Hà nội, 2009 Mục lục Chương Tổng quan về Thương mại điện tử 7


Điều kiện để đảm bảo cho sự phát triển dịch vụ chứng thực CKĐT



tải về 2.96 Mb.
trang26/77
Chuyển đổi dữ liệu18.08.2016
Kích2.96 Mb.
1   ...   22   23   24   25   26   27   28   29   ...   77

3.3. Điều kiện để đảm bảo cho sự phát triển dịch vụ chứng thực CKĐT

3.3.1. Điều kiện về cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông


Dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử về bản chất là một loại giao dịch điện tử, do đó để triển khai được dịch vụ này cần có những điều kiện nhất định về trình độ công nghệ thông tin và truyền thông của mỗi quốc gia và của các tổ chức, cá nhân tham gia.

Chỉ số Xã hội Thông tin (Information Society Index) được Tập đoàn Dữ liệu quốc tế IDC tập hợp và công bố hàng năm được sử dụng là một trong những căn cứ phổ biến trên thế giới để đánh giá mức độ phát triển xã hội thông tin. Những tiêu chí của chỉ số này có thể được sử dụng để đánh giá điều kiện về cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông cho giao dịch điện tử nói chung và cho hoạt động chứng thực chữ ký điện tử nói riêng. Như vậy, để đảm bảo cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin và truyền thông cho dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử, các điều kiện cần thiết phải đáp ứng gồm:

(i) Cơ sở hạ tầng máy tính: Để đáp ứng những điều kiện này, trước hết cần có công nghiệp phần cứng (cả hàng điện tử và linh kiện máy tính) phục vụ công nghệ thông tin và truyền thông. Tiêu chuẩn để đánh giá điều kiện về công nghệ thông tin và truyền thông thường bao gồm tỷ lệ máy tính trên đầu người và kim ngạch xuất khẩu hàng năm của những mặt hàng này.

(ii) Cơ sở hạ tầng Internet & dịch vụ viễn thông: Dịch vụ Internet và viễn thông là những điều kiện tiếp theo phải đáp ứng để có thể triển khai chứng thực chữ ký điện tử. Điều kiện này được thể hiện ở số lượng thuê bao, tốc độ tăng và số người sử dụng Internet. Về phía nhà cung cấp dịch vụ, điều kiện này được thể hiện ở năng lực của các nhà cung cấp thông qua thị phần, các loại dịch vụ viễn thông và dung lượng kết nối Internet quốc tế.


3.3.2. Điều kiện về khung pháp lý


Để dịch vụ chứng thực điện tử thực sự đi vào cuộc sống, cần phải có một cơ sở pháp lý chặt chẽ với các quy định rõ ràng để bảo đảm quyền lợi và trách nhiệm của các bên khi tham gia giao dịch điện tử. Trước hết, cần có luật và quy định cụ thể về các vấn đề như:

- Thừa nhận giá trị pháp lý của chữ ký điện tử, quy định về nghĩa vụ của người đăng ký cũng như bên chấp nhận chữ ký điện tử trong các giao dịch điện tử; Thừa nhận giá trị pháp lý của các chữ ký số và chứng thư số của nước ngoài

- Quy định hướng dẫn quy trình hoạt động của các cơ quan chứng thực điện tử; điều kiện cấp phép và hoạt động của các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số và cả biện pháp xử lý những vi phạm pháp luật liên quan đến chữ ký số… Quy định các điều kiện đảm bảo an toàn cho chữ ký số;

Do đặc thù của chữ ký số, dù có rất nhiều lợi ích nhưng cũng rất phức tạp về công nghệ, trong quy định của luật cũng như các chính sách cần đảm bảo nhấn mạnh đến khuyến khích sử dụng chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số. Đặc biệt khuyến khích sử dụng trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội để thúc đẩy việc trao đổi thông tin và các giao dịch qua mạng nhằm nâng cao năng suất lao động; mở rộng các hoạt động thương mại; hỗ trợ cải cách hành chính, tăng tiện ích xã hội.

Song song với xây dựng khung pháp lý cần triển khai đồng bộ về phổ biến pháp luật; phát triển ứng dụng; tổ chức đào tạo nguồn nhân lực; nghiên cứu, hợp tác và chuyển giao công nghệ liên quan đến chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số.

Môi trường pháp luật đầy đủ về chữ ký điện tử và dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử là cơ sở để các doanh nghiệp tiến hành triển khai dịch vụ cấp và chứng thực chữ ký số cho các tổ chức và cá nhân để có công cụ ký kết các hợp đồng điện tử thuận tiện, an toàn và phù hợp với trình độ quốc tế.



Hoa Kỳ

- Luật Giao dịch điện tử thống nhất (Uniform Electronic Transaction Act) 1999

- Luật Chữ ký điện tử trong thương mại quốc gia và quốc tế thống nhất (Electronic Signatures in Global and National Commerce Act) 2000

Liên minh Châu Âu (bao gồm cả Bỉ)

- Chỉ thị Thương mại Điện tử (Electronic Commerce Directive), 2000



Hàn Quốc

- Luật thương mại điện tử (The Basic Law on Electronic Commerce)



Singapore

- Luật Giao dịch Điện tử (Electronic Transactions Act) 1998



Việt Nam

- Luật Giao dịch điện tử (Electronic Transactions Act) 2005


3.3.3. Điều kiện về chính sách phát triển của Nhà nước


Để dịch vụ chứng thức có thể phát triển và đi vào cuộc sống, cần phải có sự ủng hộ của Nhà nước thông qua các chính sách khuyến khích phát triển, khuyến khích các doanh nghiệp tham gia dịch vụ và khuyến khích khách hàng sử dụng. Cụ thể, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ phát triển hạ tầng cơ sở mạng Internet và viễn thông, chính sách hỗ trợ xây dựng hành lang pháp lý, chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp đi đầu trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy dịch vụ chứng thực điện tử Việt Nam phát triển.

Trước hết, cần có những quy định, chính sách cụ thể để triển khai áp dụng chữ ký điện tử trong các cơ quan quản lý nhà nước. Đặc biệt, cần có chính sách cụ thể, từng bước khuyến khích triển khai sử dụng chữ ký điện tử trong các giao dịch điện tử như:

- Giao dịch điện tử trong nội bộ cơ quan nhà nước.

- Giao dịch điện tử giữa các cơ quan nhà nước với nhau.

- Giao dịch điện tử giữa cơ quan nhà nước với cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Trên thực tế, cần có những biện pháp, quy định và chính sách cụ thể để triển khai giao dịch điện tử có sử dụng chữ ký điện tử trong nội bộ các cơ quan nhà nước trước, tiếp đến triển khai đối với các giao dịch điện tử giữa các cơ quan nhà nước với nhau. Tiến tới, triển khai ứng dụng chữ ký điện tử và chứng thực chữ ký điện tử cho tổ chức và cá nhân khác để sử dụng trong mọi giao dịch điện tử.

Song song với xây dựng chính sách, cần có cơ quan đầu mối về chứng thực điện tử quốc gia (CA root) để quản lý chung và đưa ra hệ thống chữ ký điện tử thống nhất trong cả nước và phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế. Bên cạnh đó, cần có chính sách chứng thực và tiêu chuẩn chứng thực quốc gia nhằm đảm bảo sự thống nhất và độ tin cậy, an toàn của hệ thống cũng như thuận tiện trong triển khai. Đồng thời, cần có những biện pháp, chính sách cụ thể để đẩy nhanh tiến độ hoạt động của Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số quốc gia.

3.3.4. Điều kiện về nội lực của tổ chức sử dụng chữ ký điện tử


Để phát triển dịch vụ chứng thực điện tử, cần có một đội ngũ chuyên gia công nghệ thông tin đủ mạnh, có khả năng bắt kịp với sự phát triển của công nghệ, kỹ thuật cũng như có khả năng thiết kế, xây dựng các ứng dụng đáp ứng yêu cầu khi triển khai dịch vụ chứng thực điện tử. Yêu cầu về nhân lực không chỉ về chất lượng mà phải cả về số lượng để có thể triển khai áp dụng chữ ký điện tử đồng bộ tại các tổ chức trên cả nước trong các giao dịch phi thương mại và thương mại.

Điều này đòi hỏi phải có các chính sách khuyến khích đào tạo chuyên sâu và rộng rãi về thương mại điện tử, khuyến khích ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính và kinh doanh, đồng thời khuyến khích đào tạo chuyên sâu về ứng dụng chữ ký điện tử. Bên cạnh đó, cần tạo điều kiện thuận lợi để các cơ sở đào tạo tổ chức triển khai đào tạo nguồn nhân lực để triển khai hoạt động này.

Kinh nghiệm các nước đã triển khai thành công dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử cho thấy, khó khăn khi triển khai dịch vụ chứng thực điện tử và áp dụng chữ ký điện tử trong giao dịch điện tử chính là ở trình độ của đội ngũ cán bộ chuyên trách về hoạt động này trong các tổ chức sử dụng dịch vụ này.

3.3.5. Điều kiện về nội lực của các tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực


Chữ ký điện tử khi được chính thức đưa vào hoạt động sẽ có số lượng tổ chức và cá nhân tham gia sử dụng rất lớn. Do đó, nội lực của các cơ quan tổ chức cung cấp dịch vụ phải đảm bảo được các yêu cầu rất cao về hạ tầng kỹ thuật, mạng Internet, về nguồn nhân lực… Nhìn chung, các tổ chức tham gia cung cấp dịch vụ chứng thực điện tử phải đáp ứng 5 điều kiện:

(i) Điều kiện về thủ tục, giấy phép hoạt động: Các tổ chức tham gia cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký điện tử phải đáp ứng các điều kiện về thủ tục như: (1) Có giấy phép cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số; (2) Có chứng thư số do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số quốc gia cấp.

(ii) Điều kiện về tài chính: Để được cấp phép hoạt động, tổ chức cung cấp dịch vụ phải đáp ứng những điều kiện nhất định về tài chính như: (a) Có đủ năng lực tài chính để thiết lập hệ thống trang thiết bị kỹ thuật, tổ chức và duy trì hoạt động phù hợp với quy mô cung cấp dịch vụ; (b) Ký quỹ tại một ngân hàng hoặc cam kết mua bảo hiểm để giải quyết các rủi ro và các khoản đền bù có thể xảy ra trong quá trình cung cấp dịch vụ và thanh toán chi phí tiếp nhận và duy trì cơ sở dữ liệu của doanh nghiệp trong trường hợp bị thu hồi giấy phép.

(iii) Điều kiện về nhân lực: Các doanh nghiệp phải đáp ứng thêm điều kiện về nhân lực như: (a) Có đội ngũ nhân viên kỹ thuật, nhân viên quản lý, điều hành, nhân viên quản lý an ninh và nhân viên dịch vụ khách hàng đáp ứng được yêu cầu về chuyên môn và quy mô triển khai dịch vụ; không có tiền án, tiền sự; (b) Người đại diện theo pháp luật hiểu biết pháp luật về chữ ký số và dịch vụ chứng thực chữ ký số.

(iv) Điều kiện về kỹ thuật: Do đặc thù của dịch vụ chứng thực chữ ký số, các doanh nghiệp phải đáp ứng những điều kiện rất chặt chẽ về kỹ thuật. Cụ thể, các doanh nghiệp đăng ký tham gia cung cấp dịch vụ này phải thiết lập hệ thống thiết bị kỹ thuật đảm bảo các yêu cầu: (a) Lưu trữ đầy đủ, chính xác và cập nhật thông tin của thuê bao phục vụ cho việc cấp chứng thư số trong suốt thời gian chứng thư số có hiệu lực; (b) Đảm bảo tạo cặp khoá chỉ cho phép mỗi cặp khoá được tạo ra ngẫu nhiên và đúng một lần duy nhất; có tính năng đảm bảo khoá bí mật không bị phát hiện khi có khoá công khai tương ứng; (c) Hệ thống phân phối khóa cho thuê bao phải đảm bảo sự toàn vẹn và bảo mật của cặp khoá. Trong trường hợp phân phối khoá thông qua môi trường mạng máy tính thì hệ thống phân phối khoá phải sử dụng các giao thức bảo mật đảm bảo không lộ thông tin trên đường truyền.

(v) Điều kiện về kinh doanh: Tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực điện tử cũng phải đáp ứng các yêu cầu về cơ sở hạ tầng phục vụ kinh doanh cao hơn so với các ngành kinh doanh dịch vụ khác, cụ thể như: (a) Có phương án kỹ thuật và phương án kinh doanh khả thi, phù hợp với các quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn bắt buộc áp dụng; (b) Có các phương án kiểm soát sự ra vào trụ sở, quyền truy nhập hệ thống, quyền ra vào nơi đặt thiết bị phục vụ việc cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số; (c) Có các phương án dự phòng đảm bảo duy trì hoạt động an toàn, liên tục và khắc phục khi có sự cố xảy ra;

Như vậy, có thể thấy để tham gia cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số, các doanh nghiệp phải đáp ứng nhiều yêu cầu rất cao về tài chính, nhân sự và kỹ thuật. Tuy nhiên, các yêu cầu về nhân sự và kỹ thuật cần được quy định cụ thể và rõ ràng hơn nữa đối với từng loại, từng cấp của tổ chức này. Đặc biệt là các yêu cầu cụ thể về trang thiết bị phần cứng, phần mềm phục vụ cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số.

Câu hỏi ôn tập


  1. Chữ ký số là gì? Chữ ký số có vài trò như thía nào trong thương mại điện tử ?

  2. Hãy nêu các nguyên tắc để sử dụng chữ ký điện tử.

  3. Hãy nêu qui trình ký kết chữ kí điện tử.

  4. So sánh các nguồn luật điều chỉnh chữ ký điện tử trên thế giới và tại Việt Nam.

  5. Điều kiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật, pháp lý để triển khai chữ kí điện tử.

  6. Hãy nêu một vài hình thức kí kết bằng chữ kí điện tử tại Việt Nam.

  7. Hãy nêu thực trạng kí kết chữ kí điện tử tại Việt Nam hiện nay.

  8. Chứng thực chữ kí điện tử là gì ? Vai trò của chứng thực chữ kí điện tử ?


Thuật ngữ

Thẩm định (authentication): là việc nhận ra những nhận dạng riêng của các cá nhân

Chứng thực: thông điệp dữ liệu hay bất cứ bản ghi nào được chứng thực bởi một tổ chức nhằm nhận ra ai là người nắm giữ khóa ( bí mật hay công khai)

Hóa sinh : là công nghệ thẩm định cái cho phép phân tích và xác định các đặc điểm của con người như ngón tay, võng mạc, âm thanh, đặc điểm khuôn mặt và khuôn bàn tay.

Cơ quan chứng thực (certification authority): là bên thứ ba độc lập đáng tin cậy sẽ cung cấp và quản lý các chứng thực về an toàn và các khóa công khai cho việc mã hóa thông điệp.

Mật mã (: là các ký tự được kết nối với nhau nhằm mã hóa một thông điệp

Thông điệp dữ liệu: là thông tin được tạo ra, gửi, nhận và lữu trữ bằng các phương tiện điện tử.



Số hóa (digitalization): là các số được ghép với nhau với độ dài cố định nhằm rút gọn nội dung của thông điệp thông qua hàm băm.

Chứ ký số ( digital signature): là một loại chữ ký điện tử có sử dụng các số và phương thức mã hóa

Chữ ký điện tử (electric signature): là hệ thống nhận dạng cá nhân bao gồm chữ ký số, mã số nhận dạng cá nhân (PIN), mật khẩu, mã thẻ thông minh, các nhận dạng sinh học ….

Mã hóa (cryptography): là hình thức sử dụng các thuật toán và chìa khóa để mã hóa thông điệp trước khi gửi và phá mã thông điệp khi nhận được.

Hàm băm (hash): là thuật toán để rút gọn các thông điệp thành các con số dài cố định.

Cơ quan chứng thực thông tin ( aut: là cá nhân hay tổ chức chứng thực thông tin và nhận ra ai là người ký điện tử.

Tính toàn vẹn: đảm bảo dữ liệu là không bị thay đổi

Không thể phủ nhận: không thể chối bỏ giao dịch





1   ...   22   23   24   25   26   27   28   29   ...   77


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương