HĐnd tỉnh hà TĨnh khoá XVI, KỲ HỌp thứ 3 CỘng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam



tải về 236.89 Kb.
trang1/4
Chuyển đổi dữ liệu06.08.2016
Kích236.89 Kb.
#14221
  1   2   3   4

HĐND TỈNH HÀ TĨNH

KHOÁ XVI, KỲ HỌP THỨ 3




CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc




Hà Tĩnh, ngày 19 tháng 7 năm 2012


ĐỀ ÁN

QUẢN LÝ, BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG BỀN VỮNG

GIAI ĐOẠN 2012-2015, ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2020

(Ban hành kèm theo Nghị quyết số 32/2012/NQ-HĐND

ngày 19/7/2012 của Hội đồng nhân dân tỉnh)




ĐẶT VẤN ĐỀ

Hà Tĩnh có 362.740,9 ha rừng và đất lâm nghiệp, chiếm 60,2% diện tích tự nhiên của tỉnh, trong đó có 173.281,0 ha quy hoạch sản xuất, đây là tiềm năng, lợi thế to lớn cần được phát huy, khai thác có hiệu quả. Trong những năm qua, mặc dầu trong điều kiện còn nhiều khó khăn, nguồn lực đầu tư của Nhà nước còn hạn chế, cơ chế chính sách chưa đồng bộ, nhưng lâm nghiệp Hà Tĩnh vẫn đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Diện tích rừng tăng nhanh qua các năm, độ che phủ rừng năm 2011 đạt 53,23%, lợi ích kinh tế từ rừng được khẳng định, giá trị sản xuất và xuất khẩu tăng nhanh. Công tác bảo vệ, phát triển rừng ngày càng được xã hội hóa, giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động, góp phần xóa đói, giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Rừng đã và đang giữ vai trò to lớn cho phòng hộ, chống xói mòn và bảo vệ môi trường sinh thái của tỉnh.

Tuy vậy công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng vẫn bộc lộ nhiều vấn đề hạn chế; rừng vẫn tiếp tục bị khai thác trái phép và diễn biến phức tạp, chất lượng rừng tự nhiên ngày càng suy giảm; công tác giao, khoán rừng, đất rừng còn nhiều bất cập; cơ sở hạ tầng kỹ thuật của lâm nghiệp vẫn còn thấp kém; hiệu quả sản xuất lâm nghiệp vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh; việc sắp xếp tổ chức sản xuất và quản lý bảo vệ rừng còn chưa hợp lý...

Với tình hình thực trạng hiện nay, đòi hỏi sự quan tâm của cấp ủy chính quyền các cấp, các ngành, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, nhằm tạo ra những chuyển biến mới cho hoạt động lâm nghiệp của tỉnh, đóng góp nhiều hơn nữa cho phát triển kinh tế, xã hội và phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái.

Thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 19/5/2009 của Ban chấp hành Ðảng bộ tỉnh về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Hà Tĩnh giai đoạn 2009 - 2015 và định hướng đến năm 2020 và Quyết định số 2165/QĐ-UBND ngày 16/7/2009 của UBND tỉnh về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TU của Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xây dựng Đề án quản lý, bảo vệ và phát triển rừng bền vững giai đoạn 2012-2015 và định hướng đến 2020 với những nội dung chính sau:

CÁC CĂN CỨ PHÁP LÝ

ĐỂ XÂY DỰNG ĐỀ ẤN

- Luật Bảo vệ và Phát triển rừng số 29/2004/QH, ngày 03/12/2004;

- Nghị định số 23/2006/NĐ-CP, ngày 03/3/2006 của Chính phủ về việc thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng;

- Nghị định số 200/2004/NĐ-CP, ngày 03/12/2004 của Chính phủ về việc sắp xếp, đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh;

- Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020;

- Quyết định số 147/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách phát triển rừng sản xuất đoạn 2007 - 2015;

- Quyết định số 186/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành quy chế quản lý rừng;

- Thông tư 86/2005/TTBNV ngày 22/8/2005 của Bộ Nội vụ về hướng dẫn biên chế ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng khi thực hiện đề án sắp xếp đổi mới và phát triển lâm trường quốc doanh;

- Thông tư 38/2007/TT-BNN ngày 25/4/2007 của Bộ Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng;

- Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24/12/2011 của Chính phủ về tổ chức và quản lý hệ thống rừng đặc dụng;

- Nghị định 05/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ về quỹ bảo vệ và phát triển rừng;

- Thông tư liên tịch số 61/2008/TTLB-BNN-BNV ngày 15/5/2008 của Bộ NN&PTNT và Bộ Nội vụ về hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và nhiệm vụ quản lý nhà nước của Uỷ ban nhân dân cấp xã về nông nghiệp và phát triển nông thôn;

- Quyết định số 3209/QĐ-UBND, ngày 29/12/2006 của UBND tỉnh Hà Tĩnh về việc phê duyệt kết quả rà soát quy hoạch 3 loại rừng ở Hà Tĩnh;

- Quyết định số 176/QĐ-UBND, ngày 16/01/2009 của UBND tỉnh Hà Tĩnh về việc phê duyệt quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Hà Tĩnh giai đoạn 2008 - 2020;

- Nghị quyết số 08-NQ/TU ngày 19/5/2009 của Ban chấp hành Ðảng bộ tỉnh về nông nghiệp, nông dân, nông thôn Hà Tĩnh giai đoạn 2009 - 2015 và định hướng đến năm 2020;

- Quyết định số 2165/QĐ-UBND ngày 16/7/2009 của UBND tỉnh về việc ban hành Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TU của Tỉnh ủy;

- Quyết định số 57/QD-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020;

- Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 17/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước;

- Quyết định số 07/2012/QD-TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ, ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng;

- Thông tư số 01/2012/TT-BNNPTNT ngày 04/01/2012 của Bộ NN&PTNT về quy định hồ sơ lâm sản hợp pháp và kiểm tra nguồn gốc lâm sản;

- Nghị quyết số 26/2011/NQ-HĐND ngày 16/12/2011 của Hội đồng nhân dân tỉnh về việc phê duyệt Đề án sắp xếp, kiện toàn các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, Ban quản lý dự án và tổ chức hội.

Phần 1

THỰC TRẠNG VỀ

BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN RỪNG 5 NĂM QUA

I. NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

1. Diện tích rừng tăng nhanh, độ che phủ rừng đạt 53,23%; giá trị, hiệu quả kinh tế từ rừng tăng rõ rệt, đã giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động, góp phần xóa đói, giảm nghèo

Trong những năm qua nhiều chương trình, dự án và phong trào trồng rừng của nhân dân đã triển khai trồng mới, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, bảo vệ rừng, đặc biệt là dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và một số dự án trồng rừng kinh tế như dự án trồng rừng nguyên liệu của Tổng Công ty Lâm nghiệp Việt Nam, dự án trồng rừng nguyên liệu Hanviha…vv. Hàng năm trồng mới bình quân từ 7.000 – 8.000 ha, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, bảo vệ hàng chục nghìn ha nhờ đó mà diện tích rừng tăng nhanh, đặc biệt đã trồng thêm hơn 38.000 ha rừng sản xuất, đưa độ che phủ rừng từ 47,7% năm 2006 lên 53,23% năm 2011 (bình quân cả nước 40,0 %), góp phần to lớn cho phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái của tỉnh.

Giá trị kinh tế từ rừng ngày càng được khẳng định. Giá trị sản xuất và xuất khẩu tăng nhanh, năm 2006 giá trị sản xuất theo giá so sánh đạt 187 tỷ đồng, xuất khẩu đạt 10,2 triệu USD thì đến năm 2010 giá trị sản xuất đạt 210,43 tỷ đồng (chiếm 9,5 % giá trị SX Nông nghiệp và bằng 1,4 % GDP của tỉnh), giá trị xuất khẩu đạt 32,3 triệu USD, chiếm 51,7 % tổng giá trị xuất khẩu của tỉnh.

Hoạt động bảo vệ, phát triển rừng đã giải quyết việc làm cho hơn 40.000 lao động, tăng thu nhập cho nhân dân vùng rừng, góp phần xóa đói, giảm nghèo, ổn định đời sống, từ đó góp phần làm giảm áp lực xâm hại rừng.



2. Quy hoạch 3 loại rừng được xác lập đáp ứng yêu cầu chiến lược phát triển lâm nghiệp, quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cũng đã được xây dựng từ cấp tỉnh đến tất cả các huyện, đây là cơ sở quan trọng thúc đẩy phát triển lâm nghiệp của tỉnh

Thực hiện Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg ngày 5/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng, Hà Tĩnh là tỉnh đầu tiên của cả nước được Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1404/QĐ-TTg ngày 30/10/2006. Đến nay sau 5 năm thực hiện, quy hoạch đã được đánh giá có tầm chiến lược, phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, phục vụ tốt cho việc quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh. Quy hoạch 3 loại rừng đã xác lập được các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn, phòng hộ cảnh quan môi trường, chắn sóng chắn cát ven biển và phòng hộ chắn sóng ven sông; rừng được giao cho các Ban quản lý rừng và các tổ chức quản lý bảo vệ và phát triển góp phần to lớn bảo vệ môi tường sinh thái, hạn chế thiên tai. Rừng sản xuất tăng nhanh đã tạo thành các khu rừng liền vùng, liền khoảnh; các tổ chức hộ gia đình đã tích cực thuê và nhận đất nhận rừng để đầu tư phát triển sản xuất.

Trên cơ sở quy hoạch 3 loại rừng, đã xây dựng quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng cấp tỉnh, cấp huyện giai đoạn 2008 – 2020 được Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt. Các quy hoạch được phê duyệt là cơ sở pháp lý và là cẩm nang phục vụ cho các cấp trong quản lý, điều hành, chỉ đạo về bảo vệ, phát triển rừng của Tỉnh trong những năm qua. Quá trình thực hiện quy hoạch đã góp phần quan trọng trong việc khai thác tiềm năng lợi thế về rừng, đất rừng cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường, hạn chế thiên tai, giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo ở nông thôn, miền núi, cung cấp lâm sản đáp ứng nhu cầu dân sinh và xuất khẩu…vv.

3. Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý được xác lập từ tỉnh đến huyện, xã và chủ rừng, đóng góp tích cực cho sự nghiệp bảo vệ phát triển rừng trong những năm qua

Ở cấp tỉnh Sở Nông nghiệp và PTNT là cơ quan tham mưu cho UBND tỉnh quản lý Nhà nước về Lâm nghiệp, tham mưu cho Giám đốc Sở có 2 chi cục là Lâm nghiệp và Kiểm lâm với đầy đủ phòng ban chuyên môn, Chi cục Kiểm lâm còn có một đội kiểm lâm cơ động và PCCCR hoạt động kiểm tra, kiểm soát lâm sản và PCCCR. Ở cấp huyện có Hạt Kiểm lâm và Phòng Nông nghiệp&PTNT tham mưu cho UBND huyện quản lý Nhà nước về lâm nghiệp trên địa bàn huyện, các hạt Kiểm lâm có các trạm Kiểm lâm địa bàn để kiểm tra, giám sát hoạt động bảo vệ rừng. Ở cấp xã có cán bộ Kiểm lâm địa bàn tham mưu cho Chủ tịch UBND xã quản lý Nhà nước về lâm nghiệp.

Cơ bản các khu rừng phòng hộ, đặc dụng tập trung đều có Ban quản lý rừng, với các phòng chuyên môn để quản lý rừng, các trạm bảo vệ rừng chốt giữ ở những vị trí trọng yếu để bảo vệ rừng, các Ban còn bố trí lực lượng hoạt động sản xuất cung ứng cây giống cho phát triển rừng và tham gia thực hiện các chương trình, dự án. Các khu rừng sản xuất tập trung do các Công ty quản lý đã bố trí đầy đủ phòng, ban làm công tác quản lý, chỉ đạo và bố trí các trạm bảo vệ cửa rừng. Ngoài ra còn có các đơn vị, tổ chức khác như Quân đội, Đoàn thanh niên, hợp tác xã,...được giao đất, giao rừng để quản lý, bảo vệ và phát triển.

Như vậy, cơ bản hệ thống tổ chức bộ máy về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh đã phủ kín, không còn bỏ trống nhiệm vụ. Các ban quản lý rừng, các công ty vừa thực hiện chức năng chính còn có vai trò là các đầu mối để tiến hành chỉ đạo, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách về lâm nghiệp, hoạt động dịch vụ kỹ thuật, vật tư, giống, chế biến và tiêu thụ sản phẩm cho nông dân trong phát triển rừng, phát triển kinh tế trang trại. Hệ thống bộ máy quản lý trên đã phát huy vai trò, đóng góp tích cực cho sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh.



4. Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật được quan tâm làm thường xuyên, có chất lượng

Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật được các cấp, các ngành quan tâm, chỉ đạo thực hiện thường xuyên, có trọng tâm, trọng điểm với nội dung, hình thức đa dạng, nên thu hút được nhiều thành phần, đối tượng tham gia.

Từ năm 2006 đến tháng 8 năm 2011 đã tổ chức được 2.817 cuộc tuyên truyền, phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật trên đài phát thanh truyền hình tỉnh, huyện, truyền thanh các xã và tuyên truyền lưu động tại các thôn, xóm; tổ chức nói chuyện chuyên đề, thi tìm hiểu và ký 367.254 bản cam kết về BVR-PCCCR với học sinh của 1.618 trường; tổ chức ký 286.459 bản cam kết bảo vệ rừng ở 2.618 thôn; tổ chức diễn tập 101 cuộc PCCCR (tỉnh 5 cuộc; huyện, xã 96 cuộc); 135 cuộc tập huấn nghiệp vụ cho các đối tượng là lãnh đạo, cán bộ các huyện, xã và lực lượng bảo vệ rừng, với trên 10.000 người tham gia; xây dựng, tu sữa 1.200 biển tường, biển báo, 5.000 pa nô, áp phích, in ấn 40.000 tờ rơi, tờ bướm các loại.

Ngoài ra, trong những ngày nắng nóng, khả năng cháy rừng cao đã xây dựng các bản tin cảnh báo nguy cơ cháy rừng để phát trên truyền hình tỉnh, huyện và truyền thanh các xã nhằm cảnh báo cho chủ rừng, chính quyền địa phương, các hộ gia đình có biện pháp phòng ngừa, chủ động phương án huy động lực lượng, phương tiện ứng cứu khi xảy ra cháy rừng.

Thông qua hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật nhận thức về bảo vệ và phát triển rừng trong cộng đồng dân cư đã được nâng lên rõ rệt, góp phần xã hội hóa công tác lâm nghiệp.

5. Việc xử lý các vụ việc vi phạm đảm bảo kịp thời, đúng pháp luật, không để xảy ra khiếu kiện

Từ năm 2006 đến tháng 8 năm 2011 các cấp, các ngành đã phát hiện xử lý 4.431 vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ và phát triển rừng, trong đó khởi tố hình sự 13 vụ với 17 bị can, tịch thu trên 7.649 m3 gỗ các loại và 8.071 kg động vật rừng, 145 phương tiện các loại. Việc xử lý các hành vi vi phạm được thực hiện đảm bảo kịp thời, đúng người, đúng hành vi, đúng pháp luật, không để xảy ra sai sót dẫn đến khiếu nại, khiếu kiện. Nhiều đối tượng sau khi bị xử lý đã từ bỏ hành vi xâm hại rừng, chuyển sang việc làm mới, tham gia bảo vệ rừng, qua đây có tác dụng giáo dục, răn đe các đối tượng khác.



6. Cơ bản diện tích rừng và đất rừng đã có chủ quản lý, đã được cấp giấy chứng nhận QSDD và đóng mốc ranh giới quản lý

Thực hiện chủ trương giao đất gắn với giao rừng, đến nay toàn tỉnh đã giao 312.153 ha/362.740,9 ha rừng và đất lâm nghiệp, đạt 86%, trong đó 9 ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng quản lý 174.894 ha; 2 đơn vị sản xuất kinh doanh rừng tự nhiên quản lý 60.665 ha; 10 đơn vị và tổ chức kinh doanh quản lý 43.469 ha và 13.999 hộ gia đình, cá nhân quản lý 33.125 ha. Số diện tích còn lại đang do UBND các xã quản lý là 50.450 ha. Hầu hết các tổ chức, hộ gia đình được giao đất, thuê đất gắn với giao rừng, thuê rừng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; các chủ rừng Nhà nước được đóng mốc ranh giới trên thực địa.



7. Đã áp dụng nhiều giải pháp kỹ thuật lâm sinh, ứng dụng có hiệu quả khoa học công nghệ trong sản xuất cây giống, trồng, chăm sóc, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng...vv, nhằm nâng cao độ che phủ cũng như chất lượng rừng

Trong trồng rừng đã lựa chọn cơ cấu cây trồng phù hợp với từng điều kiện lập địa của từng vùng, từng lô, khoảnh cụ thể. Các giống mới được tạo từ mô, hom có chất lượng như cây Keo lai, Bạch đàn lai đã được đưa vào trồng rừng nguyên liệu, qua thực tiễn cho thấy rừng sinh trưởng nhanh, đồng đều, sinh khối tương đối khá, năng suất rừng trồng từ chổ 5 - 7 m3/ha/năm đã tăng lên 10-15 m3/ha/năm; cây cao su đã được đưa vào trồng trên đất lâm nghiệp với diện tích trên 5.000 ha góp phần to lớn chuyển dịch cơ cấu cây trồng, đem lại hiệu quả kinh tế cao; các loài cây bản địa như Lim, De, Cồng…vv đã được đưa vào trồng nâng cấp rừng phòng hộ, trồng làm giàu rừng và tra dặm trong khoanh nuôi góp phần tăng độ tàn che, nâng cao tính bền vững, tăng giá trị và đa dạng sinh học cho rừng. Qua các mô hình trồng rừng bằng các loài cây bản địa như: Mô hình trồng 21 ha cây Lim xanh, cây Dó Trầm ở Truông Bát; 28 ha rừng Dó Trầm, Trám Trắng ở huyện Hương Sơn; 250 ha mô hình trồng bổ sung cây bản địa dưới tán rừng trồng của các hộ dân xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn; mô hình trồng nâng cấp rừng phòng hộ bằng các loài cây bản địa ở Ban quản lý KBTN Kẻ Gỗ (770 ha) cho thấy việc trồng rừng, trồng nâng cấp rừng bằng các loài cây bản địa đã làm thay đổi cấu trúc tầng tán, tăng khả năng phòng hộ bền vững của rừng và đây là hướng đi đúng cần thực hiện trong thời gian tới.

Trong Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng đã áp dụng việc luỗng phát dây leo, bụi rậm, kết hợp trồng bổ sung cây bản địa, điều tiết mật độ cây tái sinh…vv, góp phần nâng cao chất lượng rừng, đây là một giải pháp lâm sinh đã mang lại hiệu quả cao trong nâng cao chất lượng rừng và duy trì đa dạng sinh học.

Công tác giống đã được quan tâm tích cực, đã lựa chọn được tập đoàn giống đảm bảo chất lượng bao gồm cả cây bản địa và cây nhập nội cho trồng, khoanh nuôi, làm giàu rừng và thực hiện quản lý giống theo chuỗi hành trình, cấp chứng chỉ lô giống theo quy định của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Một số loài giống năng suất cao đã được trồng và nhân rộng ở Hà Tĩnh như Keo lai BV10, BV 16, Bạch đàn Urô… gần đây đã đưa một số loài giống mới vào trồng mô hình như Keo lai BV33, Keo chịu hạn, Tràm bán ngập nước…



II. NHỮNG HẠN CHẾ, YẾU KÉM

1. Rừng tự nhiên tiếp tục bị suy giảm cả về diện tích, chất lượng và đa dạng sinh học

Năm 2006 toàn tỉnh có 214.958 ha rừng tự nhiên, chiếm 71,74 % diện tích có rừng. Từ đó đến nay nhờ áp dụng các biện pháp khoanh nuôi xúc tiến tái sinh, làm giàu rừng nên đã có trên 7.800 ha rừng tự nhiên mới được hình thành. Tuy nhiên, trong thời gian qua do yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nên có một số diện tích rừng tự nhiên phải chuyển đổi mục đích sử dụng sang làm thủy điện, thủy lợi, khu tái định cư, đường tuần tra biên giới… và chuyển rừng tự nhiên nghèo sang trồng cao su. Đến hết năm 2010 toàn tỉnh còn 210.083 ha rừng tự nhiên, giảm 4.875 ha so với năm 2006.

Trước đây trong rừng tự nhiên các loài gỗ quí như Lim, Sến, Dổi … đủ điều kiện khai thác còn tương đối nhiều, nhưng hiện nay còn lại rất ít, chất lượng rừng đã giảm sút đáng kể, diện tích rừng giàu còn lại ít và ở vùng cao, sâu, những vùng thuận lợi cho sản xuất kinh doanh chủ yếu còn lại rừng nghèo và trung bình có giá trị kinh tế không cao.

Cùng với việc khai thác gỗ trái phép thì tình trạng săn bắt động vật rừng trái phép và khai thác dược liệu, lâm sản ngoài gỗ quá mức, tùy tiện, thiếu kiểm soát đã làm cho hệ sinh thái rừng bị suy giảm nghiêm trọng, nhiều loài động, thực vật quý đang có nguy cơ tuyệt chủng.



2. Công tác quản lý, chỉ đạo thực hiện quy hoạch chưa đáp ứng yêu cầu

Nhiều quy hoạch về phát triển lâm nghiệp đã được phê duyệt nhưng khi có nhu cầu phát triển trên các lĩnh vực khác thì phải điều chỉnh, làm cho quy hoạch lâm nghiệp bị xáo trộn, trở thành thứ yếu so với quy hoạch các ngành khác. Mặt khác quá trình chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ về bảo vệ, phát triển rừng ở các cấp vẫn còn chưa theo sát mục tiêu, nhiệm vụ quy hoạch đặt ra. Nhiều chương trình, nhiệm vụ, giải pháp đã đưa ra trong quy hoạch nhưng chưa cụ thể hóa bằng các hoạt động cụ thể, thiếu sự quan tâm chỉ đạo thực hiện và thiếu nguồn lực đầu tư nên kết quả thực hiện chưa đạt mục tiêu đề ra ban đầu. Bên cạnh đó hàng năm chưa xây dựng kế hoạch để thực hiện việc giám sát đánh giá tình hình thực hiện quy hoạch nhằm có biện pháp điều chỉnh, chỉ đạo kịp thời.



3. Việc giao, cho thuê, khoán rừng, đất rừng vẫn còn nhiều bất cập, hạn chế

Việc giao đất, giao rừng trước đây còn có sự chồng chéo, trùng lặp giữa hộ gia đình với tổ chức, giữa tổ chức với tổ chức, hồ sơ giao đất cho hộ thiếu rõ ràng, khó nhận biết trên thực địa (bản đồ không có tọa độ, không mô tả rõ ràng), rừng được giao nhưng chưa đánh giá chất lượng, trữ lượng và giá trị nên gây khó khăn cho công tác quản lý, đầu tư phát triển rừng.

Phần lớn rừng và đất rừng đang do các chủ rừng Nhà nước quản lý sử dụng với 279.028 ha, chiếm 77% tổng diện tích quy hoạch lâm nghiệp, thực tế này là chưa phù hợp với chủ trương xã hội hóa lâm nghiệp. Trong khi chỉ giao được cho 13.999 hộ gia đình với 33.125 ha (bình quân 2,36 ha/hộ), chỉ chiếm 9,1% tổng diện tích quy hoạch cho lâm nghiệp, diện tích giao cho các doanh nghiệp ngoài quốc doanh là chưa đáng kể.

Sau khi rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng theo Chỉ thị 38/CT-TTg đã phát sinh bất cập về cơ cấu diện tích sử dụng rừng, đất rừng:

Các đơn vị sản xuất kinh doanh nhưng được giao quản lý nhiều rừng phòng hộ (như ở Công ty TNHH một thành viên Lâm nghiệp và dịch vụ Hương Sơn trên 24.000 ha, Chúc A trên 9.000 ha). Diện tích rừng phòng hộ được giao lớn không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, thiếu sự đầu tư của Nhà nước, doanh nghiệp phải lấy từ hiệu quả sản xuất kinh doanh để bảo vệ rừng tạo nên gánh nặng cho DN, từ đó công tác bảo vệ rừng có phần hạn chế và làm giảm vai trò, hiệu quả SXKD.

Các ban quản lý rừng phòng hộ, đặc dụng được giao quản lý đất rừng sản xuất lớn (như Ban QL khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ 5.403 ha, Ban quản lý rừng Phòng hộ Ngàn Sâu 7.616 ha, Nam Hà Tĩnh 11.625 ha,...). Diện tích rừng sản xuất được giao lớn, không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, lại thiếu nguồn lực đầu tư nên chưa phát huy hết tiềm năng, lợi thế của rừng, đất rừng và có phần làm giảm vai trò quản lý, bảo vệ rừng phòng hộ, đặc dụng.

Trong khi các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu được giao, thuê đất, rừng để sản xuất, kinh doanh, nhưng việc tổ chức giao rừng cho hộ gia đình cá nhân quá chậm, hiện nay vẫn còn khoảng 50.450 ha rừng và đất lâm nghiệp đang do UBND các xã quản lý, chiếm 14 % tổng diện tích đất lâm nghiệp (trong đó có 39.746 ha quy hoạch sản xuất), tập trung chủ yếu ở huyện Hương Sơn, Hương Khê, Kỳ Anh và Vũ Quang.

Việc khoán rừng và đất lâm nghiệp ở một số đơn vị chủ rừng còn chưa thực hiện đúng quy định, công tác quản lý hồ sơ còn thiếu chặt chẽ; quyền, nghĩa vụ và chính sách hưởng lợi giữa bên giao khoán và bên nhận khoán chưa được xác lập rõ ràng, nên hiệu quả bảo vệ và phát triển rừng chưa cao.



4. Việc điều tra, kiểm kê, thống kê, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng chưa được quan tâm đúng mức, chất lượng số liệu còn thiếu độ tin cậy

Công tác kiểm kê, thống kê, theo dõi diễn biến tài nguyên rừng mới chỉ dừng lại ở việc thống kê, báo cáo, chưa có chương trình điều tra, kiểm kê, ứng dụng các phần mềm vào thống kê, theo dõi diễn biến rừng hàng năm.

Các cấp, các ngành chưa quan tâm đầu tư kinh phí, trang thiết bị cho công tác kiểm kê, theo dõi diễn biến rừng nên công tác theo dõi diễn biến rừng hàng năm đang dừng lại ở mức độ thống kê, báo cáo nên số liệu thiếu tin cậy. Năm 2005, UBND tỉnh Hà Tĩnh đã phê duyệt dự án theo dõi diễn biến rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn (Quyết định số 2605/QĐ/UBND- NL2) với tổng kinh phí 1,73 tỷ đồng, nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện được vì thiếu kinh phí.

Số liệu về hiện trạng tài nguyên rừng đến nay sau 12 năm chưa được kiểm kê lại nên phải kế thừa từ số liệu gốc kiểm kê năm 1999, hàng năm có bổ sung, cập nhật ở những vùng có biến động lớn và vùng có đầu tư khảo sát xây dựng phương án, đề án, dự án nhưng độ tin cậy không cao. Do vậy, các cơ quan quản lý, các chủ rừng không nắm chắc chất lượng, trữ lượng rừng được giao quản lý, gây khó khăn cho công tác kiểm tra, quản lý của các cấp.



5. Tình trạng khai thác, vận chuyển, buôn bán, chế biến lâm sản trái phép và lấn chiếm rừng, đất rừng vẫn xảy ra thường xuyên, có nơi nghiêm trọng

Nhìn chung, tình trạng khai thác, vận chuyển, buôn bán, chế lâm sản trái phép diễn ra nhiều nơi trên địa bàn tỉnh, với nhiều hình thức, mức độ khác nhau. Từ 2006 đến tháng 8 năm 2011 trên địa bàn toàn tỉnh đã xử lý 4.431 vụ vi phạm, tịch thu 7.649 m3 gỗ các loại và 8.071 kg động vật rừng, trong đó số vụ vi phạm trong tỉnh 4.226 vụ, chiếm 95,4 %, gồm: vi phạm về khai thác, vận chuyển 3.914 vụ, chế biến 312 vụ. Các huyện có số vụ vi phạm nhiều là Hương Sơn (Sơn Hồng, Sơn Kim I), Hương Khê (Hương Lâm, Phú Gia) và Vũ Quang (Hương Quang), Kỳ Anh (Kỳ Sơn, Kỳ Thượng). Một số vụ vi phạm có tính chất nghiêm trọng, như vụ tập kết gỗ trái phép có số lượng lớn tại xã Kỳ Sơn, huyện Kỳ Anh (năm 2009), tại xã Sơn Hồng, huyện hương Sơn năm 2011, năm 2012...nhưng chủ rừng, chính quyền địa phương, đặc biệt là cấp xã không biết; việc buôn bán, chế biến gỗ không rõ nguồn gốc xảy ra tại một số nơi như: xã Hương Lâm huyện Hương Khê, Thái Yên ở Đức Thọ,... Hầu hết các vụ việc nêu trên khi các cơ quan chức năng kiểm tra phát hiện, các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin, khi đó chủ rừng và chính quyền địa phương các xã mới vào cuộc. Nhiều nơi người dân xem việc khai thác gỗ trái phép như là một nghề làm ăn và thậm chí tổ chức cả một số đông để thực hiện, nhưng chính quyền xã thiếu kiểm soát và không có biện pháp chấn chỉnh. Bên cạnh đó, tình hình chống người thi hành công vụ xảy ra nhiều và ngày càng nghiêm trọng. Hành vi chống đối của lâm tặc ngày càng côn đồ và có tính chất nghiêm trọng hơn như tổ chức đông người để bao vây cướp tang vật, tấn công, đe dọa tính mạng người làm công tác bảo vệ rừng (chém lực lượng bảo vệ rừng, ném mìn đe dọa tính mạng gia đình cán bộ như ở Khu BTTN Kẻ Gỗ, Vườn Quốc Gia Vũ Quang; phá hoại phương tiện của các lực lượng bảo vệ rừng tại Sơn Lĩnh, Sơn Hồng,...).

Những năm gần đây, do sức ép về nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng, nên nhân dân đã tự ý xâm hại, lấn chiếm rừng, đất rừng để phát triển kinh tế. Toàn tỉnh đã xảy ra 180 vụ xâm hại, lấn chiếm rừng, đất rừng trái phép với diện tích 87 ha để trồng rừng, trồng cây nguyên liệu làm thiệt hại đến tài nguyên rừng (chủ yếu tại huyện Kỳ Anh). Song do chủ động nắm bắt tình hình, các cấp, các ngành, chủ rừng đã phát hiện và xử lý kịp thời nên đến nay tình hình lấn chiếm rừng, đất rừng cơ bản đã được chấn chỉnh.



tải về 236.89 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
  1   2   3   4




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2023
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương