Hội đồng tư vấn về Phòng vệ Thương mại Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam trung quốC ĐÃ khai hỏa và HÀnh đỘng của chúng ta



tải về 105.29 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu09.09.2017
Kích105.29 Kb.
Hội đồng tư vấn về Phòng vệ Thương mại

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam

TRUNG QUỐC ĐÃ KHAI HỎA VÀ HÀNH ĐỘNG CỦA CHÚNG TA

(Vụ Trung Quốc kiện EU ra WTO về các phương pháp EU áp dụng trong vụ điều tra chống bán phá giá đối với giầy mũ da Trung Quốc và Việt Nam)
Ngày 4/2/2010, Trung Quốc đã chính thức gửi yêu cầu tham vấn với EU về những phương pháp mà EU đã sử dụng trong vụ điều tra chống bán phá giá giầy mũ da Trung Quốc mà EU tiến hành năm 2005 cũng như điều tra cuối kỳ vừa kết thúc tháng 12/2009 vừa rồi. Tham vấn là thủ tục đầu tiên trong chuỗi các thủ tục trong khuôn khổ Cơ chế giải quyết tranh chấp trong WTO. Như vậy, Trung Quốc đã chính thức khởi xướng vụ kiện EU về vấn đề này ra WTO.

Đây là một sự kiện có nhiều tác động tới ngành da giầy Việt Nam do các nhà sản xuất, xuất khẩu giầy mũ da Việt Nam và Trung Quốc là đồng bị đơn trong cùng vụ EU điều tra và áp dụng biện pháp thuế chống bán phá giá đối với giầy mũ da năm 2005, gia hạn năm 2009 – đối tượng của vụ tranh chấp trong khuôn khổ WTO mà Trung Quốc khởi xướng này. Hơn nữa, trên thực tế, EU áp dụng chung các phương pháp tính toán cũng như có kết luận chung (với mức thuế chống bán phá giá như nhau) trong cùng các quyết định cho cả Việt Nam và Trung Quốc. Cụ thể, việc Trung Quốc khởi kiện EU đặt ra ít nhất 02 vấn đề với Việt Nam:



  1. Nếu Trung Quốc đã quyết định khởi kiện EU thì Việt Nam có nên khởi kiện EU cho vụ kiện tương tự không? (do những phương pháp mà EU sử dụng và bị Trung Quốc viện dẫn là trái với WTO cũng đồng thời là những phương pháp EU đã áp dụng cho các nhà xuất khẩu Việt Nam trong cùng vụ kiện);

  2. Việt Nam có nên tham gia vào vụ kiện mà Trung Quốc khởi xướng chống lại EU với tư cách là bên thứ ba hay không (do Việt Nam có những quyền và lợi ích liên quan đến các vấn đề mà Trung Quốc tranh chấp với EU).

Báo cáo dưới đây của Hội đồng tư vấn về phòng vệ thương mại (Hội đồng TRC) của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam sẽ xem xét tổng thể các vấn đề về pháp lý, ngoại giao và các nội dung khác có liên quan của cả 02 khả năng nói trên để từ đó có khuyến nghị Chính phủ về cách thức hành động thích hợp trong vụ việc này vì lợi ích trực tiếp và lâu dài của doanh nghiệp ngành giầy dép cũng như của cả nền kinh tế. Báo cáo được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu của các thành viên TRC và tham khảo ý kiến nhiều chiều từ các chuyên gia, luật sư có nghiên cứu và kinh nghiệm sâu sắc về vụ việc này.

I. Tóm tắt về các sự kiện liên quan

1. Về vụ điều tra chống bán phá giá đối với giầy mũ da Trung Quốc và Việt Nam (Sự kiện gốc cho vụ tranh chấp EU- Trung Quốc trong WTO)

  • Ngày 30/5/2005: Liên đoàn công nghiệp giầy EU (đại diện 40% nhà sản xuất giầy mũ da) nộp đơn yêu cầu điều tra chống bán phá giá đối với giầy mũ da Trung Quốc và Việt Nam

  • Ngày 7/7/2005: EC chính thức khởi xướng điều tra giầy mũ da Trung Quốc và Việt Nam

Sản phẩm bị điều tra: Một số nhóm sản phẩm giầy mũ da có mã CN 8 số bắt đầu bằng 6403

Giai đoạn điều tra phá giá: 1/4/2004-31/3/2005

Giai đoạn điều tra thiệt hại: 1/1/2001-31/3/2005

Nước thay thế được lựa chọn: Braxin



  • Ngày 23/3/2006: EC ra kết luận sơ bộ (Quyết định số 553/2006) khẳng định giầy mũ da nhập khẩu từ Việt Nam và Trung Quốc bán phá giá gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa EU

Mức thuế tạm thời cho tất cả các nhà xuất khẩu Việt Nam: 16.8%

Mức thuế tạm thời cho tất cả các nhà xuất khẩu Trung Quốc: 19.4%



  • Ngày 6/10/2006: EC ra kết luận cuối cùng (Quyết định số 1472/2006) khẳng định giầy mũ da nhập khẩu từ Việt Nam và Trung Quốc bán phá giá gây thiệt hại cho ngành sản xuất nội địa EU

Mức thuế chính thức đối với tất cả các nhà sản xuất Việt Nam: 10%

Mức thuế chính thức đối với tất cả các nhà sản xuất Trung Quốc: 16.5% (trừ công ty Golden Step 9.7% do được hưởng quy chế nền kinh tế thị trường)

Biện pháp thuế có hiệu lực trong 2 năm.


  • Ngày 3/10/2008: EC quyết định khởi xướng điều tra rà soát cuối kỳ đối với biện pháp thuế nêu trên (theo Đơn yêu cầu của Liên đoàn công nghiệp giầy EU)

  • Ngày 30/12/2009: Trên cơ sở kết luận rằng việc chấm dứt biện pháp thuế chống bán phá giá vào thời điểm này có thể khiến cho hiện tượng bán phá giá gây thiệt hại đáng kể cho ngành sản xuất nội địa tái diễn, EC ra quyết định gia hạn biện pháp thuế chống bán phá giá đối với Trung Quốc và Việt Nam thêm 15 tháng kể từ 1/2010 (Quyết định 1294/2009).

2. Về Đơn yêu cầu tham vấn của Trung Quốc đối với EU (DS405)

Ngày 4/2/2010, Trung Quốc chính thức gửi Đơn yêu cầu tham vấn cho EU về những biện pháp và quy định mà EU sử dụng trong vụ điều tra chống bán phá giá (gốc và rà soát) đối với giầy mũ da Trung Quốc. WTO thông báo về vụ việc này ngày 8/2/2010 – với mã vụ tranh chấp là DS405.

Về nội dung, Trung Quốc khởi kiện EU về các nội dung sau:


  1. Điều 9.5 Quy định cơ bản của EU về chống bán phá giá vi phạm quy định của Hiệp định về chống bán phá giá của WTO (ADA)

Cụ thể, Điều 9.5 Quy định EU chỉ cho phép tính thuế suất riêng cho những nhà xuất khẩu nước ngoài đáp ứng các tiêu chí nhất định của EU (nếu không thỏa mãn thì phải chịu mức thuế suất chung) trong khi ADA yêu cầu tất cả các nhà sản xuất nước ngoài đều có quyền được tính thuế suất riêng trừ trường hợp có quá nhiều nhà xuất khẩu.

  1. Quyết định áp thuế chống bán phá giá chính thức đối với giầy mũ da Trung Quốc của EC (Quyết định số 1472/2006) vi phạm các quy định của ADA, GATT 1994 và cam kết gia nhập WTO của Trung Quốc ở các điểm kỹ thuật chi tiết

Các vi phạm mà Trung Quốc viện dẫn thuộc các nhóm:

  • Vi phạm nguyên tắc về điều kiện hưởng thuế suất riêng và Quy chế nền kinh tế thị trường;

  • Vi phạm nguyên tắc lựa chọn và tính toán liên quan đến nước thay thế (Braxin)

  • Vi phạm các quy định trong xác định sản phẩm tương tự

  • Vi phạm các nguyên tắc trong xác định thiệt hại và mối quan hệ nhân quả

  • Vi phạm các nguyên tắc minh bạch (tiếp cận chứng cứ, tiếp cận thông tin không mật, xử lý các phản hồi…)

  • Vi phạm nguyên tắc phân biệt đối xử (do mức thuế suất áp cho giầy mũ da Trung Quốc cao hơn mức áp dụng cho giầy mũ da Việt Nam).

  1. Quyết định gia hạn thuế chống bán phá giá đối với giầy mũ da Trung Quốc của EC (Quyết định 1294/2009) vi phạm các quy định của ADA và GATT 1994 ở các điểm kỹ thuật chi tiết

Các vi phạm mà Trung Quốc viện dẫn thuộc các nhóm:

  • Không đảm bảo việc xem xét tính chính xác và đầy đủ của yêu cầu gia hạn;

  • Chọn mẫu không phù hợp, không mang tính đại diện;

  • Vi phạm nguyên tắc minh bạch (quyền tiếp cận thông tin, công khai thông tin, lý giải tại sao không chấp nhập/chấp nhận lập luận của các bên…).


II. Phân tích các khía cạnh pháp lý về khả năng một vụ kiện giữa Việt Nam và EU liên quan đến vụ điều tra chống bán phá giá đối với giầy mũ da Việt Nam

Trong vụ điều tra chống bán phá giá giầy mũ da (bao gồm cả vụ điều tra gốc và điều tra gia hạn), EU áp dụng chung các phương pháp tính toán, đối xử và quyết định cho cả Việt Nam và Trung Quốc. Vì vậy một số điểm có lập luận và căn cứ thuyết phục trong Bản yêu cầu tham vấn của Trung Quốc có thể được sử dụng tương tự và mang lại lợi ích cho phía Việt Nam. Tuy nhiên một số điểm khác trong Bản yêu cầu tham vấn này không phù hợp với Việt Nam (do những đặc trưng riêng của phía Trung Quốc) hoặc vô lý và bất lợi cho Việt Nam và do đó không thể sử dụng được.

Vì vậy, phân tích dưới đây chỉ tập trung vào những vấn đề pháp lý mà Việt Nam có thể khiếu kiện EU với những căn cứ xác thực, thuyết phục và do đó có khả năng thắng cao. Theo quan điểm của TRC và luật sư nước ngoài đã từng tham gia vụ việc này, có 03 văn bản chứa đựng các điểm vi phạm ADA, GATT 1994 và Báo cáo gia nhập WTO của Việt Nam mà Việt Nam có thể khởi kiện thành công EU, bao gồm:


  1. Điều 9.5 Quy định cơ bản của EU về chống bán phá giá về các tiêu chí và điều kiện cho hưởng đối xử riêng biệt (thuế suất riêng);

  2. Quyết định gia hạn thuế chống bán phá giá đối với giầy mũ da Việt Nam của EC (Quyết định 1294/2009).

1. Phân tích các vi phạm trong Điều 9.5 Quy định cơ bản của EU về tiêu chí, điều kiện cho hưởng đối xử riêng biệt

Điều 9.5 Quy định cơ bản của EU nêu các tiêu chí và điều kiện để một nhà sản xuất xuất khẩu từ nước có nền kinh tế phi thị trường có thể được hưởng quy chế đối xử riêng biệt (được tính toán biên độ phá giá riêng dựa trên các thông số của chính nhà sản xuất đó và được hưởng mức thuế suất chống bán phá giá riêng tương ứng). Đây là một quy định có định trong pháp luật EU, vì vậy Việt Nam có quyền khiếu kiện đương nhiên (kể cả khi quy định này không được áp dụng cho Việt Nam trên thực tế).

Cụ thể, Điều 9.5 này quy định thuế suất chống bán phá giá sẽ được tính chung cho tất cả các nhà xuất khẩu đến từ nước có nền kinh tế phi thị trường và chỉ tính riêng cho nhà xuất khẩu nào chứng minh và được chấp nhận rằng:


  • Nhà sản xuất có thể tự do chuyển về nước vốn và lợi nhuận (đối với trường hợp nhà xuất khẩu là FDI);

  • Nhà sản xuất có thể tự do quyết định giá – lượng xuất khẩu và điều kiện bán hàng;

  • Đa số cổ phần/vốn góp thuộc sở hữu tư nhân; đại diện Nhà nước trong Hội đồng quản trị hoặc giữ vị trí lãnh đạo quan trọng, nếu có, chỉ chiếm thiểu số hoặc phải chứng minh được dù chiếm đa số nhưng vẫn đảm bảo đủ độc lập khỏi sự can thiệp của Nhà nước;

  • Tỷ giá chuyển đổi ngoại tệ được xác định theo thị trường;

  • Sự can thiệp của Nhà nước sẽ không tạo ra tác động vô hiệu hóa biện pháp thuế chống bán phá giá nếu nhà sản xuất đó được áp các mức thuế khác.

Với những nội dung như vậy, Điều 9.5 vi phạm các quy định sau:

  1. Vi phạm Điều 6.10 ADA

Điều 6.10 ADA quy định cơ quan điều tra phải xác định các biên độ phá giá riêng (và thuế chống bán phá giá riêng) cho từng nhà xuất khẩu nước ngoài. Nguyên tắc này chỉ không được áp dụng trong các trường hợp ngoại lệ khi có quá nhiều nhà xuất khẩu liên quan hoặc khi có hai hoặc nhiều doanh nghiệp có quan hệ phụ thuộc lẫn nhau và cơ quan điều tra phải giới hạn việc điều tra của mình ở một số nhà xuất khẩu được lựa chọn. Trong những trường hợp như vậy, cơ quan điều tra có thể xác định một biên độ phá giá chung cho tất cả các nhà xuất khẩu không được lựa chọn (gọi là biên độ toàn quốc).

Như vậy thuế suất chung chỉ được áp dụng như trường hợp ngoại lệ và điều kiện duy nhất để không áp dụng thuế suất riêng là có quá nhiều nhà xuất khẩu bị đơn (áp dụng trong tất cả các trường hợp, không phân biệt nhà xuất khẩu của nước có nền kinh tế thị trường hay phi thị trường).

Vì vậy việc Điều 9.5 Quy định EU quy định việc tính thuế suất toàn quốc như một nguyên tắc chung áp dụng cho nước xuất khẩu có nền kinh tế phi thị trường và quy định các tiêu chí bắt buộc phải thỏa mãn để được hưởng thuế suất riêng là vi phạm Điều 6.10 ADA nói trên.


  1. Vi phạm Điều 9.2 ADA

Điều 9.2 ADA quy định rằng trường hợp áp dụng thuế chống bán phá giá, cơ quan có thẩm quyền phải đảm bảo rằng thuế đó được áp ở mức thích hợp và trên cơ sở không phân biệt đối xử.

Việc Điều 9.5 Quy định EU quy định nguyên tắc chung là áp thuế toàn quốc cho tất cả các nhà xuất khẩu từ nước có nền kinh tế thị trường là vi phạm nguyên tắc áp thuế ở “mức thích hợp” (vì “mức thích hợp” theo một án lệ của WTO – “vụ EC-Cá hồi” phải được hiểu là phù hợp và tương thích với tình hình phá giá của doanh nghiệp – và do đó chỉ có mức thuế suất “riêng” mới đáp ứng được yêu cầu này).

Ngoài ra, Điều 9.2 ADA cũng quy định các cơ quan điều tra phải nêu rõ danh tính của nhà xuất khẩu (cá thể hóa họ) trừ phi điều này là không thể trong hoàn cảnh cụ thể của vụ việc. Điều 9.2 Quy định EU đã không tuân thủ yêu cầu này do đã ấn định nguyên tắc thuế suất toàn quốc chung cho tất cả các nhà xuất khẩu mà không cá thể hóa họ.


  1. Vi phạm Điều 9.3 ADA

Điều 9.3 ADA quy định thuế suất chống bán phá giá không được vượt quá biên độ phá giá xác định trong quá trình điều tra.

Với quy định tại Điều 9.5 Quy định EU, một mức thuế suất chung có thể là mức thấp so biên độ phá giá của doanh nghiệp này nhưng có thể là mức cao so với biên độ phá giá của doanh nghiệp khác.



  1. Vi phạm Điều 9.4 ADA

Điều 9.4 ADA quy định biên độ phá giá tính cho các nhà sản xuất xuất khẩu hợp tác nhưng không được lựa chọn điều tra sẽ được xác định bằng bình quân gia quyền của các biên độ phá giá xác định cho các nhà xuất khẩu được chọn mẫu. Điều này đồng nghĩa với việc các nhà xuất khẩu được chọn vào mẫu điều tra (bị đơn bắt buộc) phải được xác định mức thuế suất riêng.

Tuy nhiên, với quy định tại Điều 9.5 Quy định EU, tất cả các nhà xuất khẩu, cả trong nhóm chọn mẫu hoặc không, đều sẽ không được đối xử riêng biệt, do đó không ai được hưởng mức thuế suất riêng cả (trừ khi đáp ứng các tiêu chí của EU). Vì vậy, với quy định, cơ quan điều tra EU sẽ không thể tính biên độ phá giá bình quan gia quyền được (do không có các biên độ phá giá riêng) và vì vậy không thể đáp ứng yêu cầu tại Điều 9.4 ADA.



  1. Vi phạm điều 12.2.2 ADA

Điều 12.2.2 ADA quy định rằng cơ quan điều tra phải ra một thông báo công khai nêu rõ “tất cả các thông tin liên quan về các vấn đề thực tế và pháp lý và các lý do dẫn tới việc áp đặt biện pháp thuế chính thức”.

Điều này chỉ có thể thực hiện được nếu việc áp thuế được thực hiện theo cách thức “đối xử riêng biệt”. Vì vậy, với phương pháp tính thuế chung toàn quốc, Điều 9.5 Quy định EU đã không đáp ứng được yêu cầu này.



  1. Điều I:1 GATT 1994

Điều I:1 GATT 1994 quy định nguyên tắc tối huệ quốc, một nguyên tắc đòi hỏi tất cả các biện pháp (quy định, thủ tục) liên quan đến thương mại hàng hóa, bao gồm cả các biện pháp chống bán phá giá, phải được áp dụng theo cách thức không phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp đến từ các quốc gia khác nhau.

Tuy nhiên, với quy định tại Điều 9.5 Quy định EU, EU đã có sự phân biệt rất rõ ràng trong nguyên tắc áp thuế chống bán phá giá đối với các doanh nghiệp thuộc các nước xuất khẩu có nền kinh tế thị trường và các doanh nghiệp đến từ các nước có nền kinh tế phi thị trường. Do đó quy định này vi phạm nguyên tắc về đối xử tối huệ quốc – nguyên tắc cơ bản trong WTO nói chung và trong GATT 1994 nói riêng.



  1. Cam kết trong Báo cáo của Ban công tác của WTO về việc Việt Nam gia nhập WTO

Trong Báo cáo nói trên (Đoạn 255, 257) và các văn bản liên quan khác của Ban Công tác, Việt Nam chấp nhận bị xem là nền kinh tế phi thị trường trong các điều tra chống bán phá giá và chống trợ cấp mà các nước thành viên WTO tiến hành đối với hàng hóa xuất khẩu Việt Nam cho đến năm 2018. Cũng theo quy định tại đây, với cam kết này, Việt Nam chấp nhận để các nước nhập khẩu tiến hành điều tra được sử dụng cách tính giá thông thường khác với cách tính chuẩn theo quy định của WTO.

Như vậy, với cam kết này của Việt Nam, các nước thành viên WTO, trong đó có EU, khi điều tra chống bán phá giá đối với hàng hóa Việt Nam có thể bỏ qua cách tính giá thông thường chuẩn của WTO nhưng tất cả các quy định khác của WTO, bao gồm có việc so sánh giá thông thường với giá xuất khẩu và xác định biên độ phá giá riêng cho mỗi nhà xuất khẩu vẫn có hiệu lực áp dụng bắt buộc như thông thường.

Nói cách khác, cam kết của Việt Nam về việc chấp nhận là nền kinh tế phi thị trường trong điều tra chống bán phá giá không đồng nghĩa với việc EU có thể quy định riêng về điều kiện để hưởng đối xử riêng biệt đối với các nhà xuất khẩu Việt Nam.

Với các phân tích nêu trên, có thể thấy Điều 9.5 của Quy định EU về chống bán phá giá vi phạm nhiều điều khoản của ADA và GATT 1994 cũng như cam kết gia nhập WTO. Do đó, nếu khiếu kiện EU về điều khoản này ra WTO, khả năng thắng của Việt Nam là tương đối cao mặc dù hiện chưa có tiền lệ nào trong WTO trực tiếp về vấn đề này.



2. Quyết định gia hạn thuế chống bán phá giá đối với giầy mũ da Việt Nam của EC (Quyết định 1294/2009)

Việt Nam và Trung Quốc cùng bị EU điều tra chống bán phá giá trong một vụ việc, với phương pháp điều tra chung, cách thức áp dụng các quy định tương tự và kết luận về biện pháp đối phó trong cùng các Quyết định. Vì vậy, các lập luận của Việt Nam liên quan đến vấn đề trong các Quyết định cụ thể này của EU có thể được thực hiện dựa trên tham khảo các viện dẫn vi phạm của Trung Quốc. Tuy nhiên, không phải bất kỳ viện dẫn nào của Trung Quốc đều tốt, và có thể sử dụng cho Việt Nam. Vì vậy, những phân tích dưới đây được thực hiện trên cơ sở xác định các vấn đề vi phạm có liên quan đến Việt Nam, lựa chọn các viện dẫn tốt của Trung Quốc, thích hợp với Việt Nam theo ý kiến cố vấn chuyên môn của luật sư nước ngoài đã từng tư vấn cho các doanh nghiệp Việt Nam trong vụ việc này.

Hội đồng không cho rằng Quyết định năm 2006 của EU có những vi phạm đáng kể mà Việt Nam có thể phản đối. Bên cạnh đó, các lập luận của Trung Quốc liên quan đến các vi phạm của EU trong Quyết định này hoặc là không phù hợp với Việt Nam, hoặc là không có sức thuyết phục nên không được xem xét ở đây.

Liên quan đến Quyết định gia hạn thuế chống bán phá giá đối với giầy mũ da Việt Nam của EC (Quyết định 1294/2009), một số điểm sau đây có thể có vi phạm và Việt Nam có thể khiếu kiện EU về việc này:



Nhóm 1 – Những vi phạm mà Trung Quốc viện dẫn có thể được thích hợp với Việt Nam

  1. Về chứng cứ và các điều kiện tiến hành rà soát gia hạn:

Việc EU không tập hợp đầy đủ và xem xét một cách thích hợp các chứng cứ trước khi ra quyết định rà soát gia hạn có thể vi phạm các Điều 11.3 và 5.3 ADA.

  1. Về kết luận phá giá:

Với thực tế rằng số lượng giầy mũ da Việt nam xuất khẩu sang EU đã giảm trong giai đoạn điều tra đồng thời với mức giá tăng trong giai đoạn này, Việt Nam có nhiều cơ hội phản đối quyết định của EU về việc nếu thuế chấm dứt thì có thể làm tái diễn hiện tượng phá giá của giầy mũ da Việt Nam tại EU.

Bên cạnh đó, việc EU dỡ bỏ GSP dành cho giầy dép Việt Nam cũng làm triệt tiêu cho khả năng tăng vọt của nhập khẩu mặt hàng này vào EU trong thời gian tới. Ngoài ra sự gia tăng nhập khẩu giầy mũ da của Việt Nam vào các thị trường khác ngoài EU (chiến lược đa dạng hóa thị trường) cũng làm cho khả năng tái diễn hiện tượng tăng nhập khẩu giá rẻ vào EU từ Việt Nam giảm đáng kể.

Vì vậy, có thể nói Việt Nam có nhiều bằng chứng thực tế để phản đối kết luận này của EU.

Nhóm 2 – Những vi phạm mà Việt Nam có thể viện dẫn riêng (Bản yêu cầu tham vấn của Trung Quốc không viện dẫn)


  1. Về việc không phân tích quy chế nền kinh tế thị trường trong điều tra rà soát lại

Căn cứ vào câu chữ của Quyết định 1294/2009 của EC có thể thấy cơ quan điều tra đã chỉ đơn giản là tái khẳng định lại kết quả của Quyết định gốc năm 2006 rằng Việt Nam là nền kinh tế phi thị trường mà không xem xét, phân tích lại tình hình năm 2009 của các doanh nghiệp bị đơn được lựa chọn để kết luận chính xác về điều này. Cách làm này của EU có thể dẫn tới vi phạm các Điều 11.3 ADA.

Điều 11.3 ADA quy định việc gia hạn thuế chống bán phá giá chỉ được thực hiện nếu “việc chấm dứt thuế có thể dẫn tới tình trạng tiếp diễn hoặc tái diễn hiện tượng bán phá giá và thiệt hại”. Dù quy định “có thể dẫn tới…” này không thật rõ ràng và khó định lượng nhưng vẫn cần phải căn cứ trên những chứng cứ nhất định. Trong vụ việc giầy mũ da này, quy định tại Điều 11.3 ADA đòi hòi cơ quan điều tra EU ít nhất phải tiến hành xem xét lại thực trạng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp (và xem họ còn hoạt động trong tình trạng “nền kinh tế phi thị trường” hay không) để từ đó đánh giá được nguy cơ “có thể dẫn tới tái diễn/tiếp diễn hiện tượng bán phá giá và thiệt hại” trong tương lai hay không.

Ngoài ra, Đoạn 255 Báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO (liên quan đến quy chế nền kinh tế phi thị trường) nêu rõ các nước thành viên WTO khi tính toán giá thông thường trong điều tra chống bán phá giá có thể sử dụng một phương pháp khác phương pháp chuẩn “nếu các doanh nghiệp Việt Nam cụ thể được điều tra không chứng minh được là họ hoạt động theo nền kinh tế thị trường”. Nói cách khác, doanh nghiệp Việt Nam không bị đương nhiên suy đoán là hoạt động theo nguyên tắc kinh tế phi thị trường mà chỉ là theo từng trường hợp cụ thể. Do đó việc EU trong rà soát lại suy đoán tự động rằng doanh nghiệp Việt Nam không đáp ứng điều kiện để hưởng quy chế nền kinh tế thị trường không phù hợp với Đoạn 255 Báo cáo.


  1. Việc xác định thiệt hại có dấu hiệu vi phạm Điều 11.3 ADA

Trong quá trình điều tra để xem xét việc gia hạn, các doanh nghiệp bị đơn Việt Nam đã nộp giải trình rằng việc xác định thiệt hại có nhầm lẫn do có một số yếu tố khách quan cho thấy ngành sản xuất nội địa EU không hề chịu thiệt hại từ giầy mũ da nhập khẩu từ Việt Nam.

Theo những số liệu mà các luật sư tư vấn có được (và có thể chứng minh được) thì



    • Trong những năm gần đây, tỷ suất lợi nhuận của ngành sản xuất nội địa EU gia tăng nhanh chóng, thị phần của họ trên thị trường EU cũng gia tăng và những yếu tố khác như việc làm, năng lực sản xuất cũng như công năng sử dụng đều cho thấy ngành sãn xuất nội địa EU đã phục hồi dần từ khó khăn

    • Thiệt hại của những nhà sản xuất nguyên đơn, nếu có, là do sự sụt giảm cầu ở EU, do những thay đổi trong thị hiếu tiêu dùng, do trị giá đồng euro quá cao so với đô la, do khủng hoảng kinh tế, do năng lực cạnh tranh sụt giảm của các nhà sản xuất nội địa, và giá nhân công tăng cao ở EU dẫn tới việc phân bố sản xuất sang các nước khác. Ngoài ra không một nhà sản xuất nội địa được lựa chọn điều tra nào cung cấp được bằng chứng về giá của hàng nhâp khẩu (vốn là một yếu tố rất quan trọng để đánh giá thiệt hại).

Mặc dù việc đánh giá thiệt hại trong rà soát lại không nhất thiết phải thực hiện từ đầu với việc xem xét đầy đủ các góc độ (theo án lệ Hoa Kỳ - OCTG) nhưng Điều 11.3 ADA vẫn đòi hỏi việc này phải được thực hiện một cách khách quan và vô tư. Vì vậy việc EC khi đánh giá về vấn đề này bỏ qua một loạt các thực tế khách quan nói trên có thể là một sự vi phạm đối với Điều 11.3.

Từ các phân tích nói trên cho thấy Quy định cơ bản của EU về chống bán phá giá và Quyết định liên quan của EC trong vụ điều tra chống bán phá giá đối với giầy mũ da Việt Nam có nhiều điểm không phù hợp với các quy định và nguyên tắc liên quan của WTO. Do đó, từ góc độ pháp lý thuần túy, nếu Việt Nam quyết định khởi kiện EU về vấn đề này hoặc tham gia vụ kiện của Trung Quốc với tư cách là bên thứ ba, chúng ta hoàn toàn có cơ hội thắng.

Như vậy, việc Việt Nam lựa chọn có khởi kiện độc lập, tham gia với tư cách bên thứ ba hay không hành động gì hoàn toàn phụ thuộc vào các tính toán về lợi ích – chi phí trong từng lựa chọn mà không phụ thuộc vào tính pháp lý của vấn đề tranh chấp.
III. Phân tích các khía cạnh chính trị liên quan đến một khả năng Việt Nam kiện EU liên quan đến vụ điều tra chống bán phá giá giầy mũ da Việt Nam

Thông thường, việc khởi kiện một nước ra WTO hay không và với tư cách nào cần được xem xét không chỉ từ góc độ pháp lý mà còn từ các khía cạnh khác (cân nhắc lợi ích – chi phí).

Hơn nữa, trong trường hợp vụ việc cụ thể này, do Trung Quốc đã tiến hành khởi kiện EU ra WTO về cùng một số nội dung, việc Việt Nam có nên/cần khởi kiện hay không còn cần được cân nhắc trên cơ sở các kết quả và tác động có thể có từ vụ kiện của Trung Quốc.

Việc xem xét từ các góc độ nói trên sẽ được thực hiện ở cả 03 lựa chọn:



  • Việt Nam khởi kiện EU ra WTO (với tư cách nguyên đơn);

  • Việt Nam tham gia vào vụ Trung Quốc kiện EU trong khuôn khổ WTO (với tư cách bên thứ ba);

  • Việt Nam không hành động gì.

1. Thuận lợi và bất lợi của việc Việt Nam khởi kiện EU ra WTO

(i) Những lợi ích có thể có

Trên suy đoán là Viêt Nam có nhiều căn cứ về pháp lý để thắng kiện, nếu Việt Nam tự mình đứng đơn khởi kiện EU ra WTO liên quan đến vụ việc này, những lợi ích có thể bao gồm



  • Những lợi ích mà phán quyết của WTO mang lại trực tiếp cho Việt Nam (yếu tố không thể có nếu Việt Nam không trực tiếp kiện EU):

+ Doanh nghiệp giầy của Việt Nam sẽ có lợi thế nếu bị điều tra gia hạn thuế chống bán phá giá tiếp theo;

+ Doanh nghiệp trong các ngành xuất khẩu khác cũng có lợi thế hơn nếu không may bị kiện chống bán phá giá ở thị trường EU (mà khả năng này là lớn bởi thị trường này hiện đang đứng đầu về số lượng các vụ điều tra chống bán phá giá đối với hàng hóa xuất khẩu Việt Nam), ít nhất ở việc quy định về các tiêu chí để được hưởng quy chế đối xử riêng biệt sẽ được bãi bỏ (do Việt Nam kiện về quy định pháp luật nên nếu EU thua kiệnvà nhà chức trách EU sẽ phải xem xét cẩn trọng hơn trong các phương pháp tính toán của mình;



  • Những lợi ích gián tiếp mà phán quyết của WTO có thể mang lại cho Việt Nam:

+ Một thông điệp với các nước rằng Việt Nam sẵn sàng hành động để bảo vệ lợi ích chính đáng của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường các nước (để họ không thể tùy tiện trong việc áp dụng các biện pháp bất lợi đối với xuất khẩu Việt Nam);

+ Nâng cao vị thế của Việt Nam (đặc biệt có tác động tốt cho những đàm phán thương mại đa phương trong khuôn khổ WTO, ví dụ đàm phán sửa đổi ADA).



(ii) Những bất lợi có thể có

Một vụ kiện đối với EU trong thời điểm này, về vụ việc này, có thể mang lại những bất lợi đáng kể:



  • Hình ảnh về một “liên minh Việt Nam – Trung Quốc” chống lại EU:

Việt Nam có thể khởi xướng vụ kiện riêng chống lại EU ra WTO và là một nguyên đơn độc lập. Tuy nhiên, do đối tượng của vụ này giống hoàn toàn với vụ kiện của Trung Quốc với EU nên hầu như chắc chắn là WTO sẽ ghép 2 vụ việc này làm một. Và như vậy Trung Quốc cùng Việt Nam sẽ đứng song song ở vị trí nguyên đơn chống lại EU và có thể trở thành một “liên minh Việt Nam – Trung Quốc” trong mắt thế giới.

Đây là một nguy cơ rất nguy hiểm bởi Trung Quốc là nước xuất khẩu lớn trên thế giới với năng lực cạnh tranh càng ngày càng mạnh, đang áp đảo ở nhiều thị trường, và do đó đang là đối tượng mà rất nhiều nước nhập khẩu phải e ngại và tính toán các biện pháp để đối phó. Trong quá khứ, ở nhiều thị trường, hàng hóa của Việt Nam tuy không đe dọa ngành sản xuất nội địa các nước nhưng do tác động lớn từ hàng tương tự của Trung Quốc, hàng Việt Nam cũng bị liên lụy bởi những biện pháp mà các nước áp dụng để đối phó với hàng Trung Quốc.

Ngay tại thị trường EU, theo nghiên cứu của chuyên gia, trong vòng 10 năm trở lại đây, mọi biện pháp phòng vệ thương mại đối với hàng Việt Nam đều có “tiền đề” là một biện pháp phòng vệ thương mại mà EU áp dụng đối với hàng hóa tương tự của Trung Quốc. Trong những vụ việc này, hoặc là hàng Việt Nam bị áp thuế chống bán phá giá để chống lại hành vi lẩn tránh thuế chống bán phá giá đã áp dụng cho hàng hóa Trung Quốc trước đó. Trong những vụ việc còn lại, hàng Việt Nam bị kiện luôn cùng hàng Trung Quốc mặc dù chỉ Trung Quốc là mục tiêu chính của các ngành sản xuất nội địa EU (họ kiện luôn Việt Nam chỉ để tránh “hậu quả lẩn tránh thuế” của các nhà sản xuất xuất khẩu Trung Quốc sau này).

Vì vậy, Việt Nam đang hết sức nỗ lực để thuyết phục thế giới rằng hàng Việt Nam khác hàng Trung Quốc, hệ quả hay tác động của hàng hóa xuất khẩu Việt Nam hoàn toàn không ở mức độ nguy hiểm và tính chất bất ngờ như hàng Trung Quốc. Chỉ khi thế giới nhận ra điều này thì hàng hóa xuất khẩu Việt Nam mới có thể hy vọng tránh được phần nào những liên lụy do gần giống với hàng Trung Quốc và do ở quá gần “công xưởng thế giới” này.

Trong những nỗ lực như vậy, một vụ kiện tạo ra hình ảnh hay ấn tượng về một “liên minh Việt Nam – Trung Quốc” chống lại EU hay bất kỳ nước nào không phải là một lựa chọn tốt.

Điều này đặc biệt không tốt trong bối cảnh EU và Việt Nam đang đàm phán FTA. Việt Nam đang hy vọng có thể đàm phán/mặc cả nhiều vấn đề nhạy cảm với EU trong đàm phán này (ví dụ vấn đề nền kinh tế phi thị trường, các rào cản thương mại, GSP..), những hành động gây mất thiện cảm có thể khiến đàm phán về những vấn đề vốn thuộc quyền tự do quyết định của EU này không đạt kết quả mong muốn.



  • Thời gian giải quyết vụ kiện dài có thể làm vô hiệu hóa những lợi ích trực tiếp cho doanh nghiệp da giầy

Một vụ tranh chấp trong khuôn khổ WTO kéo dài khoảng 1.5 năm với nhiều bước khác nhau (và khả năng gia hạn ở mỗi bước là khá lớn). Như vậy nếu vụ kiện bắt đầu vào thời điểm này (tháng 4/2010) thì phải cuối năm 2011 (ít nhất là tháng 10/2011) mới có phán quyết của WTO về vụ việc này. Phán quyết này, theo quy định, sẽ không có hiệu lực hồi tố.

Trong khi đó thuế chống bán phá giá đối với giầy mũ da Việt Nam được gia hạn 15 tháng kể từ tháng 1/2010, như vậy đến 4/2011 thuế này hết hiệu lực. Do đó phán quyết tháng 10/2011 của WTO, nếu có, sẽ không còn ý nghĩa gì đối với biện pháp thuế gốc cũng như gia hạn hiện tại.

Do đó những lợi ích trực tiếp cho doanh nghiệp da giầy từ vụ kiện sẽ không còn trừ khi các doanh nghiệp bị tiếp tục điều tra rà soát gia hạn lần thứ 2 (và khi đó thì mới có thể hy vọng EC điều chỉnh các phương pháp rà soát gia hạn phù hợp với phán quyết của WTO).
2. Thuận lợi và bất lợi của việc Việt Nam tham gia vụ kiện Trung Quốc – EU với tư cách bên thứ ba

(i) Lợi ích có thể có

Việc tham gia vụ kiện của Trung Quốc với EU này với tư cách là bên thứ ba có thể tạo điều kiện cho Việt Nam:



  • Tham gia sâu hơn vào vụ kiện của Trung Quốc

Với tư cách là bên thứ ba (có quyền và lợi ích liên quan), Việt Nam được quyền tham gia vào các phiên làm việc liên quan, được trình các văn bản lập luận liên quan trong trường hợp cần thiết (đặc biệt trong việc phản đối lập luận của Trung Quốc về việc EU đối xử ưu ái Việt Nam hơn so với Trung Quốc). Cũng từ việc tham gia này, Việt Nam có thể học hỏi một số kinh nghiệm cho mình.

Tuy nhiên, về cơ bản, những lợi ích này không lớn. Kinh nghiệm của Việt Nam từ hai lần tham gia với tư cách là bên thứ 3 trong hai vụ kiện trong WTO trước đây (liên quan đến vụ điều tra chống bán phá giá tôm của Hoa Kỳ) cho thấy rất rõ điều này.



  • Nếu Trung Quốc thắng kiện, Việt Nam có thể được hưởng lợi gián tiếp từ khuyến nghị của Ban hội thẩm/Cơ quan phúc thẩm (dưới các hình thức khác nhau)

Thứ nhất, trong một vụ kiện có sự tham gia của các bên thứ ba, mặc dù không trực tiếp điều chỉnh được quyền và nghĩa vụ của các bên thứ ba này, thông thường ngôn ngữ trong báo cáo của các Ban Hội thẩm/Cơ quan phúc thẩm (tạm gọi là phán quyết WTO) được viết theo nghĩa tương đối rộng để bao hàm ở mức độ nào đó đến các chủ thể thứ ba ngoài các nguyên đơn, bị đơn. Đây là điều mà nhiều chuyên gia “nhìn thấy” trong các phán quyết WTO trước đây. Mặc dù vậy, đây chỉ là “lợi ích suy đoán”, còn về nguyên tắc thì các bên thứ ba không phải là đối tượng điều chỉnh của phán quyết WTO và do đó nếu EU từ chối thực hiện một nghĩa vụ nào đó theo phán quyết đối với Việt Nam thì Việt Nam cũng không thể khiếu nại được với tư cách bên thứ ba của vụ tranh chấp.

Thứ hai, riêng đối với vụ điều tra chống bán phá giá đối với giầy mũ da, đối tượng của vụ tranh chấp Trung Quốc – EU trong khuôn khổ WTO, Việt Nam và Trung Quốc là hai nước xuất khẩu cùng bị điều tra, cùng bị áp thuế, cùng bị gia hạn thuế trong cùng các quyết định. Vì vậy, đây là hai đối tượng có vị thế như nhau trong vụ điều tra chống bán phá giá này. Nếu phán quyết của WTO kết luận EU đã áp dụng những biện pháp điều tra tính toán không thích hợp với Trung Quốc trong vụ điều tra chống bán phá giá giầy mũ da thì theo nguyên tắc giải quyết tranh chấp trong WTO, EU chỉ phải thay đổi các phương pháp tính toán cho trường hợp của Trung Quốc; tuy nhiên, kết hợp với nguyên tắc không phân biệt đối xử (một nguyên tắc chung trong GATT1994 và là nguyên tắc nêu riêng trong Điều 9.2 ADA liên quan đến cách thức áp thuế), EU cũng có nghĩa vụ phải áp dụng với Việt Nam phương pháp tương tự như đã áp dụng với Trung Quốc. Do đó Việt Nam có thể có lợi trực tiếp từ vụ kiện của Trung Quốc dù không phải nguyên đơn.



(ii) Bất lợi có thể có

Việc Việt Nam tham gia vụ kiện của Trung Quốc với tư cách bên thứ ba sẽ:



  • Tạo hình ảnh một liên minh Việt Nam – Trung Quốc chống lại EU (xem phân tích phần III.1 nói trên)

  • Với tư cách là bên thứ ba, Việt Nam không thể thay đổi những viện dẫn vi phạm của Trung Quốc, mà trong đó có cả những viện dẫn bất lợi cho Việt Nam (và mặc dù về nguyên tắc Việt Nam có thể ủng hộ Trung Quốc ở điểm này, phản đối Trung Quốc ở điểm khác nhưng trên cơ bản sẽ tạo hình ảnh “liên minh” với Trung Quốc và công chúng nói chung ít biết về việc Việt Nam phản đối lập luận bất lợi cho Việt Nam);


3. Thuận lợi và bất lợi của việc Việt Nam không hành động gì

(i) Lợi ích có thể có

  • Một thông điệp rõ ràng với thế giới rằng Việt Nam khác biệt với Trung Quốc

Như đã đề cập ở trên, mọi hành động của Việt Nam trong vụ tranh chấp Trung Quốc – EU này (dù là kiện độc lập hay tham gia với tư cách bên thứ ba) đều có thể gây lầm tưởng rằng có một liên minh Việt Nam – Trung Quốc trong vấn đề này và rằng Việt Nam và Trung Quốc là giống nhau. Việc Việt Nam không hành động gì khi Trung Quốc đã khai hỏa trong một vụ tranh chấp mà gốc của nó là vụ việc có liên quan đồng thời và tương tự cả Việt Nam và Trung Quốc có thể là một thông điệp rõ ràng rằng Việt Nam không giống Trung Quốc.

  • Lợi ích gián tiếp từ nguyên tắc không phân biệt đối xử

Về nguyên tắc, nếu Việt Nam không can thiệp vào vụ kiện Trung Quốc – EU (dưới bất kỳ hình thức nào) thì kết quả của vụ kiện không ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp tới Việt Nam.

Tuy nhiên, vì Việt Nam và Trung Quốc có vị trí như nhau trong vụ kiện gốc của vụ tranh chấp trong WTO nên nếu phán quyết của WTO cho rằng EU vi phạm WTO và do đó phải sửa đổi các biện pháp mà nước này đã áp dụng với Trung Quốc thì theo nguyên tắc không phân biệt đối xử, EU cũng phải thực hiện những sửa đổi với Việt Nam.

Trên thực tế, đã từng có án lệ của WTO có kết quả tương tự. Ví dụ trong vụ Ấn Độ kiện EU ra WTO liên quan đến các phương pháp tính toán của EU sử dụng trong vụ điều tra chống bán phá giá đối với ga trải giường cotton của Ấn Độ và Pakistan, WTO ra phán quyết rằng phương pháp của EU sử dụng cho Ấn độ là sai. Thực hiện phán quyết này, EU đã phải hủy bỏ biện pháp thuế áp dụng với ga trải giường Ấn Độ (do không có đủ thông tin để tính toán theo phương pháp tính khác). Biện pháp thuế này đối với Pakistan cũng được EU hủy (do cả Pakistan và Ấn Độ đều bị điều tra như nhau trong vụ điều tra gốc) dù Pakistan không tham gia vụ kiện giữa Ấn Độ và EU nói trên.


  • Lợi ích gián tiếp từ việc hủy một quy định pháp luật

Một trong các viện dẫn của Trung Quốc về vi phạm của EU là Quy định cơ bản về chống bán phá giá của EU (Điều 9.5) vi phạm nhiều điều khoản của WTO. Nếu viện dẫn này được xử thắng (mà khả năng này là rất lớn) thì EU sẽ phải hủy/sửa đổi quy định tại Điều 9.5 này.

Điều 9.5 là điều khoản áp dụng chung (cho tất cả các nước xuất khẩu nói chung và các nước xuất khẩu có nền kinh tế phi thị trường). Vì vậy nếu EU sửa đổi/hủy bỏ Điều này thì cũng đồng nghĩa với việc không chỉ Trung Quốc mà tất cả các nước xuất khẩu liên quan cũng sẽ không phải áp dụng Điều 9.5 cũ nữa. Do đó, dù không phải là bên nguyên đơn hay bên thứ ba của vụ tranh chấp này, Việt Nam (cũng như tất cả các nước khác) cũng được hưởng kết quả phán quyết WTO trong vấn đề này tương tự Trung Quốc.



(ii) Bất lợi có thể có

Việc Việt Nam không tham gia dưới bất kỳ hình thức nào với vụ kiện này của Trung Quốc cũng có thể gây ra một số điều không thuận như:



  • Một số ý kiến có thể suy đoán rộng ra rằng Việt Nam hoàn toàn đồng ý với các phương pháp hay quy định của EU. Trong khi đó, phân tích tại phần II cho thấy rõ ràng EU có nhiều điểm vi phạm WTO và những vi phạm này không chỉ bất lợi cho Việt Nam trong vụ giầy mũ da mà còn trong tất cả các vụ kiện phòng vệ khác đã hoặc sẽ nhắm vào xuất khẩu Việt Nam.

Tuy nhiên, đây chỉ là bất lợi suy đoán và không mang tính phổ quát bởi việc một nước A không kiện một biện pháp vi phạm WTO nào đó của nước B trong WTO không đồng nghĩa với việc nước A hoàn toàn đồng ý với tính hợp pháp của biện pháp đó mà đơn giản chỉ là A không kiện mà thôi. Việc đi kiện trong WTO là kết quả của nhiều tính toán khác nhau cả trong ngắn hạn lẫn trong lâu dài và không chỉ dừng lại ở những căn cứ pháp lý.

  • Việt Nam không thể can thiệp vào phán quyết của WTO để phán quyết này có lợi cho Việt Nam

Do không tham gia vào vụ việc, Việt Nam sẽ không thể trình các giải trình hay lập luận liên quan đến vụ việc cho Ban Hội thẩm hay Cơ quan phúc thẩm trong tranh chấp này. Và do đó không thể có bất kỳ hỗ trợ hay phương thức nào để thuyết phục cơ quan giải quyết tranh chấp chấp thuận/ủng hộ những viện dẫn có lợi cho Việt Nam.

Cần lưu ý rằng trong một vụ kiện trong khuôn khổ WTO, trong mọi trường hợp sẽ không thể có khả năng phán quyết gây bất lợi cho nguyên đơn hay cho tất cả các bên khác tham gia hoặc không tham gia vụ kiện so với tình trạng trước khi có tranh chấp. Nói cách khác, nếu nguyên đơn thắng, biện pháp vi phạm sẽ phải điều chỉnh (theo hướng có lợi cho nguyên đơn); nếu nguyên đơn thua thì hệ quả duy nhất chỉ là biện pháp bị kiện sẽ không bị thay đổi – chứ không thể thay đổi theo hướng bất lợi cho nguyên đơn hay bất kỳ bên nào khác.

Vì vậy liên quan đến vụ việc này, Việt Nam dù tham gia với tư cách nguyên đơn, bên thứ ba hay không tham gia (không hành động gì) thì đều có thể hy vọng một kết quả khả quan hơn và chắc chắn trong mọi trường hợp không thể phải chịu hệ quả tồi hơn hiện trạng.

Từ những phân tích nêu trên, có thể thấy về mặt pháp lý có nhiều căn cứ để cho thấy nếu Việt Nam hành động (với tư cách nguyên đơn hay bên thứ ba) thì khả năng thắng đều rất lớn. Tuy nhiên, từ góc độ khác lựa chọn mang lại nhiều lợi ích nhiều nhất, với nỗ lực thấp nhất và rủi ro ít nhất nằm ở lựa chọn thứ 3 – Không hành động gì. Lựa chọn 1 và 2 có thể mang lại những lợi ích tương tự nhưng rủi ro lớn hơn và chi phí cũng cao hơn.



Vì vậy, Hội đồng Tư vấn về phòng vệ thương mại (TRC) của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam khuyến nghị trong vụ việc Trung Quốc kiện EU về vụ giầy mũ da, Việt Nam không nên khởi kiện, cũng không nên tham gia vụ kiện của Trung Quốc với tư cách là bên thứ ba./








Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương