HIỆP ĐỊnh mua sắm chính phủ Lời nói đầu



tải về 206.07 Kb.
trang1/2
Chuyển đổi dữ liệu05.08.2016
Kích206.07 Kb.
#13642
  1   2
HIỆP ĐỊNH

MUA SẮM CHÍNH PHỦ

Lời nói đầu

Các nước tham gia Hiệp định này (sau đây được gọi là các Nước thành viên),

Công nhận nhu cầu thiết lập một khuôn khổ đa phương hiệu quả về quyền và nghĩa vụ liên quan tới luật lệ, qui định, thủ tục và việc thực thi các hoạt động mua sắm chính phủ nhằm tiến tới việc mở rộng sự tự do hoá, mở rộng thương mại thế giới và tăng cường khuôn khổ quốc tế cho các hoạt động thương mại thế giới;

Công nhận rằng không nên xây dựng, thông qua hoặc áp dụng luật lệ, qui định, thủ tục và việc thực thi các hoạt động mua sắm chính phủ đối với hàng hoá nội địa và nước ngoài hoặc đối với nhà thầu trong nước hoặc nhà thầu nước ngoài để nhằm bảo hộ hàng hoá, dịch vụ và nhà thầu trong nước và không được phân biệt đối xử giữa các hàng hoá hoặc các nhà thầu nước ngoài;

Công nhận sự cần thiết trong việc tạo ra luật lệ, qui định, thủ tục và việc thực thi các hoạt động mua sắm chính phủ minh bạch;

Công nhận nhu cầu thiết lập thủ tục quốc tế về việc thông báo, tham vấn, giám sát và giải quyết kiến nghị nhằm đảm bảo việc thực thi các qui định quốc tế về mua sắm chính phủ một cách bình đẳng, nhanh chóng và hiệu quả và nhằm duy trì sự cân bằng quyền lợi và nghĩa vụ ở mức cao nhất có thể;

Công nhận sự cần thiết phải xem xét nhu cầu phát triển, tài chính và thương mại của các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước kém phát triển nhất.

Mong muốn mở rộng và cải tiến Hiệp định này trên cơ sở nhân nhượng giữa các nước thành viên và mong muốn mở rộng phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này để bao gồm hợp đồng dịch vụ, phù hợp với khoản 6(b) Điều IX của Hiệp định mua sắm chính phủ ký ngày 14 Tháng 4 năm 1979 và được sửa đổi ngày mùng 2 Tháng 2 năm 1987,

Mong muốn khuyến khích các quốc gia không phải là các Nước thành viên của Hiệp định này chấp nhận và gia nhập Hiệp định;

Các nước thành viên đã tiến hành đàm phán theo các mục tiêu trên đây;



Dưới đây thoả thuận như sau:


Điều I

Phạm vi điều chỉnh

1. Hiệp định này áp dụng với bất kỳ luật lệ, qui định, thủ tục và việc thực thi nào liên quan tới mua sắm bởi chủ đầu tư thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này, như quy định tại Phụ lục I5.

2. Hiệp định này áp dụng cho việc mua sắm dưới bất kỳ hình thức hợp đồng nào, bao gồm các hình thức như mua, thuê hoặc thuê mua, với ý định hoặc không có ý định mua lại, bao gồm cả các gói thầu kết hợp cung cấp hàng hóa và dịch vụ.

3. Khi chủ đầu tư, với việc mua sắm thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này, yêu cầu các doanh nghiệp không nằm trong Phụ lục I trao hợp đồng theo quy định riêng, sẽ áp dụng Điều 3 với những sửa đổi thích hợp cho các quy định này.

4. Hiệp định này áp dụng cho các gói thầu có giá gói thầu không thấp hơn ngưỡng giá gói thầu quy định tại Phụ lục I.

Điều II

Xác định giá gói thầu

1. Các điều khoản sau đây sẽ được áp dụng để xác định giá trị của các gói thầu6 thực hiện lựa chọn nhà thầu theo Hiệp định này.

2. Việc xác định giá trị cần tính toán tất cả các khoản phải trả, bao gồm tất cả các khoản như phí bảo hiểm, lệ phí, hoa hồng, và tiền lãi.

3. Chủ đầu tư không được lựa chọn cách thức xác định giá gói thầu hoặc không được chia nhỏ gói thầu, để nhằm mục đích tránh áp dụng Hiệp định này.

4. Nếu một hoạt động mua sắm độc lập dẫn tới việc ký kết nhiều hơn một hợp đồng, hoặc dẫn đến các hợp đồng được trao cho các nhà thầu theo nhiều phần riêng biệt, cơ sở để xác định giá gói thầu được thực hiện theo một trong hai cách sau :

a) Giá trị thực tế của hợp đồng mua sắm thường xuyên tương tự được ký kết trong năm tài chính trước đó hoặc được điều chỉnh sau 12 tháng, khi có thể, để tiên liệu những thay đổi về số lượng hoặc giá trị trong 12 tháng tiếp theo ; hoặc

b) Giá trị ước tính của hợp đồng mua sắm thường xuyên trong năm tài chính hoặc 12 tháng tiếp theo kể từ hợp đồng gốc ban đầu.

5. Trong trường hợp gói thầu thuê hoặc thuê mua hàng hóa, dịch vụ, hoặc gói thầu mà không xác định rõ tổng giá gói thầu, cơ sở tính toán giá gói thầu sẽ là:

(a) Trường hợp hợp đồng đối với gói thầu cố định về thời gian, nếu thời gian thực hiện hợp đồng từ 12 tháng trở xuống, giá gói thầu là tổng giá trị hợp đồng cho toàn bộ thời gian hợp đồng, hoặc nếu thời gian thực hiện hợp đồng lớn hơn 12 tháng, giá gói thầu là tổng giá trị hợp đồng bao gồm giá trị còn lại ước tính của hàng hóa, dịch vụ;

(b) Trường hợp hợp đồng đối với gói thầu không xác định thời hạn, giá gói thầu bằng giá trị thanh toán hàng tháng nhân với 48.

Trường hợp có nghi ngờ rằng hợp đồng này là hợp đồng cố định về thời gian thì áp dụng cách thức xác định giá gói thầu thứ hai, tức là theo khoản b.

6. Trường hợp trong gói thầu nêu rõ khả năng có thể mua thêm, cơ sở xác định giá gói thầu là tổng giá trị của hoạt động mua sắm tối đa cho phép, bao gồm cả hoạt động có thể mua thêm.



Điều III

Đối xử quốc gia và không phân biệt đối xử

1. Đối với tất cả luật lệ, qui định, thủ tục và việc thực thi liên quan tới mua sắm chính phủ thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này, mỗi nước thành viên sẽ đối xử, ngay lập tức và vô điều kiện cho hàng hóa, dịch vụ và nhà thầu của các nước thành viên khác cung cấp hàng hóa, dịch vụ của các nước này, không kém thuận lợi hơn so với:

(a) Hàng hóa, dịch vụ và nhà thầu trong nước; và

(b) Hàng hóa, dịch vụ và nhà thầu của bất kỳ nước thành viên nào khác.

2. Đối với tất cả luật lệ, qui định, thủ tục và việc thực thi liên quan tới mua sắm chính phủ thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này, mỗi nước thành viên sẽ đảm bảo:

(a) Chủ đầu tư của nước mình sẽ không đối xử với một nhà thầu trong nước kém thuận lợi hơn với một nhà thầu trong nước khác căn cứ vào mức độ sở hữu hoặc liên doanh với nước ngoài; và

(b) Chủ đầu tư của nước mình sẽ không phân biệt các nhà thầu được thành lập ở trong nước trên cơ sở nước xuất xứ của hàng hóa hoặc dịch vụ được cung cấp, với điều kiện nước xuất xứ là một thành viên của Hiệp định này phù hợp với quy định tại Điều IV.

3. Các qui định tại khoản 1 và khoản 2 sẽ không áp dụng với thuế xuất nhập khẩu, phí, lệ phí hải quan và các loại phí, lệ phí khác liên quan tới việc nhập khẩu, phương pháp đánh thuế và phí, lệ phí, các qui định và thủ tục nhập khẩu khác và các biện pháp ảnh hưởng tới thương mại ngoài luật lệ, quy định, thủ tục và việc thực thi mua sắm chính phủ thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này.



Điều IV

Quy tắc xuất xứ

1. Các nước thành viên sẽ không áp dụng qui tắc xuất xứ đối với hàng hóa, dịch vụ được nhập khẩu hoặc được cung cấp theo các hoạt động


mua sắm chính phủ thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này từ các nước thành viên khác mà quy tắc xuất xứ này khác
với qui tắc xuất xứ áp dụng trong giao dịch thương mại thông thường và vào thời điểm đang giao dịch để nhập khẩu hoặc cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ cùng loại từ các nước thành viên tương tự.

2. Tiếp theo kết luận về chương trình làm việc để hài hòa hóa quy tắc xuất xứ đối với hàng hóa nhằm thực hiện theo Hiệp định về quy tắc xuất xứ nêu tại Phụ lục 1A của Hiệp định Thiết lập Tổ chức Thương mại Quốc tế (sau đây gọi là “Hiệp định WTO”) và việc đàm phán về thương mại đối với dịch vụ, các nước thành viên sẽ xem xét kết quả của chương trình làm việc này và những cuộc đàm phàn nói trên trong việc sửa đổi khoản 1 khi thích hợp.



Điều V

Đối xử đặc biệt và khác biệt dành cho các nước đang phát triển

Mục tiêu

1. Trong việc thực hiện và quản trị Hiệp định này, theo các qui định tại Điều này, các nước thành viên sẽ xem xét thấu đáo nhu cầu phát triển, tài chính và thương mại của các nước đang phát triển, đặc biệt là các nước kém phát triển nhất nhằm để các nước đang phát triển:

(a) Bảo vệ khả năng của cán cân thanh toán và bảo đảm đủ mức dự trữ ngoại hối cho việc thực hiện các chương trình phát triển kinh tế;

(b) Thúc đẩy việc thành lập hoặc phát triển ngành công nghiệp nội địa bao gồm việc phát triển ngành công nghiệp qui mô nhỏ và thủ công ở vùng nông thôn hoặc khu vực lạc hậu; và phát triển kinh tế trong các lĩnh vực khác của nền kinh tế;

(c) Hỗ trợ các cơ sở công nghiệp nếu các cơ sở này hoàn toàn hoặc về cơ bản dựa vào thị trường mua sắm chính phủ;

(d) Khuyến khích sự phát triển kinh tế thông qua các thỏa thuận khu vực hoặc toàn cầu giữa các nước đang phát triển được trình bày tại Hội nghị Bộ trưởng của Tổ chức Thương mại Thế giới (sau đây gọi là “WTO”) và không bị phản đối bởi Hội nghị này.

2. Phù hợp với các qui định của Hiệp định này, trong việc chuẩn bị và áp dụng các luật lệ, qui định và thủ tục ảnh hưởng tới việc mua sắm chính phủ, các nước thành viên sẽ tạo thuận lợi cho việc tăng nhập khẩu từ các nước đang phát triển với lưu ý về những vấn đề đặc biệt của các nước kém phát triển nhất và những nước ở trình độ phát triển kinh tế thấp.

Phạm vi

3. Nhằm đảm bảo các nước đang phát triển có thể tham gia vào Hiệp định này theo các điều khoản phù hợp với nhu cầu phát triển, tài chính và thương mại của mình, các mục tiêu nêu ra trong khoản 1 ở trên sẽ được xem xét thấu đáo trong quá trình đàm phán về bản chào mở cửa thị trường mua sắm chính phủ của các nước đang phát triển về hoạt động mua sắm thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này. Các nước phát triển, trong việc chuẩn bị bản chào về các hoạt động mua sắm thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này, sẽ nỗ lực đưa vào danh sách các chủ đầu tư mua hàng hóa và dịch vụ mà các nước đang phát triển quan tâm xuất khẩu.



Ngoại lệ được thoả thuận

4. Các nước đang phát triển có thể đàm phán với các nước khác trong quá trình đàm phán Hiệp định này để cùng có thể chấp nhận các ngoại lệ so với các qui định về đối xử quốc gia cho một số chủ đầu tư, hàng hóa và dịch vụ nhất định có trong bản chào của mình, xét tới tình huống cụ thể cho mỗi trường


hợp. Trong các cuộc đàm phán này, những cân nhắc nêu tại khoản 1 (a) đến 1 (c) ở trên sẽ
được xem xét thích đáng. Một nước đang phát triển tham gia vào thoả thuận khu vực hoặc toàn cầu giữa các nước đang phát triển nêu tại khoản 1 (d) ở trên cũng có thể đàm phán các ngoại lệ đối với bản chào của mình, xét tới tình huống cụ thể cho mỗi trường hợp và tính tới các qui định về mua sắm chính
phủ dành cho các thoả thuận khu vực hoặc toàn cầu có liên quan và đặc biệt tính tới hàng hóa hoặc dịch vụ có thể phụ thuộc vào các chương trình phát triển công nghiệp chung.

5. Sau khi Hiệp định có hiệu lực, mỗi nước thành viên là nước đang phát triển có thể sửa đổi bản chào của mình phù hợp với các qui định về việc sửa đổi bản chào qui định tại khoản 6 của


Điều XXIV, có xem xét tới sự phát triển, nhu cầu tài chính và thương mại
hoặc có thể đề nghị Ủy ban mua sắm chính phủ (sau đây gọi là “Ủy ban”) dành ngoại lệ đối với các qui định về đối xử quốc gia cho một số chủ đầu tư, hàng hóa và dịch vụ nhất định có mặt trong bản chào của mình, xét tới tình huống cụ thể cho mỗi trường hợp và cân nhắc quy định nêu tại khoản 1 (a) đến 1 (c).

Sau khi Hiệp định có hiệu lực, mỗi nước thành viên là nước đang phát triển có thể đề nghị Ủy ban dành ngoại lệ đối với cho một số chủ đầu tư, hàng hóa và dịch vụ nhất định có mặt trong bản chào của mình phù hợp với sự tham gia vào các thỏa thuận khu vực và toàn cầu giữa các nước đang phát triển, xét tới tình huống cụ thể cho mỗi trường hợp và cân nhắc quy định nêu tại khoản 1 (d). Mỗi một đề nghị của thành viên là nước đang phát triển liên quan tới sửa đổi bản chào sẽ đi kèm với các tài liệu liên quan tới đề nghị này hoặc các thông tin cần thiết để xem xét đề nghị này.

6. Khoản 4 và 5 được áp dụng với những sửa đổi hình hoạt đối với các nước đang phát triển gia nhập Hiệp định này sau khi Hiệp định có hiệu lực.

7. Những loại trừ đã thỏa thuận như trên nêu tại khoản 4, 5 và 6 sẽ được rà soát theo các qui định tại khoản 14 dưới đây.



Trợ giúp kỹ thuật dành cho các nước thành viên là nước đang phát triển

8. Theo đề nghị, các nước thành viên là nước phát triển sẽ cung cấp trợ giúp kỹ thuật phù hợp với các nước thành viên là các nước đang phát triển trong việc giải quyết các vấn đề về mua sắm chính phủ.

9. Trợ giúp này, được cung cấp trên cơ sở không phân biệt đối xử giữa các nước thành viên là nước đang phát triển, sẽ liên quan, với những sửa đổi linh hoạt, tới:

a) Giải pháp về các vấn đề kỹ thuật cụ thể liên quan tới việc trúng thầu một hợp đồng cụ thể; và

b) Bất kỳ vấn đề nào khác mà nước đề nghị và nước khác đồng ý giải quyết trong trường hợp có sự trợ giúp.

10. Hỗ trợ kỹ thuật đề cập tại khoản 8 và khoản 9 nêu trên bao gồm việc biên dịch hồ sơ sơ tuyển và hồ sơ dự thầu của nhà thầu của nước thành viên là nước đang phát triển sang ngôn ngữ chính thức của WTO bởi chủ đầu tư, trừ phi các nước phát triển thành viên thấy rằng việc biên dịch là phiền toái, và trong trường hợp này, lời giải thích sẽ được gửi tới các nước thành viên đang phát triển khi nhận được yêu cầu của họ gửi tới nước thành viên phát triển hoặc gửi tới chủ đầu tư của nước thành viên phát triển.



Trung tâm Thông tin

11. Các bên là nước phát triển sẽ thành lập riêng biệt hoặc thành lập chung các trung tâm thông tin để trả lời những yêu cầu hợp lý từ các thành viên là nước đang phát triển về các thông tin liên quan tới luật, qui định, thủ tục và tập quán về mua sắm chính phủ, thông báo đã được công bố về hoạt động mua sắm dự kiến, địa chỉ của các tổ chức thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này, tính chất và số lượng sản phẩm hoặc dịch vụ đã mua hoặc sẽ được mua sắm, bao gồm cả các thông tin sẵn có về các cuộc đấu thầu trong tương lai. Ủy ban cũng có thể thành lập một trung tâm thông tin.



Đối xử đặc biệt dành cho các nước kém phát triển nhất

12. Xét tới khoản 6 của Quyết định của các Bên tham gia GATT 1947 ngày 28/11/1979 về đối xử đặc biệt, đặc quyền và sự tham gia đầy đủ hơn của các nước đang phát triển (BISD 26S/203-205), đối xử đặc biệt sẽ được dành cho các Bên là nước kém phát triển nhất và đối với nhà thầu thuộc những nước thành viên này có các sản phẩm hoặc dịch vụ có nguồn gốc từ các nước này, trong trường hợp có bất kỳ biện pháp chung hay cụ thể nào dành cho các nước thành viên đang phát triển. Các Bên có thể áp dụng lợi ích/ưu đãi của Hiệp định này cho những nhà thầu ở các nước kém phát triển nhất mà không phải là thành viên của Hiệp định, đối với những sản phẩm hoặc dịch vụ có xuất xứ từ những nước này.

13. Các Bên là nước phát triển sẽ, theo yêu cầu, cung cấp trợ giúp mà họ cho là phù hợp cho nhà thầu tiềm năng ở các nước kém phát triển nhất trong việc nộp hồ sơ dự thầu và lựa chọn các sản phẩm hoặc dịch vụ được các tổ chức của nước đó cũng như nhà thầu ở các nước kém phát triển nhất quan tâm, và đồng thời hỗ trợ các nhà thầu tuân thủ với các quy định và tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan tới các sản phẩm hoặc dịch vụ là đối tượng của hoạt động mua sắm dự kiến.

Rà soát

14. Hàng năm, Ủy ban sẽ rà soát việc triển khai và hiệu quả của việc thực hiện Điều này, và cứ sau 3 năm thực hiện, trên cơ sở báo cáo của các Bên, Ủy ban sẽ tiến hành việc rà soát sâu rộng nhằm đánh giá hiệu quả của điều khoản này. Vì là một phần của rà soát 3 năm một lần và nhằm đảm bảo việc thực hiện các quy định của Hiệp định này đạt hiệu quả tối đa, đặc biệt là Điều III, và xét tới tình hình phát triển, tình hình tài chính và thương mại của các nước đang phát triển liên quan, Ủy ban sẽ xem xét các ngoại lệ đề ra theo quy định tại khoản 4 đến khoản 6 của Điều này có cần được sửa đổi hoặc mở rộng.

15. Trong các vòng đàm phán tiếp theo quy định tại khoản 7 Điều XXIV, mỗi Bên là nước đang phát triển sẽ xem xét khả năng mở rộng danh sách thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định có xét tới tình hình kinh tế, tài chính và thương mại của nước mình.

Điều VI

Tiêu chuẩn kỹ thuật

1. Tiêu chuẩn kỹ thuật nêu đặc tính của sản phẩm hoặc dịch vụ được mua sắm, chẳng hạn như chất lượng, tính năng hoạt động, độ an toàn và kích thước, biểu tượng, thuật ngữ, quy cách đóng gói, ghi nhãn mác và dán nhãn mác, hoặc quy trình và cách thức sản xuất và các yêu cầu về thủ tục chứng nhận sự phù hợp của sản phẩm, dịch vụ do các chủ đầu tư quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật sẽ không được xây dựng, ban hành hay áp dụng nhằm tạo ra những trở ngại không cần thiết đối với thương mại quốc tế.

2. Tiêu chuẩn kỹ thuật do các chủ đầu tư quy định, trong trường hơp phù hợp, sẽ:

(a) Là tiêu chuẩn về tính năng hoạt động, hơn là tiêu chuẩn về thiết kế và đặc tính có tính chất mô tả; và

(b) Dựa trên tiêu chuẩn quốc tế, nếu có; dựa trên quy định pháp luật trong nước về kỹ thuật 3 hoặc tiêu chuẩn quốc gia được thừa nhận 4 hoặc dựa trên luật xây dựng.

3. Sẽ không có yêu cầu hoặc tham chiếu tới thương hiệu hoặc tên thương mại, sáng chế, thiết kế hoặc loại hình, xuất xứ, nhà sản xuất hoặc nhà cung cấp cụ thể, trừ khi không mô tả được đầy đủ hoặc theo cách dễ hiểu các yêu cầu mua sắm, và trong trường hợp đó phải quy định cụm từ “hoặc tương đương” trong hồ sơ mời thầu.

4. Các chủ đầu tư sẽ không yêu cầu hoặc chấp nhận sự tư vấn trong quá trình xây dựng yêu cầu kỹ thuật cho một gói thầu cụ thể từ một công ty có lợi ích thương mại tới gói thầu mà theo đó có thể loại trừ sự cạnh tranh của cuộc đấu thầu.



3 Theo Hiệp định này, quy định về kỹ thuật là tài liệu nêu đặc tính của sản phẩm hoặc dịch vụ hoặc quy trình và cách thức sản xuất liên quan, kể cả các yêu cầu về hành chính mà việc tuân thủ là bắt buộc. Quy định về kỹ thuật cũng bao gồm hoặc nêu các yêu cầu về thuật ngữ, biểu tượng, quy cách đóng gói, ghi nhãn mác và dán nhãn mác mà áp dụng đối với sản phẩm, dịch vụ, quy trình hoặc cách thức sản xuất.

4 Theo Hiệp định này, quy định về tiêu chuẩn là một tài liệu do một cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, tiêu chuẩn quy định, đối với việc sử dụng thông thường và sử dụng nhiều lần, các quy tắc, hướng dẫn, hoặc đặc tính của sản phẩm hoặc dịch vụ hoặc quy trình và cách thức sản xuất liên quan mà việc tuân thủ các tiêu chuẩn là không bắt buộc. Tiêu chuẩn có thể bao gồm hoặc nêu các yêu cầu về thuật ngữ, biểu tượng, quy cách đóng gói, ghi nhãn mác và dán nhãn mác mà áp dụng đối với sản phẩm, dịch vụ, quy trình hoặc cách thức sản xuất.

Điều VII

Thủ tục đấu thầu

Mỗi Bên sẽ đảm bảo rằng thủ tục đấu thầu của các tổ chức/chủ đầu tư được áp dụng theo cách không phân biệt đối xử và phù hợp với các quy định nêu tại Điều VII đến Điều XVI.

Các tổ chức/chủ đầu tư không cung cấp thông tin cho bất kỳ nhà thầu nào về nội dung mua sắm của một gói thầu cụ thể mà có thể loại trừ sự cạnh tranh của cuộc đấu thầu.

Vì các mục đích của Hiệp định này:

Đấu thầu rộng rãi là thủ tục đấu thầu mà tất cả các nhà thầu quan tâm đều có thể nộp hồ sơ dự thầu.

Đấu thầu hạn chế là thủ tục đấu thầu theo quy định tại khoản 3 Điều X và các quy định liên quan của Hiệp định, mà các nhà thầu được tổ chức/chủ đầu tư mời nộp hồ sơ dự thầu.

Chỉ định thầu là thủ tục đấu thầu mà tổ chức/chủ đầu tư liên hệ với các nhà thầu một cách riêng biệt, nhưng chỉ trong các trường hợp, tuân thủ điều kiện quy định tại Điều XV.

Điều VIII

Năng lực của nhà thầu

Trong quá trình đánh giá năng lực của nhà thầu, các tổ chức/chủ đầu tư sẽ không phân biệt đối xử giữa những nhà thầu của các nước thành viên khác hoặc giữa nhà thầu trong nước và nhà thầu của các nước thành viên khác. Thủ tục đánh giá năng lực nhà thầu sẽ phù hợp với các quy định sau đây:



  1. Bất kỳ điều kiện tham gia đấu thầu nào sẽ được thông báo công khai trong một thời gian thích hợp để cho các nhà thầu quan tâm bắt đầu tiến hành và, điều này phù hợp với việc đảm bảo hiệu lực của quá trình mua sắm, hoàn thành các thủ tục để được đánh giá năng lực;

  2. Bất kỳ điều kiện tham gia đấu thầu nào sẽ chỉ giới hạn đến các điều kiện thực sự cần thiết để đảm bảo năng lực của nhà thầu đáp ứng việc thực hiện hợp đồng của gói thầu đang xét. Bất kỳ điều kiện tham gia đấu thầu đối với nhà thầu bao gồm bảo lãnh tài chính, năng lực kỹ thuật và thương mại của nhà thầu, cũng như việc chứng minh năng lực của nhà thầu, sẽ không kém thuận lợi hơn đối với nhà thầu của các nước thành viên so với nhà thầu trong nước và sẽ không phân biệt đối xử giữa các nhà thầu của các nước thành viên; Năng lực tài chính, kỹ thuật và thương mại của nhà thầu sẽ được đánh giá trên cơ sở cả các hoạt động của nhà thầu trên toàn thế giới và các hoạt động tại nước của chủ đầu tư, lưu ý quan hệ pháp lý giữa các tổ chức cung cấp;

  3. Quá trình và thời gian cần thiết cho việc lựa chọn nhà thầu sẽ không được sử dụng để loại nhà thầu của các nước thành viên khác khỏi danh sách các nhà thầu hoặc để cho nhà thầu không được xem xét tham gia một gói thầu cụ thể dự kiến sẽ thực hiện. Chủ đầu tư sẽ công nhận nhà thầu đủ năng lực tham gia gói thầu, kể cả nhà thầu trong nước hoặc nhà thầu của các nước thành viên khác, nếu các nhà thầu đó đáp ứng điều kiện tham gia đấu thầu của một gói thầu cụ thể. Nhà thầu đề nghị tham gia một gói thầu có thể chưa đủ điều kiện cũng vẫn sẽ được xem xét nếu có đủ thời gian để hoàn thành thủ tục tham gia đấu thầu;

  4. Các tổ chức duy trì danh sách cố định các nhà thầu đủ năng lực sẽ đảm bảo nhà thầu có thể nộp hồ sơ để được đánh giá đủ năng lực bất kỳ thời điểm nào; và tất cả các nhà thầu đã được đánh giá đủ năng lực sẽ có tên trong các danh sách cố định trong một khoảng thời gian ngắn hợp lý;

  5. Nếu, sau khi thông báo theo khoản 1 ĐIều IX, một nhà thầu chưa được xem xét về năng lực đề nghị tham gia gói thầu dự kiến thực hiện, chủ đầu tư sẽ tiến hành nhanh thủ tục đánh giá năng lực của nhà thầu bất kỳ nhà thầu nào đã đề nghị trở thành nhà thầu có đủ năng lực sẽ được các tổ chức liên quan thông báo quyết định về vấn đề này;

  6. Nhà thầu có đủ năng lực trong danh sách nhà thầu của các tổ chức sẽ được thông báo việc chấm dứt bất kỳ danh sách nhà thầu đủ năng lực hoặc việc nhà thầu đó bị loại ra khỏi danh sách này;

  7. Mỗi Bên tham gia Hiệp định đảm bảo:



  1. Mỗi tổ chức và các đơn vị trực thuộc của tổ chức đó tuân thủ tục đánh giá năng lực đơn nhất, ngoại trừ trường hợp có lý do thích đáng cho việc sử dụng thủ tục đánh giá năng lực khác; và

  2. Cố gắng giảm thiểu sự khác biệt trong thủ tục đánh giá năng lực nhà thầu của các tổ chức.

(h) Không có qui định nào trong mục từ (a) - (g) ở trên loại trừ khả năng loại nhà thầu vì lý do như phá sản hoặc kê khai sai, với điều kiện là hành động như vậy phù hợp với qui định đối xử quốc gia và không phân biệt đối xử của Hiệp định này.

Điều IX

Mời tham gia đấu thầu

1. Theo khoản 2 và 3, các tổ chức/chủ đầu tư sẽ thông báo mời thầu đối với tất cả các gói thầu, trừ gói thầu thực hiện theo quy định tại Điều XV (chỉ định thầu). Thông báo sẽ được đăng tải trên phương tiện thông tin phù hợp quy định tại Phụ lục II.

2. Việc mời tham dự thầu có thể thực hiện theo mẫu thông báo mời thầu quy định tại khoản 6.

3. Các tổ chức/chủ đầu tư có tên trong Phụ lục 2 và 3 có thể sử dụng thông báo về gói thầu có kế hoạch thực hiện như quy định tại khoản 7, hoặc thông báo về hệ thống đánh giá năng lực của nhà thầu như quy định tại khoản 9, như một thư mời tham dự thầu.

4. Các tổ chức/chủ đầu tư sử dụng thông báo về gói thầu có kế hoạch thực hiện như một thư mời thầu sẽ mời tất cả các nhà thầu đã bày tỏ quan tâm xác nhận lại sự quan tâm của họ đối với gói thầu trên cơ sở thông tin tối thiểu nêu tại khoản 6.

5. Các tổ chức/chủ đầu tư sử dụng thông báo về hệ thống đánh giá năng lực của nhà thầu như một thư mời thầu sẽ cung cấp, có xem xét các nội dung đề cập ở khoản 4 Điều XVIII và theo cách kịp thời, các thông tin mà cho phép tất cả các nhà thầu đã bày tỏ nguyện vọng có một cơ hội thật sự để đánh giá sự quan tâm của họ khi tham gia đấu thầu. Thông tin này sẽ bao gồm thông tin có trong các thông báo nêu tại khoản 6 và 8 nếu tổ chức/chủ đầu tư có những thông tin đó. Thông tin được cung cấp cho một nhà thầu quan tâm sẽ được cung cấp theo cách không phân biệt đối xử cho các nhà thầu có quan tâm khác.

6. Mỗi thông báo mời thầu dự kiến, theo quy định tại khoản 2, sẽ bao gồm những thông tin sau:

(a) Tính chất và số lượng, bao gồm cả phương án cho mua sắm tiếp theo và nếu có thể, ước lượng thời gian khi các phương án như vậy được thực hiện; trong trường hợp của các hợp đồng định kỳ, tính chất và số lượng, nếu có thể, ước tính thời gian thông báo mời thầu của lần mua sắm tiếp theo của sản phẩm và dịch vụ được mua sắm;

(b) Thủ tục đấu thầu là đấu thầu rộng rãi hay đấu thầu hạn chế hay có bước thương thảo không;

(c) Ngày bắt đầu giao hàng và kết thúc giao hàng hóa hoặc dịch vụ;

(d) Địa chỉ và thời hạn cuối cùng cho việc nộp đơn để được mời tham dự thầu hoặc nộp đơn để được xem xét năng lực đưa vào danh sách nhà thầu, hoặc nhận hồ sơ dự thầu, cũng như là ngôn ngữ hoặc các loại ngôn ngữ sẽ được sử dụng trong đơn, hồ sơ dự thầu của nhà thầu;

(e) Địa chỉ của chủ đầu tư và cung cấp bất kỳ thông tin cần thiết để nhà thầu có được các tiêu chuẩn kỹ thuật và các tài liệu khác;

(f) Bất kỳ yêu cầu nào về kinh tế và kỹ thuật, bảo lãnh tài chính và thông tin do nhà thầu đề nghị;


  1. Số tiền và điều kiện thanh toán đối với khoản tiền phải trả để mua hồ sơ mời thầu;

  2. Chủ đầu tư mời thầu để mua, thuê, hay thuê mua, hoặc kết hợp một hoặc nhiều hình thức mua sắm nêu trên.

7. Mỗi thông báo về gói thầu có kế hoạch thực hiện đề cập tại khoản 3 sẽ bao gồm các thông tin quy định tại khoản 6 nếu có thông tin đó. Trong mọi trường hợp, thông báo sẽ bao gồm các thông tin nêu tại khoản 8 và:

(a) Văn bản của nhà thầu quan tâm bày tỏ nguyện vọng tham gia gói thầu của chủ đầu tư;

(b) Nơi liên lạc với chủ đầu tư mà nhà thầu có thể thu thập thêm các thông tin.

8. Trong mỗi gói thầu, chủ đầu tư sẽ công bố thông báo tóm tắt bằng một trong những ngôn ngữ chính thức của WTO. Thông báo bao gồm ít nhất các thông tin sau:



  1. Đối tượng của hợp đồng;

  2. Giới hạn thời gian đối với việc nộp hồ sơ dự thầu hoặc đơn để được mời tham dự thầu; và

  3. Địa chỉ mà các nhà thầu có thể yêu cầu cung cấp các tài liệu liên quan đến hợp đồng.

9. Trong trường hợp đấu thầu hạn chế, các tổ chức duy trì danh sách cố định các nhà thầu đủ năng lực sẽ công bố hàng năm một thông báo trên một trong những phương tiện thông tin được nêu tại Phụ lục III, thông báo gồm những nội dung sau:

(a) Liệt kê các danh sách được duy trì, gồm cả đề mục liên quan tới các sản phẩm hoặc dịch vụ hoặc chủng loại sản phẩm được mua sắm thông qua các danh sách;

(b) Các điều kiện nhà thầu phải đáp ứng để được đưa vào trong các danh sách đó và các cách thức mà tổ chức/chủ đầu tư đánh giá các điều kiện năng lực;

(c) Thời gian có hiệu lực của các danh sách và thủ tục gia hạn hiệu lực của các danh sách.

Khi thông báo như vậy được sử dụng như một thư mời thầu theo quy định tại khoản 3, thông báo sẽ còn bao gồm các thông tin sau:


  1. Tính chất của sản phẩm và dịch vụ liên quan;

  2. Khẳng định thông báo này là văn bản mời thầu.

Tuy nhiên, khi thời hạn của hệ thống đánh giá năng lực là 3 năm hoặc ít hơn, và nếu thời hạn của hệ thống đánh giá năng lực được nêu rõ trong thông báo và nó cũng nêu rõ các thông báo tiếp theo sẽ không được công bố, thì việc thông báo chỉ một lần vào thời điểm bắt đầu hình thành hệ thống là đủ. Hệ thống đánh giá năng lực như vậy sẽ không được sử dụng theo cách nhằm vi phạm các quy định của Hiệp định này.

10. Nếu, sau khi thông báo mời thầu đối với bất kỳ gói thầu nào, nhưng trước thời gian đóng thầu hoặc mở thầu như quy định trong các thông báo hoặc hồ sơ mời thầu, thấy cần thiết phải sửa hoặc thông báo lại, thì thông báo sửa đổi hoặc thông báo lại sẽ được thực hiện với cách thức như đã thực hiện đối với tài liệu gốc mà việc việc sửa đổi dựa vào. Bất kỳ thông tin đáng kể nào được cung cấp cho một nhà thầu về một gói thầu cụ thể sẽ đồng thời được cung cấp cho tất cả các nhà thầu quan tâm trong một thời gian đủ để các nhà thầu xem xét các thông tin đó và phản hồi lại.



11. Các tổ chức/chủ đầu tư sẽ làm rõ, trong các thông báo đề cập trong Điều này hoặc trong các phương tiện thông tin mà có các thông báo, rằng việc mua sắm đó thuộc phạm vi điều chỉnh của Hiệp định này.


Каталог: sites -> default -> files
files -> BÁo cáo quy hoạch vùng sản xuất vải an toàn tỉnh bắc giang đẾn năM 2020 (Thuộc dự án nâng cao chất lượng, an toàn sản phẩm nông nghiệp và phát triển chương trình khí sinh học ) Cơ quan chủ trì
files -> Mẫu tkn1 CỘng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc
files -> CỘng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc ĐĂng ký thất nghiệP
files -> BỘ TÀi chính —— Số: 25/2015/tt-btc cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
files -> CỘng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc TỜ khai của ngưỜi hưỞng trợ CẤP
files -> BỘ giáo dục và ĐÀo tạO –––– Số: 40
files -> BỘ y tế CỘng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập – Tự do – Hạnh phúc
files -> Mẫu số 1: Ban hành kèm theo Thông tư số 19/2003/tt-blđtbxh ngày 22 tháng 9 năm 2003 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Tên đơn vị Số V/v Đăng ký nội quy lao động CỘng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc
files -> CỦa bộ XÂy dựng số 04/2008/QĐ-bxd ngàY 03 tháng 4 NĂM 2008 VỀ việc ban hành “quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về quy hoạch xây dựNG”

tải về 206.07 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
  1   2




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2022
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương