). Có trường hợp hai ổ đĩa không chịu chạy chung với nhau khi gắn cùng một cáp. Bạn phải sử dụng hai cáp cho hai ổ đĩa này.



Sử dụng

Để sử dụng được ổ đĩa cứng với hệ điều hành DOS/Win, bạn phải tiến hành các thủ tục sau:

 Fdisk: Phân vùng đĩa.

 Format: Định dạng đĩa.

Trong trường hợp bạn mới ráp máy hay làm lại ổ đĩa, bạn phải khởi động bằng đĩa mềm rồi dùng chương trình chứa trên đĩa mềm tiến hành thao tác với ổ đĩa cứng.



Cách làm đĩa mềm khởi động như sau:

* Đưa đĩa mềm vào ổ đĩa A, đánh lịnh Format A: /S

* Chép tối thiểu các file sau lên đĩa mềm: Fdisk, Format, Sys. Bạn có thể chép thêm NC, các chương trình chống Virus, các chương trình tiện ích...tuỳ theo nhu cầu và dung lượng đĩa mềm còn trống.


FDISK

Khi bạn đánh lệnh Fdisk, màn hình đầu tiên sẽ hỏi bạn có sử dụng FAT32 hay không (DOS 7 hỗ trợ FAT32) rồi đến màn hình có các mục dưới đây:

1. Create DOS partition or Logical DOS Drive

2. Set active partition

3. Delete partition or Logical DOS Drive

4. Display partition information

5. Change current fixed disk drive

Giải thích:

* Create DOS partition or Logical DOS Drive: Tạo khu vực trên đĩa (có thể là một phần, có thể là toàn bộ) và tạo ổ đĩa Logic Dos.

Trong mục nầy còn có các mục con:

a. Create Primary DOS Partition

b. Create Extended DOS Partition

c. Create Logical DOS Drive(s) in the Extended DOS Partition

* Đầu tiên, bạn phải tiến hành mục a tức là tạo Partition DOS thứ nhất. Vùng nầy có đặc điểm là chỉ chứa một ổ đĩa duy nhất có dung lượng chiếm toàn bộ không gian vùng và chỉ ổ đĩa nầy được phép khởi động. Nếu bạn không chia nhỏ ổ đĩa cứng vật lý thì bạn cho vùng nầy chiếm toàn bộ và quá trình fdisk kể như hoàn tất, Fdisk sẽ tự động chỉ định cho ổ đĩa nầy là ổ khởi động. Nếu bạn muốn chia nhỏ ổ đĩa, bạn chỉ định kích thước cụ thể cho vùng này rồi tiến hành mục b.

* Mục b tạo vùng đĩa mở rộng dành cho DOS. Dung lượng là không gian còn lại của ổ đĩa vật lý hay chỉ một phần nếu bạn muốn dự trữ một vùng riêng ngoài tầm kiểm soát của DOS (dành cho hệ điều hành khác) gọi là vùng Non DOS. Vùng DOS mở rộng nầy sẽ chứa tất cả các ổ đĩa Logic mà bạn muốn tạo và bạn tiến hành tạo chúng bằng mục c.

2. Set active partition: Chỉ định ổ đĩa được phép khởi động. Theo quy định của DOS, chỉ có ổ đĩa nằm trong Pri Partition mới được phép active (ổ đĩa C). Mục này chỉ dùng khi bạn không cho vùng Pri chiếm toàn bộ dung lượng ổ đĩa vật lý.

3. Delete partition or Logical DOS Drive: Xoá bỏ những gì bạn tạo trong mục 1. Theo quy định của DOS, quá trình xóa phải ngược lại với quá trình tạo, nghĩa là cái gì tạo đầu tiên phải được xoá sau cùng và ngược lại.

Trong mục nầy có các mục con:

a. Delete Primary DOS Partition

b. Delete Extended DOS Partition

c. Delete Logical DOS Drive(s) in the Extended DOS Partition

d. Delete Non-DOS Partition

Trong mục nầy, bạn phải tiến hành ngược từ dưới lên trên tức là tiến hành theo thứ tự 4,3,2,1.

4. Display partition information: Hiển thị tình trạng hiện tại của ổ đĩa cứng. Mục này bạn nên chọn đầu tiên để tránh tình trạng thao tác lộn ổ đĩa.

5. Change current fixed disk drive: Chọn ổ đĩa vật lý để thao tác.

Chú ý: Khi bạn Fdisk trên ổ đĩa cứng nào (logic hay vật lý) toàn bộ dữ liệu trên ổ đĩa đó sẽ bị xoá. Fdisk chỉ dùng cho ổ đĩa cứng, bạn không thể Fdisk ổ đĩa mềm.






FORMAT

Format được dùng cho đĩa cứng lẫn đĩa mềm và gần như là chương trình thông dụng khi sử dụng máy tính. Nhưng Format có hai tính năng chưa được đánh giá đúng mức là format triệt để (/u): quá trình kiểm tra đĩa kỹ lưỡng nhất, và format /q (format nhanh): cách xoá đĩa có nhiều file nhanh nhất.

Công dụng chính của Format /u là xóa mọi dữ liệu cũ, định dạng lại ổ đĩa giống như khi mới mua. Trong quá trình định dạng lại nó còn kiểm tra đánh dấu các vị trí xấu không sử dụng được.

Công dụng của Format /q là không làm gì ảnh hưởng đến dữ liệu hiện có trong ổ cứng, nó chỉ làm một việc đơn giản là xoá các thông tin dùng để quản lý dữ liệu. Khi nào cần ghi dữ liệu mới thì dữ liệu cũ bị xoá đi. Do đó, nếu format /q, bạn vẫn có thể phục hồi dữ liệu lại được nếu chưa ghi dữ liệu mới đè lên.

Ký tự cho ổ đĩa

Trên máy có từ hai ổ cứng trở lên mà mỗi ổ cứng lại chia thành nhiều phân vùng (partition) thì việc đặt tên đĩa của DOS dễ làm bạn “rối” vì chúng được gán theo một thứ tự “kỳ cục”: DOS chỉ định ký tự ổ đĩa cho các phân vùng chính (pri) trước rồi mới đến các phân vùng mở rộng (ext). Thí dụ: Có ba ổ đĩa, mỗi ổ đĩa chia hai phân vùng thì tên của chúng được gán là C cho phân vùng pri của ổ 1, D cho phân vùng pri của ổ 2, E cho phân vùng pri của ổ 3, F cho phân vùng ext của ổ 1, G cho phân vùng ext của ổ 2, H cho phân vùng ext của ổ 3. Ðối với những người sử dụng máy tính ít kinh nghiệm, họ khó mà biết ký tự ổ đĩa được gán thuộc về ổ cứng nào (trừ ổ C).

Bạn có thể tránh được rắc rối này bằng cách chỉ chia phân vùng ext cho các ổ cứng từ ổ thứ hai trở đi. Khi đó, DOS sẽ gán ký tự ổ đĩa theo đúng trật tự vật lý của chúng, nghĩa là lần lượt từ ổ thứ nhất đến ổ cuối cùng (vì chỉ có một phân vùng pri trên ổ 1).

Biện pháp này có một nhược điểm là tất cả các ổ đĩa không có phân vùng pri sẽ không khởi động được và không thể dùng làm ổ C nếu mang sang các máy tính khác.


Nếu đang sử dụng Windows 98 trên máy Pentium MMX trở lên, bạn có thể áp dụng cách đơn giản sau: Không khai báo ổ cứng thứ nhì trở đi trong BIOS. Khi vào Windows, hệ điều hành nầy tự phát hiện ra các ổ cứng đó và sẽ quản lý với các ký tự ổ đĩa được sắp xếp tiếp theo ổ cứng thứ nhất (thí dụ: C là phân vùng pri trên ổ 1; D là phân vùng ext trên ổ 1; E là phân vùng pri trên ổ 2; F là phân vùng ext trên ổ 2).

Biện pháp này có nhược điểm là không sử dụng được ổ cứng thứ hai khi khởi động với DOS, nhưng có ưu điểm là bạn vẫn chia ổ đĩa như bình thường (có thể dùng làm ổ C để khởi động khi chạy trên máy khác).



Nếu chạy Windows NT/2000/XP, bạn có thể vào Computer Manager/Disk Management và thay đổi ký tự ổ đĩa tuỳ ý.

Format cấp thấp đĩa cứng (low level format)

Thông thường, nhà sản xuất đã format cấp thấp cho ổ đĩa trước khi xuất xưởng, format cấp thấp đĩa cứng (low level format) sẽ ghi lại thông tin định dạng lên từng sector đĩa cứng về mặt vật lý phù hợp với trạng thái đầu từ ghi/đọc lúc đó và “loại bỏ” các sector hư hỏng (nếu có) khỏi danh sách quản lý của mạch điều khiển (tránh trường hợp ghi vào đây làm mất dữ liệu). Sau thời gian sử dụng, có thể có một số sector bị hư hỏng hay tình trạng đầu từ đọc/ghi bị thay đổi (do các chi tiết cơ khí bị mài mòn), chúng ta nên format cấp thấp lại để cập nhật “tình trạng vật lý” mới cho ổ đĩa. Ảnh hưởng của nó tương đương với một lần ghi dữ liệu và không hề làm giảm tốc độ hay tuổi thọ của ổ cứng, tuy nhiên chúng ta cần chú ý các vấn đề sau:

- Format cấp thấp đĩa cứng sẽ phát hiện các sector hỏng và sẽ giấu chúng về mặt vật lý (mạch điều khiển ổ đĩa) để tất cả các chương trình (kể cả hệ điều hành) không bao giờ dùng được các sector này, do đó mỗi lần format cấp thấp lại, có thể dung lượng đĩa hữu dụng sẽ bị giảm (nếu có thêm sector hỏng mới).

- Trong một số mainboard, BIOS có chức năng format cấp thấp và quá trình thực hiện việc format này rất chậm.

- Có một số phần mềm chuyên dùng để format cấp thấp của các hãng sản xuất ổ cứng chạy rất nhanh và có thể sử dụng cho nhiều loại ổ khác nhau. Tuy nhiên, chức năng giấu sector hỏng không được hoàn hảo lắm (khi được, khi không...).

- Quá trình format cấp thấp là một quá trình ghi đọc đĩa toàn diện và trên toàn bộ bề mặt vật lý của đĩa cho nên có thể nói đây cũng là một quá trình kiểm tra tình trạng hoạt động khá nặng nề đối với các ổ đĩa cũ (ổ nào quá “yếu” thì có thể “tắt thở” luôn do không chịu nổi thử thách). Do đó, không nên format ở mức Low Level nhiều lần, mà chỉ thực hiện khi thật cần thiết.





Phần mềm cho ổ cứng


BeClean

Đây là một tiện ích không thể thiếu cho máy tính của bạn, giúp dọn dẹp, làm sạch máy tính của bạn bằng cách xóa bớt những thành phần không cần thiết. Nhờ vậy, máy tính của bạn sẽ chạy trơn tru và ít bị lỗi hơn. BeClean có những tính năng sau: Registry Cleaner (dọn dẹp registry); Internet Cleaner (xóa internet cache); History Cleaner (dọn dẹp history); Temporary Files Cleaner (xóa những file tạm); Start Menu Cleaner; Desktop Cleaner (xóa những liên kết không hợp lệ trong menu Start và trên Desktop); Empty Recycle Bin (làm sạch thùng rác). Ngoài ra, bạn còn có thể chỉ định để chương trình dọn dẹp một thư mục, một khóa registry... theo ý bạn.

BeClean là phần mềm miễn phí, phiên bản 1.3 có dung lượng 1,78 MB, bạn có thể tải xuống từ địa chỉ: http://boozet.xepher.net/download/beclean130.exe.



Active@ File Recovery

Chương trình cho phép phục hồi lại các file bị mất hoặc đã bị xóa đi trước đó. Phần mềm sẽ quét ổ đĩa trong vài phút và sẽ hiển thị tất cả các file được phục hồi. Chương trình có thể phục hồi dữ liệu trên đĩa cứng cũng như đĩa mềm và hỗ trợ hầu hết các hệ thống file như: FAT12, FAT16, FAT32, NTFS, NTFS5. Hơn nữa, nó còn phục hồi được cả tên file dài (long file names). Active@ File Recovery có thể dò tìm và phục hồi dữ liệu trên ổ đĩa có kích thước lớn (trên 8GB) một cách nhanh chóng. Tuy nhiên, phiên bản dùng thử chỉ cho phép phục hồi những file có dung lượng nhỏ hơn 32KB, nếu bạn sử dụng phiên bản đã đăng ký thì sẽ không bị giới hạn về kích thước file được phục hồi. Phần mềm tương thích với hệ điều hành Windows 9x/ME/ NT/2000/XP. Phiên bản 2.0 có dung lượng 321 KB, địa chỉ tải: http://www.filerecovery.net/downloads/filerecoverydemo.zip.




6 “BÍ N” CỦA Ổ ĐĨA CỨNG


Giới hạn 32GB của FAT32 trong Windows 2000

Theo lý thuyết, kích thước của phân vùng (partition) đĩa đối với FAT32 trong Windows 2000 là 2 TB (Terabytes) - tức khoảng 2000GB. Tuy nhiên, trên thực tế kích thước lớn nhất của một phân vùng (cũng là kích thước của một ổ đĩa logic) khi sử dụng FAT32 là 32GB.

Lưu ý: Khi cố gắng định dạng một phân vùng đĩa FAT32 lớn hơn 32GB, việc định dạng sẽ kết thúc thất bại ở gần cuối quá trình với thông báo lỗi sau đây: Logical Disk Manager: Volume size too big.

Như vậy, nếu bạn có một đĩa cứng từ 40GB trở lên, bạn nên chia thành nhiều phân vùng, mỗi phân vùng có kích thước tối đa là 32GB, nếu bạn quyết định sử dụng hệ thống tập tin FAT32.

Thiếu sót vùng đĩa trống (Free Space Flaw) của FAT32

Hiện tượng Free Space Flaw (thiếu sót vùng đĩa trống) là một sơ sót nhỏ đối với hệ thống FAT32, khiến cho Windows thỉnh thoảng không báo đúng dung lượng đĩa còn trống (ví dụ “nó” báo chỉ còn vài chục MB đĩa trống, trong khi thực tế là hơn 500 MB), đặc biệt là khi máy tính của bạn bị “treo” hay tắt máy “không đúng thủ tục” (do cúp điện chẳng hạn). Tình trạng này không có gì nguy hiểm. Tất cả những gì bạn cần làm để sửa chữa là chạy tiện ích Scandisk (scandskw.exe trong Windows, scandisk.exe trong DOS). Nên nhớ rằng Scandisk chỉ giải quyết nhất thời, vấn đề này vẫn có thể xảy ra sau đó mỗi khi máy của bạn bị “treo” hay bạn tắt máy không đúng cách.

Lưu ý:

* Windows 95 OSR 2.x và các Windows 9x sau này được cài đặt chế độ tự động chạy Scandisk mỗi khi hệ thống của bạn bị tắt không đúng “thủ tục”.



* Thiếu sót này chỉ ảnh hưởng đến vùng đĩa trống do Windows tính toán chứ không phải là nguồn gốc của việc mất dữ liệu.

Hỗ trợ DMA?

Tương tự như ổ CD (xem bài “DMA và những vấn đề liên quan đến ổ CD và CD R/W” ở e-CHÍP số 4), khi thiết lập đặc tính hỗ trợ DMA cho ổ đĩa cứng, bạn có thể làm cho hệ thống của mình chạy nhanh hơn nếu hệ thống đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật (loại chipset trên bo mạch chủ hỗ trợ Bus Mastering DMA, trình điều khiển thiết bị thích hợp, ổ cứng hỗ trợ DMA). Ngược lại, bạn cũng có thể gặp nhiều rắc rối với nó. Có một điều lạc quan là hiện nay tất cả các bo mạch chủ và ổ cứng có mặt trên thị trường trong thời gian gần đây đều hỗ trợ (Ultra) DMA.

Ổ đĩa cứng quá nóng?

Nói chung, nhiệt độ trong máy khi tăng lên quá cao (do quạt thoát nhiệt bị hư hay hệ thống thoát nhiệt không hiệu quả) sẽ có thể gây ra nhiều sự cố đau đầu nếu bạn chưa có kinh nghiệm về chuyện này. Riêng về đĩa cứng, nếu nhiệt độ trong môi trường gần nó tăng cao có thể gây ra lỗi khi ghi đĩa (disk write error). Nếu bạn để ý thấy khi máy mới chạy thì không có gì xảy ra, nhưng khi chạy được một thời gian (khoảng 30 phút) máy bắt đầu báo lỗi thì bạn có thể nghi ngờ hệ thống thoát nhiệt của bạn có vấn đề.

Nhiệt độ ảnh hưởng đến ổ đĩa cứng như thế nào?

Khi được xuất xưởng, mỗi ổ đĩa cứng đã được định dạng cấp thấp (lowlevel format). Sau khi được định dạng cấp thấp, mỗi cung từ (sector) được định vị rõ ràng nhờ những thông tin ở phần đầu (sector header) và ở phần cuối (sector trailer). Nhờ đó, đầu từ có thể định vị chính xác được cung từ cần truy cập. Trong các tác vụ đọc/ghi thông thường, chỉ có 512 byte dữ liệu cộng với các byte CRC (Cyclic Redundancy Check) ở phần cuối được ghi vào cung từ.

Sau một thời gian hoạt động kể từ lúc bắt đầu bật máy, nhiệt độ đĩa cứng nóng dần lên, dẫn tới hiện tượng giãn nở các phiến đĩa (thường bằng nhôm) do tác dụng nhiệt. Như vậy, mỗi track (tập hợp của các cung từ theo trục đứng tạo thành một hình trụ tưởng tượng) sẽ dịch chuyển ra phía ngoài với một khoảng cách xấp xỉ 1,25 phần ngàn (1,25‰) inch. Phần lớn các ổ đĩa cứng kích cỡ 5 ¼-inch có mật độ track giữa 500 đến 1000 TPI (track per inch – track trên một inch), như vậy khoảng cách giữa các track liền kề nhau chỉ vào khoảng 1-2 phần ngàn (‰) inch. Hậu quả là sự giãn nở nhiệt của các phiến đĩa cứng 5 ¼-inch có thể làm cho các tracks “di dời” từ ½ đến hơn một khoảng cách track (so với vị trí nguyên thủy của track đó) dưới đầu từ. Nếu cơ chế dịch chuyển đầu từ của ổ đĩa không bổ trợ bù trừ đối với hiện tượng giãn nở nhiệt trong các phiến đĩa sẽ gây ra sự sai lệch track nghiêm trọng. Khi xảy ra sự sai lệch track do hiệu ứng nhiệt, bạn có thể thấy thông báo lỗi giống như thế này: Sector not found reading drive C: Abort, Retry, Ignore, Fail?

May mắn là các ổ đĩa mới hiện nay đều có cơ chế phụ để theo đúng track (track-following servo): khi track bị “di dời” do nhiệt, bộ phận định vị của đầu từ tự động bù trừ để định vị đúng track cần truy cập. Nhiều ổ cứng loại này trải qua một sự bù trừ nhiệt dễ nhận biết sau mỗi 5 phút hay sau 30 phút đầu tiên kể từ lúc bật máy, và thường là sau mỗi 30 phút sau đó.

Trong quá trình bù trừ nhiệt này, nếu chú ý bạn có thể nghe tiếng đầu từ dịch chuyển tới, lui khi chúng ước lượng và bù trừ sự thay đổi vì nhiệt của các phiến đĩa.

Tuy nhiên, khi ổ đĩa bị quá nóng (do không giải nhiệt tốt) thì sự thay đổi vì nhiệt xảy ra nghiêm trọng đến mức cơ chế bù trừ nhiệt của đầu từ không theo kịp; do đó cũng có thể dẫn đến lỗi như đã nói ở trên.

Như vậy, để tránh những sự cố do nhiệt đối với ổ cứng, bạn nên duy trì cho nhiệt độ môi trường chung quanh đĩa cứng và trong đĩa cứng đừng tăng quá cao và tương đối ổn định bằng cách lưu ý đến việc giải nhiệt cho toàn hệ thống.

Có một số đĩa cứng được tăng cường làm mát bằng cách gắn thêm quạt ở mặt dưới của đĩa (phần gắn bo mạch). Tuy nhiên, nếu quạt có chất lượng “dỏm” thì sau một thời gian quạt bị trục trặc (chạy chậm, “giật cục” hay không khởi động nổi), có thể gây ảnh hưởng đến đĩa cứng, thậm chí có thể làm hư đĩa cứng. Nếu bạn cảm thấy máy của mình đặt ở nơi thoáng mát, hoặc trong phòng lạnh thì bạn có thể không cần sử dụng quạt làm mát này bằng cách ngắt nguồn cấp điện cho quạt, hoặc thay bằng một quạt đảm bảo chất lượng cao để bảo vệ ổ đĩa cứng.

Những thông số “biết nói”

Khi mua đĩa cứng, thường bạn chỉ quan tâm đến dung lượng đĩa cứng, tốc độ ATA, tốc độ quay (5400, 7200 RPM...) chứ ít khi quan tâm đến những thông số khác. Thực ra, đĩa cứng còn nhiều thông số “biết nói” khác giúp bạn dễ dàng nhận định chất lượng của đĩa cứng; hoặc khi nghe quảng cáo về một đĩa cứng mới bạn cũng không cảm thấy “ù ù, cạc cạc”:




Nhận diện những ổ đĩa cứng trên thị trường Việt Nam

 


Hai loại HDD UltraATA và SerialATA có hình dạng như nhau, đều cỡ 3,5-inch, chỉ khác nhau giao diện kết nối với mainboard. Giao diện SerialATA chưa thấy có, mặc dù đã có nhiều loại mainboard hỗ trợ nó.

* Trên thị trường Việt Nam hiện chỉ phổ biến HDD chuẩn UltraATA/100 và một số ít UltraATA/133 (hầu hết là hàng Maxtor).

* Sau khi Maxtor mua hãng sản xuất HDD nổi tiếng Quantum hồi cuối năm 2000, tới nửa cuối năm 2002, thêm Hitachi thâu tóm bộ phận sản xuất HDD của IBM. Hiện nay, Quantum đã hết hàng và IBM cũng bắt đầu hiếm. Hàng có chỉ là tồn kho hay hàng bảo hành.

* Trên thị trường Việt Nam hiện nay chủ yếu chỉ còn HDD của hai hãng Seagate và Maxtor được sản xuất ở Singapore và Trung Quốc.

* Thỉnh thoảng có thêm nguồn hàng của hãng IBM sản xuất ở Thái Lan hay Samsung (Made in Korea). Gần đây, lại có thêm sản phẩm của Western Digital tham gia thị trường Việt Nam.

* Các HDD của Seagate, Maxtor, IBM có hai loại: bình thường (tốc độ vòng quay 5.400 rpm) và IBM Plus, Maxtor Plus hay Seagate Barracuda (7.200 rpm).

* Vì HDD là một bộ phận cực kỳ quan trọng, để chứa hệ điều hành, các ứng dụng và dữ liệu, bạn nên mua HDD của các hãng lớn, có tên tuổi. Mua của đại lý chính hãng để được hưởng chế độ bảo hành chính thức. Tốt nhất là có dán tem bảo đảm và bảo hành của tổng đại lý.

* Kể từ ngay 1/10/2002, sau phát pháo mở hàng của Maxtor, rồi kéo theo hai hãng Seagate và Western Digital, thời gian bảo hành của các loại ổ đĩa cứng desktop từ ba năm bị giảm xuống còn một năm. Các ổ cứng mua trước đó vẫn tiếp tục được hưởng chế độ bảo hành ba năm. Chế độ này áp dụng trên toàn thế giới.



1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   34


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương