Họ Muội bay: Delphacidae Bộ Cánh đều: Homoptera Tác hại



tải về 144.97 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu07.06.2018
Kích144.97 Kb.
Rầy nâu - rầy lưng trắng

Tên khoa học: Rầy nâu: Nilaparvata lugens Stal.

Rầy lưng trắng: Sogatella furcifera Horvath.



Họ Muội bay: Delphacidae

Bộ Cánh đều: Homoptera
1. Tác hại

- Tác hại trực tiếp: Rầy dùng vòi chích hút nhựa cây để lại trên lá, thân một vệt nâu cứng, cản trở sự luân chuyển nước và chất dinh dưỡng làm thân, lá bị khô héo.

+ Rầy lưng trắng gây hại giai đoạn đẻ nhánh-đòng làm cây úa vàng và cằn;

+ Rầy nâu hại giai đoạn trỗ-chắc xanh, mật độ cao gây ra hiện tượng cháy rầy.

- Tác hại gián tiếp: Rầy nâu là môi giới truyền bệnh virus vàng lùn, lùn xoắn lá.

Rầy lưng trắng truyền virus gây bệnh lùn sọc đen.



Ruộng lúa bị rầy nâu gây hại



2. Đặc điểm hình thái




Rầy nâu

Rầy lưng trắng

Trưởng thành

- Có 2 loại: Cánh dài và cánh ngắn

+Cánh dài: Màu nâu, cánh phủ kín bụng

Có một vệt trắng rõ ràng trên lưng ngực và một chấm đen trên mép cánh

+Cánh ngắn: Cánh phủ 1/3 lưng bụng, bụng tròn màu nâu

Màu xám, bụng thon hơn rầy nâu

Rầy non

- 5 tuổi, bụng tròn. Mới nở màu trắng xám, sau có màu nâu, bụng tròn

- 5 tuổi, bụng thon hơn. Màu trắng và linh hoạt hơn rầy nâu

Trứng

- Trong suốt, đẻ ở bẹ, gân lá, ổ giống nải chuối

- Trong suốt, đẻ ở bẹ, gân lá, ổ giống nải chuối


Trứng Rầy non



Trưởng thành rầy nâu Trưởng thành rầy lưng trắng



3. Quy luật phát sinh gây hại

           * Vòng đời : 20-30 ngày

           + Trứng: 6-7 ngày

           + Rầy non: 12-14 ngày

           + Trưởng thành: 10-12 ngày

- Trưởng thành được 4-5 ngày thì bắt đầu đẻ trứng, một trưởng thành đẻ được 400-600 trứng. Có xu tính nhẹ với ánh sáng.

- Rầy non thường tập trung ở gốc sát mặt nước, ít di chuyển. Khi bị động có thể nhảy lên các bộ phận khác của cây hoặc rơi xuống nước. Nhiệt độ thích hợp cho rầy phát triển là 25-30oC, ẩm độ 80-85%.

- Điều kiện môi trường thuận lợi, thức ăn phong phú thì rầy cánh ngắn xuất hiện nhiều; trong điều kiện không thuận lợi (cuối vụ-rầy hết thức ăn) thì rầy cánh dài là chủ yếu.

Khi trưởng thành cánh ngắn xuất hiện nhiều (0,5-2 con/khóm) báo hiệu rầy lứa mới sẽ phát sinh thành dịch.

- Một năm có 6-7 lứa. Vụ xuân thường gây hại nặng lứa 2, 3 (tháng 4-5). Vụ mùa gây hại nặng lứa 6, 7 (tháng 9-10).

- Bón nhiều đạm, cấy to và dầy sẽ bị hại nặng hơn. Ruộng nước ra vào ít (nước tù) sẽ thuận lợi cho rầy phát triển.

4. Biện pháp quản lý

- Sử dụng giống kháng hoặc ít nhiễm rầy.

- Cấy đúng mật độ, cấy nhỏ dảnh, chăm bón cân đối.

- Phun thuốc khi trứng nở được 80% với mật độ > 50 con/khóm.

Thuốc sử dụng:

+ Giai đoạn đẻ nhánh-đòng: Dùng các loại thuốc nội hấp và thuốc ức chế sinh trưởng: Cytoc 250WP, Conphai 10WP, Actara 25WG, Asarasuper 250WDG, Wofara 300WG, Onera 300WG, Dantotsu 16 WSG, Chatot 600WG, Applaud 25SC, Aperlaur 100WP

+ Giai đoạn đòng già - ngậm sữa, chắc xanh: Chỉ dùng các loại thuốc tiếp xúc có hoạt chất Fenobucarb (Bassa 50EC, Azora 350EC, Jetan 50EC, Bascide 50EC, Nibas 50ND…) và nhóm Chlorpyrifos Ethyl (Victory 585EC, Pyrifdaaic 500EC…).

* Phải rẽ lúa 4 hàng/băng; nếu lúa tốt, mật độ rầy cao, rẽ 3 hàng/băng và phun trực tiếp vào nơi cư trú của rầy.



*Chú ý: Tuyệt đối không hỗn hợp nhóm thuốc Pyrethroid (Fastac 5EC, Altach 5EC, Cyperkill 5EC) với các loại thuốc khác ở đầu vụ tránh gây bộc phát rầy cuối vụ và ô nhiễm môi trường.

- Sau phun 3 ngày đối với rầy lưng trắng, 1-2 ngày với rầy nâu cần kiểm tra ruộng; nếu mật độ rầy còn > 50 con/khóm phải phun lại.




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương