Gvhd: ncs. Ths. Phan thanh hải lời mở ĐẦU



tải về 285.79 Kb.
trang1/3
Chuyển đổi dữ liệu02.09.2016
Kích285.79 Kb.
  1   2   3

GVHD: NCS.Ths. PHAN THANH HẢI



LỜI MỞ ĐẦU

Kiểm toán là hoạt động nhằm xác minh tính trung thực và hợp lý của các tài liệu, số liệu kế toán, báo cáo tài chính của các tổ chức, cơ quan đơn vị, doanh nghiệp, bảo đảm việc tuân thủ các chuẩn mực và các quy định hiện hành.

Kiểm toán làm gia tăng giá trị cho các Báo cáo tài chính (BCTC). Từ đó những người quan tâm tới tình hình tài chính của đơn vị như: Nhà đầu tư, các ngân hàng, khách hàng, nhà cung cấp, người lao động, nhà nước… để đưa ra các quyết định kinh tế như: Đầu tư, cho vay, cấp tín dụng thương mại, bán hàng, đưa ra các chính sách thuế phù hợp… Những nhận xét đánh giá của những công ty này chính là căn cứ cho các nhà đầu tư khi họ cân nhắc có nên đầu tư hay không dựa vào các báo cáo kiểm toán về tính trung thực và hợp lý của các số liệu kế toán của một công ty


  1. Lý do chọn đề tài

Trên thế giới đã và đang xảy ra nhiều vụ kiện các doanh nghiệp khổng lồ do gian lận báo cáo tài chính (BCTC) dẫn đến sự vỡ nợ và phá sản như Enron, Worldcom, SNhững vụ việc này đang đặt ra cho giới truyền thông nghi vấn về trách nhiệm của kiểm toán viên (KTV) và làm tăng sự nghi ngờ của công chúng và những nhà đầu tư về tính trung thực của BCTC đã kiểm toán.

Hiện nay, thị trường chứng khoán nước ta đang phát triển rất mạnh mẽ. Nhiều nhà đầu tư Việt Nam và nước ngoài đã tham gia vào thị trường chứng khoán. Họ bắt đầu quan tâm đến BCTC đã kiểm toán của những công ty niêm yết. Do quyền lợi của những nhà quản lý doanh nghiệp gắn liền với sự lên xuống của giá cổ phiếu, nên các gian lận trên BCTC có khả năng xảy ra rất cao và gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhà đầu tư. Lúc này, tại Việt Nam, việc KTV đảm bảo BCTC phản ánh trung thực tình hình tài chính của doanh nghiệp và BCTC không còn sai phạm trọng yếu (bất kể do gian lận hay sai sót) là rất quan trọng. KTV nếu thực hiện tốt trách nhiệm này sẽ góp phần giúp doanh nghiệp thu hút được vốn, giúp những nhà đầu tư có cái nhìn đúng đắn về doanh nghiệp để thực hiện việc ra quyết định đầu tư đúng đắn và giúp thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển hơn.



Việc tìm hiểu về các vụ kiện, tranh chấp có liên quan đến công ty kiểm toán trên thế giới và Việt Nam trong thời gian qua giúp KTV hiểu rõ trách nhiệm của mình, hoàn thành tốt mục tiêu của cuộc kiểm toán, có bằng chứng về sự tuân thủ chuẩn mực và tránh được các trách nhiệm pháp lý trong những vụ kiện về gian lận trên BCTC đã kiểm toán

2.Mục đích nghiên cứu

  • Việc nghiên cứu giúp ta hiểu rõ những mặt còn thiếu sót, hạn chế trong hệ thống kiểm toán hiện nay, từ đó rút ra bài học từ những sự thất bại của các công ty kiểm toán lớn, tránh đi vào vết xe đổ .

  • Nghiên cứu sự thay đổi các điều luật, chuẩn mực, quy định của kế toán, kiểm toán.

3.Phương pháp nghiên cứu

  • Sử dụng công cụ phân tích

  • Phân tích thông tin

4.Phạm vi nghiên cứu

  • Tìm hiểu về các vụ kiện trong và ngoài nước

  • Tìm hiểu sự thay đổi về chuẩn mực, quy đinh về kế toán, kiểm toán.


PHẦN NỘI DUNG
MỘT SỐ VỤ KIỆN, TRANH CHẤP CÓ LIÊN QUAN TỚI CÁC CÔNG TY

KIỂM TOÁN CÓ ẢNH HƯỞNG LỚN ĐẾN HỆ THỐNG KIỂM TOÁN .

I. SỰ SỤP ĐỔ CỦA TẬP ĐOÀN NĂNG LƯỢNG ENRON KÉO THEO SỰ SỤP ĐỔ CỦA ARTHUR ANDERSEN.

1.Diễn biến sự việc

1.1.Trước khi lâm vào tình trạng khủng hoảng và sụp đổ :

Thành lập năm 1985, trên cơ sở sáp nhập hai công ty Houston Natural Gas và Internorth of Omaha, cái tên Enteron (ruột) xuất phát từ ý tưởng cho rằng đó là bộ phận không thể thiếu trong quá trình tiêu hóa, Enron nhanh chóng trở thành một công ty đa quốc gia hùng mạnh trong lĩnh vực năng lượng sau thời gian ngắn 15 năm. Enron đã bắt đầu từ con số không để trở thành công ty lớn thứ bảy của Hoa Kỳ và có lúc là công ty năng lượng nổi tiếng hàng đầu thế giới. Công ty có hoạt động ở hơn 30 quốc gia trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam. Họ sử dụng hơn 21 nghìn nhân viên và hiện diện ở hơn 40 nước trên toàn thế giới, trong đó có 7.500 nhân viên làm việc tại tòa nhà 50 tầng ở trung tâm Houston. Một công ty chuyên về hơi đốt thiên nhiên ở Omaha thuộc bang Nebraska (Mỹ) và điều hành 59.200 km đường ống.

Năm 1989, Enron bắt đầu kinh doanh các mặt hàng hơi đốt thiên nhiên. Trong nhiều năm, công ty trở thành nhà kinh doanh đường ống và điện năng lớn nhất Bắc Mỹ và Anh Quốc.

Năm 1997, công ty bắt đầu mở rộng phạm vi hoạt động bằng việc sang kinh doanh các sản phẩm than đá, giấy và bột giấy, nhựa, kim loại và viễn thông. Enron thường được xem như là trung tâm của các cuộc cách mạng liên quan đến viễn thông, Internet, sự bãi bỏ kiểm soát về năng lượng, v.v...

Không còn gì nhiều để nói về sự thành công và thất bại đầy tai tiếng của ông trùm năng lượng Enron ở Texas. Cùng với việc sản xuất năng lượng, họ cũng tạo nên một đặc trưng thương hiệu mạnh mẽ. Enron giành được giải thưởng “Công ty Đột phá Nhất nước Mỹ” của tạp chí Fortune sau 6 năm hoạt động, họ cũng được xếp hạng cao trong biểu đồ “Những công ty tốt nhất để làm việc” cũng của tạp chí này. Công ty cũng cổ vũ hình ảnh của một công dân tốt của cộng đồng, ấn hành các báo cáo xã hội và môi trường nhắm vào những hoạt động của công ty với sự cẩn trọng đối với những hệ quả môi trường của công việc, các chính sách chống hối lộ và tham nhũng cùng những mối quan hệ đồng sự.

Nhờ những quy định mới về tự do hóa thị trường năng lượng Mỹ trong thập niên 90, họ đã lột xác từ một hãng làm ăn mờ nhạt thành tập đoàn có thể thay đổi sự cân bằng trong lĩnh vực kinh doanh năng lượng. Luật chính sách năng lượng năm 1992 buộc các công ty nhỏ phải mở cửa đường truyền tải điện cho hệ thống phân phối của Enron. Ngoài ra, Enron kiếm rất nhiều tiền từ việc mua bán trên thị trường năng lượng. Trên thực tế, họ chỉ là những nhà buôn sắp xếp hợp đồng giữa người mua và bán rồi lấy tiền hoa hồng. Trong tay Enron, thị trường năng lượng ngang hàng với một sự đầu cơ tài chính. Hãng này đã xây dựng những nhà máy trị giá hàng triệu USD khắp thế giới nhưng chỉ sở hữu chúng khi giá năng lượng lên ngôi, khi gặp khó khăn thì bán ngay lập tức. Nhờ hoạt động tài chính thuận lợi, Enron đã vươn sang các mặt hàng như giấy, nước, nhựa, kim loại và phương tiện viễn thông.

Enron đã tạo ra hơn 900 công ty con, chủ yếu nằm ở những nước dễ dãi nhất về luật kế toán. Hệ thống công ty mẹ-công ty con được thiết kế bởi các chuyên gia tài chính rất tài giỏi, và được bảo đảm bởi một trong 5 đại gia ngành kiểm toán của thế giới: Arthur Andersen.

Trong nhiều năm, Enron chứng tỏ họ là một công ty lớn mạnh và có lợi nhuận cao:

Thành công đáng kể nhất của Enron là trong khoảng thời gian từ năm 1997 đến năm 2000. Trong khoảng thời gian này, giá cổ phiếu của Enron tăng từ dưới 20 USD lên trên 80 USD. Năm 2000, giá trị thị trường của Enron đạt 77 tỉ USD. Lợi nhuận của công ty cũng tăng rất nhanh, từ 20 tỉ USD trong năm 1997 lên thành 101 tỉ USD trong năm 2000, tăng hơn năm lần chỉ trong vòng bốn năm, là một trong 7 công ty Mỹ có doanh số hơn 100 tỷ USD. Hệ thống thông tin đại chúng, điển hình là tạp chí Fortune, luôn đánh bóng Enron là công ty có nhiều tiềm năng nhất với số vốn kinh doanh 63 tỷ USD.

Từ năm 1985 đến cuối năm 2001, giá cổ phiếu của công ty liên tục tăng lên. Cao điểm là vào tháng 10/2001, giá cổ phiếu của công ty đã tăng hơn gấp đôi trong vòng chỉ một năm.

Trên con đường phát triển và mở rộng lĩnh vực hoạt động, việc kinh doanh của Enron ngày càng mang thêm nhiều rủi ro. Trong việc kinh doanh vận chuyển qua hệ thống đường ống, cả lượng và giá đều ổn định. Nhưng trong lĩnh vực buôn bán khí đốt và xăng dầu, giá cả dao động rất mạnh đồng thời số lượng cũng giao động do sức ép cạnh tranh.

Enron lớn đến mức không ai tin nó có thể sụp đổ. Vậy tại sao Enron, một công ty năng lượng lớn nhất nước Mỹ, đứng thứ bảy trong số các công ty lớn nhất của Mỹ, lại rơi vào tình trạng khủng hoảng và phá sản nhanh đến thế.

1.2. Khủng hoảng và sụp đổ:

Ngày 10/1, Tòa Bạch Ốc chính thức thông báo lãnh đạo tập đoàn Enron, ông Kenneth Lay, đã từng liên hệ với giới chức cao cấp của chính quyền Bush, trong đó có Bộ Trưởng Ngân Khố Paul Oneil và Bộ Trưởng Thương Mại Don Evans để tìm kiếm sự giúp đỡ, xin chính phủ can thiệp tài chính để thoát khỏi bờ vực phá sản, nhưng đều bị hai Bộ Trưởng từ chối. Lúc đó, ông O'neil đã không thông báo cho Thủ Tướng Bush về cuộc khủng hoảng của Enron và chính quyền cũng không làm gì để bảo vệ cho các nhân viên cũng như cổ đông của Enron.

Đến tháng 10-2001, Ủy ban Chứng khoán Mỹ đã điều tra sổ sách kế toán của Enron và sự thật mới bắt đầu hé lộ.

Tập đoàn Arthur Andersen chịu trách nhiệm kiểm toán, lưu giữ chi tiết các hoạt động tài chính của Enron vừa thú nhận rằng họ đã hủy bỏ "một số lượng đáng kể nhưng không xác định được" những tài liệu nói về sai phạm tài chính ở Enron. Các công tố viên cho biết số lượng tài liệu liên quan bị hủy bỏ có thể lên đến hàng ngàn.

Nhiều nhà phân tích tài chính liên tục đánh giá cao công ty này, cho đến sát thời điểm nó sụp đổ. Theo chuyên san tài chính Bloomberg Markets, đến trung tuần tháng 10/2001, vẫn có ít nhất 6 nhà phân tích nổi tiếng ở Wall Street tiếp tục khuyên nên mua cổ phiếu Enron.

Ngày 26/10/2001, công ty lần đầu tiên thừa nhận đã lỗ hàng trăm triệu USD trong một quý:

Enron công bố lỗ 618 triệu USD trong quý III nhưng thực tế lên tới 1,2 tỷ USD. Số nợ 1,2 tỷ USD bị giấu đi đã gây hoảng loạn trên thị trường chứng khoán khi nó bị tiết lộ.

Vào tháng 8/2001, Giám đốc Điều hành Jeffrey Skilling từ chức vì lý do cá nhân.

Tháng 12 năm 2001,Ủy ban Chứng khoán Mỹ thông báo rằng ủy ban này đã kiện ông Fastow trước một tòa án ở Washington vì không giao nộp các tài liệu liên quan đến các hoạt động tài chính bất minh của Enron và không trình diện ủy ban theo trát đòi ngày 30/10.Giám đốc tài chính Fastow phải ra đi.

Khi công ty khó khăn, họ thuyết phục nhân công nhận lương và thưởng bằng cổ phiếu. Việc trả lương bằng cổ phiếu chẳng những không thể làm cho giám đốc điều hành đặt quyền lợi cổ đông lên trên hết, mà còn gây hậu quả ngược lại – mua lấy sự im lặng của các giám đốc này về tình hình tài chính. Làm cách đó, giá trị của Enron đã bị giảm sút nghiêm trọng.

Đã có những dự báo trước:

*) Tháng 1/2001, một nhân viên kiểm toán của Andersen đã cực lực phản đối phương pháp kế toán của Enron. Vài tuần sau, nhân viên này bị Andersen chuyển sang bộ phận khác theo đề nghị của Enron. Một nhân viên của Merrill Lynch (công ty đánh giá xếp hạng chứng khoán) đã xếp hạng cổ phiếu của Enron vào loại “không có triển vọng”. Nhân viên này bị sa thải ngay sau đó.

*)Cổ phiếu của Enron tụt giá thảm hại: Ngày 15/8/2001, cổ phiếu Enron bắt đầu mất giá, đầu tháng 11 năm 2001, giá cổ phiếu của Enron giảm xuống dưới 10 USD, cuối năm 2001, mỗi cổ phiếu chỉ còn giá 0,6 USD.

Ngày 9/2002 Hoa Kỳ đã chính thức cho chuyển hồ sơ của tập đoàn Enron sang bộ phận điều tra hình sự. Cuộc điều tra này dự kiến được chỉ thị từ Hoa Thịnh Đốn nhưng sẽ có Công Tố Viên nhiều tiểu bang tham gia. Trước đó, Enron đã trải qua hằng loạt cuộc điều tra dân sự khi nộp đơn xin phá sản lần thứ hai vào tháng 12-2001.

Trong thời điểm này các công tố viên quan tâm đến một yếu tố có khả năng gây chấn động: Bộ Trưởng Tư Pháp John Ashcroft trong ngày 10-1 đã tự rút lui khỏi ban điều tra hình sự của Bộ Tư Pháp về công ty Enron, sau khi thông tin về số tiền 61. 000 Mỹ kim mà Enron đóng góp vào quỹ tranh cử vào Thượng Viện của ông trong năm 2000 được công bố. Toàn bộ văn phòng Tư Pháp tại Houston, cơ quan được chỉ định điều tra vụ Enron, cũng đã rút lui khỏi tiến trình điều tra với lý do "có liên hệ tài chính" với Enron.

Ngày trong tháng 12 năm 2001 , công ty tuyên bố phá sản.

2.Phân tích nguyên nhân

Chính sự bí hiểm về tài chính của Enron là cội nguồn cho sự sụp đổ của công ty này. Giới chuyên gia cho rằng, sai lầm của công ty này chính là phụ thuộc quá nhiều vào các giao dịch tài chính. Theo các chuyên gia kinh tế, một công ty hoạt động lành mạnh phải công khai tài chính với các đối tác và ngược lại. Thế nhưng, nhiều đối tác của Enron đã không tuân theo các nguyên tắc kế toán khiến họ bất lực trong việc kiểm soát tình hình tài chính.

Do các chi phí kế toán: Andersen đã ký hợp đồng làm tư vấn cho Enron, sau đó chính mình lại đóng vai trò kiểm toán để xác nhận những báo cáo tài chính của Enron. Phí tư vấn và kiểm toán đều là những con số khổng lồ. Ví dụ, năm 2000, Enron Corp trả Arthur Andersen chi phí kiểm toán 25 triệu, chi phí tư vấn và các phí dịch vụ khác lên đến 27 triệu đôla, và tổng số là 52 triệu đôla. Như thế có nghĩa là công ty Enron Corp. đã trả Arthur Andersen khoảng 1 triệu đôla/tuần.

Lãnh đạo Enron đã lợi dụng kẽ hở luật pháp để lập ra các công ty con mà không khai báo tài chính để che giấu việc công ty đã vay quá khả năng chi trả. Bằng cách này, Enron vừa không phải công khai các khoản nợ, vừa che giấu được những khoản lỗ. Kết quả là Enron đã thổi phồng lợi nhuận của mình và giá cổ phiếu của công ty cũng theo đó tăng lên vun vút. Khi mà Enron phải thông báo chính thức rằng từ năm 1997 công ty đã thua lỗ trên 500 triệu USD, những người "trong cuộc" đã kịp thời thu những món lợi khổng lồ từ cổ phiếu của công ty. Cụ thể, ông Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Kenneth Lay đã giữ 138 triệu cổ phiếu của công ty. Đầu năm 2001, Kenneth Lay bán ra với giá 79 USD một cố phiếu. Hầu hết những vụ mua bán này đều không được công bố.

Những hoạt động tài chính của Enron đều được dựa trên sự thiết kế và vận hành của điều mà nhiều nhà phân tích đặt tên là "những liên minh ma quái". Một mạng lưới chằng chịt quan hệ giữa Enron, một số quan chức chính phủ và đặc biệt là Công ty kiểm toán Arthur Andersen đã giúp Enron. Kế toán trưởng của Enron là Richard Causey - người đã thiết kế ra hệ thống lừa dối cổ đông - nguyên là kiểm toán viên của Andersen chuyển sang.

Sự sa thải liên tiếp các lãnh đạo cao cấp của công ty, một số nhân viên và việc dành hàng trăm triệu USD cho các quan chức và nhân viên mua cổ phiếu hay chứng khoán với giá đặc biệt là một nguyên nhân không kém phần quan trọng.

3.Trách nhiệm pháp lý

Khi Enron sụp đổ, nó phá hủy hơn 60 tỷ USD giá trị thị trường. Hàng nghìn người bị mất việc làm và "xóa xổ" tài khoản hưu trí trị giá hàng tỷ USD của các nhân viên.

Những công bố về lợi nhuận của công ty được minh chứng là không có thật, họ có những món nợ khổng lồ không được thể hiện trong sổ sách của công ty.

Bất ngờ hơn vẫn là chuyện của các vị lãnh đạo chóp bu trong đó phải kể đến cựu Giám đốc tài chính Andrew Fastow của Enron đã "tỉa" trên 33 triệu USD từ các giao dịch, sau khi chịu sự điều tra đã bị kết án 10 năm tù năm 2004.

Công ty sụp đổ với khoảng nợ quyết đoán với 13 tỷ dollars và hàng tỷ dollars nợ vay, tái trả tín dụng và trả các hợp đồng năng lượng. Enron phải tuyên bố phá sản đánh dấu vụ thất bại kinh doanh lớn nhất ở Hoa Kỳ. Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ quyết định điều tra xem có phải các giới chức Enron đã phạm tội lừa đảo trước khi công ty phá sản hay không.

Lật lại hồ sơ, người ta thấy rằng Tổng Thống Georges W. Bush đã nhận được từ Enron và những người liên quan đến công ty hơn 550. 000 dollars - số tuyền hậu thuẩn tài chính lớn nhất. Đổi lại, ông dành cho Enron những ưu đãi đáng kể trong việc làm ăn. Enron và Ken Lay - giám đốc điều hành của Enron, người được ông Bush đặt tên thân mật là "Kenny Boy" - đã quyên góp tiền cho ông Bush từ hai lần ông tranh cử thống đốc bang Texas năm 1994 và 1998 (với tổng số tiền 312. 500 dollrs), đến chiến dịch tranh cử tổng thống và cả tiền cho lễ đăng quang tổng thống hồi đầu năm 2001. Lay nói rằng ông ta ủng hộ ông Bush bởi có quan hệ lâu với gia đình Bush. Thậm chí sự ủng hộ của Lay bắt đầu từ chiến dịch tranh cử tổng thống của Bush cha ít nhất vào năm 1980.

Hàng loạt quan chức của Enron và Andersen hoặc đã vào tù hoặc đang chờ án tù. Những nạn nhân chính là những người mua cổ phiếu. Những người "bên trong" đã nhanh tay bán cổ phiếu trước khi thảm hoạ được phát hiện. Còn hầu hết cổ đông "bên ngoài", cuộc tháo chạy giống như một thảm hoạ. Có những người đã mua cổ phiếu với giá 90 đô la và để nhận được 0,6 đô la sau không đầy 1 năm.

Enron phá sản mọi sự dính líu về chính trị cũng được phơi bày. Trong đó có những quan hệ gần gũi của công ty này với Nhà Trắng. Enron đã ủng hộ nhiều triệu đô la vào chiến dịch tranh cử năm 2000 của George Bush. Mặc dù cá nhân ông Bush là một người bạn của vị Giám đốc điều hành Kenneth Lay của Enron, ông này mau chóng cách ly với mọi dính líu có thể gây tai tiếng với công ty này.

Tập đoàn Enron còn hậu thuẩn tài chính cho hơn 250 thành viên quốc hội thuộc hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa trong thời gian từ năm 1989 đến 2001. Đứng đầu danh sách nhận tiền của Enron là các Thượng nghị sĩ đại diên bang Texas: Kay Baley Hutchinson 99. 500 dollars, thuộc đảng Cộng Hòa. Bộ trưởng Tư Pháp bang Texas là John Cornyn cũng đã nhận hơn 150. 000 dollars của Enron và của các nhân vật trong tập đoàn này. Ngoài ra, ít nhất 15 giới chức cao cấp trong chính quyền Bush cho đến năm 2000 vẫn còn cổ phần ở tập đoàn Enron, trong đó phải kể đến Bộ Trưởng Quốc Phòng Donald Rumsfeld, cố vấn cao cấp của Tổng Thống là Karl Rove, Thứ trưởng Bộ Ngân Khố Peter Fisher và Đại Diện Thương Mại Mỹ Robert Zoellick (50. 000 dollars mỗi năm). Kenneth Lay từng chơi golf với Tổng thống Bill Clinton và đóng góp hàng trăm ngàn đôla cho các ủy ban vận động tranh cử Dân chủ cũng như nhiều ông nghị Dân chủ, trong đó có thượng nghị sĩ Charles E. Schumer và dân biểu Martin Frost (có chân trong Ủy ban các điều luật Hạ viện)…

Dù sao, trong lúc tổ chức Enron có một tác động tiêu cực với cộng đồng kinh doanh Texas thì với những công ty trực tiếp dính líu đến Enron trong việc kinh doanh, hậu quả thật sự là thảm họa. Với công ty kiểm toán cho Enron, Arthur Andersen, việc dính líu này có một tác động chết người.

Hơn nữa, vụ tai tiếng Enron có liên quan đến việc kiểm toán. Đặc biệt là việc che giấu hồ sơ liên quan đến tài khoản và những món nợ khổng lồ của Enron, một thực tế về sự đồng lõa của công ty kiểm toán. Sự đồng lõa này càng rõ ràng hơn khi David Duncan, kế toán trưởng của Enron ở Andersen, bị buộc phải có mặt trong cuộc điều tra đầu tiên đã từ chối nói chuyện để cố chạy tội cho bản thân. Ngay cả khi Joseph Berardino, trưởng ban điều hành của Andersen, ngang ngạnh bảo vệ cho vai trò của công ty ông trong việc này cũng không thể tránh được những tổn thương bắt buộc. Một khi họ đã bị cáo buộc là có tội trong việc hủy hoại chứng cớ, công ty gánh chịu sự tổn thương thương hiệu nghiêm trọng và những chấn động vẫn còn cảm nhận được trong toàn ngành công nghiệp kiểm toán.

4. Bài học từ Enron:

  • Việc công bố thông tin: Theo qui định: Các công ty phải công bố một số, nhưng không phải tất cả, ràng buộc tài chính với các giám đốc. Nhưng tại Enron, Enron đã công bố hợp đồng tư vấn với một thành viên ban kiểm toán, nhưng không đả động gì đến khoản đóng góp từ thiện cho những tổ chức liên danh của hai thành viên khác trong ban.

Vì vậy, bài học đặt ra ở đây: Công bố toàn bộ các ràng buộc về tài chính là việc làm cần thiết đối với các công ty.

  • Về trình độ chuyên môn: Theo qui định: Các thành viên ban kiểm toán phải cho thấy trình độ hiểu biết cơ bản về tài chính, và một thành viên phải là chuyên gia tài chính. Nhưng ủy ban của Enron gồm một giáo sư ngành kế toán, một nhà kinh tế học, và hai doanh nhân. Rõ ràng họ không nhìn nhận được sự rủi ro trong những quan hệ đối tác nhằng nhịt của công ty.

Bài học: Ban kiểm toán phải họp mặt làm việc thường xuyên hơn, xem xét các báo cáo kiểm toán nội bộ, và được đào tạo về kiến thức tài chính trong ngành công nghiệp mà công ty đang hoạt động.

  • Lợi ích người lao động: Hầu hết các công ty đang trả lương giám đốc chủ yếu bằng cổ phiếu để gắn bó quyền lợi của họ với quyền lợi cổ đông. Tại Enron, một số giám đốc đã bán cổ phần trước ngày công bố kết quả kinh doanh tháng 8/2000. Việc cho phép các giám đốc này sở hữu một lượng lớn cổ phiếu đã khiến cho họ mất đi khả năng chất vấn đội ngũ quản lý về tình hình hoạt động yếu kém của công ty.

Bài học: Hãy trả lương bằng cổ phiếu, nhưng không cho phép bán ra trong nhiệm kỳ làm việc.
II. WORLDCOM – BOM TÀI CHÍNH MỚI SAU ENRON

1. Diễn biến sự việc

1.1. Trước khi lâm vào tình trạng khủng hoảng và sụp đổ:

Năm 1989, Công ty Dịch vụ điện thoại đường dài giá rẻ (LDDS) sát nhập với công ty Advantage Companies Inc trở thành công ty giao dịch công cộng. Năm 1995, LDDS mua lại công ty truyền phát dữ liệu và âm thanh Williams Telecommunications Group Inc. (WilTel) với giá 2,5 tỷ USD tiền mặt và đổi tên thành WorldCom Inc. Tổng giám đốc điều hành công ty là ông Ebbers. Ebbers đã thôn tính hơn 35 công ty. Worldcom không chỉ hoạt động trong lĩnh vực điện thoại mà còn chuyển sang giao dịch thương mại điện tử và Internet.

WorldCom mua MFS Communications với giá 14 tỷ USD vào năm 1996 đã nâng vị thế WorldCom và Ebbers lên đáng kể. Lúc đó, công ty đã có tầm cỡ thế giới, có tên trong danh sách Fortune 500.

Năm 1998, WorldCom hoàn tất 3 vụ sáp nhập: với MCI Communications Corp: (40 tỷ USD) - vụ lớn nhất trong lịch sử khi đó; Brooks Fiber Properties Inc: (1,2 tỷ USD) và CompuServe Corp: (1,3 tỷ USD ). Vụ mua lại MCI đã nâng doanh thu hàng năm của WorldCom từ 5,6 tỷ USD lên 32 tỷ USD. Và khi đó, người ta gọi Ebbers là Vua Bernie.

Năm 1999, WorldCom và Sprint Corp đồng ý sáp nhập. Cổ phiếu của WorldCom lên tới mức cao điểm hơn 64 USD, tổng trị giá tài sản của Worldcom lên đến 175 tỷ USD.

Tháng 10/1999 họ đã làm phố Wall bàng hoàng khi liều mạng mua Sprint. Khi đó, nó là vụ mua lại công ty lớn chưa từng thấy. Nhà chức trách quyết định ngăn cản thoả thuận này vào tháng 7/2000 và có thể nói đó là thời điểm chấm dứt sự tăng trưởng ngoạn mục của WorldCom.

Tháng 9/2000, WorldCom tiếp tục mua Intermedia Communications Inc. Một công ty điện thoại và Internet địa phương đang gặp khó khăn, với giá 1,6 tỷUSD. Người ta cho rằng Ebbers đã bị lạc lối từ đó, khi bỏ 1,6 tỷ USD để mua một công ty chỉ được ước giá tầm 50 triệu USD.

Cổ phiếu của WorldCom sụt giảm mạnh còn khoản nợ 10,5 tỷ USD của Worldcom được báo cáo so với khoản nợ thực 30 tỷ USD khi nó sụp đổ hoàn toàn. Con đường phát triển bằng cách sáp nhập của họ đã bị chặn lại. Không còn giải pháp nào khác, Ebbers quay sang tiết kiệm chi phí bằng những biện pháp như tắt đèn khi hết giờ làm việc và hạn chế sử dụng điều hòa nhiệt độ.

1.2 Khủng hoảng và sụp đổ:

Từ tháng 3-2002, công ty WorldCom bắt đầu gây chú ý khi SEC (Uỷ ban chứng khoán và hối đoái Mỹ) thực hiện cuộc điều tra tại sao và làm thế nào mà WorldCom cho tổng giám đốc điều hành (cũng là người sáng lập) Bernie Ebbers vay 366 triệu USD trước khi Ebbers tuyên bố từ chức vào cuối tháng 4-2002 (và được hưởng lương hưu 1,5 triệu USD/năm đến suốt đời).

Số tiền được ông vay để đặt cược vào các cổ phiếu của WorldCom. Khoản vay này thực tế đã được ông Ebbers chuyển sang tài sản cá nhân, bao gồm một công ty bán thuyền thể thao, một trang trại đậu nành và gần 27 triệu cổ phiếu của WorldCom.

Tổng giám đốc mới là John Sidgmore. Và một kiểm toán viên nội bộ đã phát hiện ra, công ty đang có những biểu hiện "bất thường" trong việc ghi sổ các chi phí vốn. Một điều tra sau đó của hãng kiểm toán KPMG (thay thế hãng kiểm toán đang gặp khó khǎn Arthur Andersen) đã bới ra các khoản chi phí trị giá tới 3,85 tỷ USD. Khoản chi phí này đã bị phân loại một cách nhầm lẫn vào chi phí vốn (trong cả nǎm 2001 và quý I nǎm 2002, WorldCom đã tính 3,85 tỷ USD vào các khoản đầu tư vốn mặc dù số tiền này được sử dụng vào các chi phí hàng ngày). Chính vì vậy mà trong năm 2001 luồng tiền và lợi nhuận của WorldCom đã bị thổi phồng, thay vì lỗ 1,2 tỷ USD, họ lãi 1,6 tỷ USD và quý I/2002 là 172 triệu USD. Các con số này nếu có tính khoản chi phí trên sẽ không đúng.

Những gì mà WorldCom đã làm là ảnh hưởng tới lượng tiền mặt tạo ra từ hoạt động kinh doanh. Trước đây, WorldCom đã công bố, các hoạt động kinh doanh nǎm 2001 của công ty tạo ra 7,7 tỷ USD tiền mặt. Nhưng giờ đây, công ty cho biết, số tiền mặt thực tế tạo ra là 4,6 tỷ USD. Tổng luồng tiền của WorldCom sẽ không bị ảnh hưởng bởi những sai sót trong sổ sách vì việc công bố lại của WorldCom cũng sẽ làm giảm lượng tiền sử dụng trong các hoạt động đầu tư. Các hoạt động này có tính đến đầu tư vốn. Như vậy, 2 sự thay đổi sẽ triệt tiêu nhau. Tuy nhiên, điều này lại ảnh hưởng đến một cách đo lường luồng tiền khác đó là thu nhập.

Nǎm 2001, thu nhập (EBITDA) mà WorldCom công bố là 10,5 tỷ USD. Con số đó theo tính toán giờ đây sẽ là 6,3 tỷ USD. Tương tự như vậy, EBITDA của WorldCom quý I/2002 theo công bố là 2,1 tỷ USD nhưng khi phá sản, con số này được phát hiện chỉ là 1,4 tỷ USD.

WorldCom đã nợ 2,65 tỉ USD và vào thời điểm trước khi vụ việc đổ bể công ty này còn thương lượng vay 5 tỷ USD. Trong số ngân hàng trở thành nạn nhân của WorldCom, có Ngân hàng Hoa Kỳ (Bank of America), J. P. Morgan Chase, Citigroup, FleetBoston Financial, Mellon Financial, Bank One, Wells Fargo…

Năm 2001, WorldCom đã trả cho công ty kiểm toán Arthur Andersen chi phí dịch vụ lên đến khoảng 16,8 triệu đôla Mỹ trong đó chi phí cho kiểm toán là 4,4 triệu đôla, dịch vụ tư vấn thuế là 7,6 triệu đôla, chi phí cho việc kiểm toán các bản báo cáo tài chính là 1,6 triệu đôla và các dịch vụ tư vấn khác là 3,2 triệu đôla.

Ngày 19/7/2002, WorldCom, công ty điện thoại viễn thông đường dài lớn thứ hai nước Mỹ sau AT&T, nộp đơn phá sản sau vụ gian lận lợi nhuận kế toán trị giá 11 tỷ USD.

2. Nguyên nhân:

Có 3 nguyên nhân chính sau:

Thứ nhất: các vụ scandal về tài chính, trong đó có việc gian lận và làm trái các thủ tục kế toán.

Trong khi những gian lận tại Enron liên quan tới các thủ thuật kế toán tinh vi thì tại Worlcom các gian lận diễn ra rất đơn giản. Worlcom khi đó đã tăng giả mạo các chỉ số kế toán hiện hành và bỏ đi các số liệu về vốn theo thời gian mà nhẽ ra phải công bố công khai. Về bản chất, Worlcom đã chuyển dịch một loạt các con số từ cột này sang cột khác trong báo cáo tài chính. Đó là một việc làm hết sức sai lầm của ban lãnh đạo tập đoàn Worldcom. Trong cả nǎm 2001 và quý I nǎm 2002, WorldCom đã tính 3,8 tỷ USD vào các khoản đầu tư vốn mặc dù số tiền này được sử dụng vào các chi phí hàng ngày. Hai khoản này rõ ràng là khác biệt vì các khoản đầu tư vốn được đối xử khác với các chi phí về mục đích kế toán. Đầu tư vốn là số tiền được sử dụng để mua các tài sản lâu dài, chẳng hạn như với WorldCom là cáp quang hay các thiết bị chuyển mạch dùng để định hướng các cuộc điện thoại. Vì vậy, chi phí này sẽ được rải đều ra trong vài nǎm.

Thứ hai, nhiều vụ buôn bán nội gián cổ phiếu được phanh phui.

Giá trị cổ phiếu của tập đoàn WorldCom đã có lúc tăng lên 63.5$/ cổ phiếu vào ngày 18/6/1999. Tuy nhiên, vào tháng 3 năm 2002, cơ quan điều tra của Mỹ đã điều tra về những gian lận tại WorldCom và đã phát hiện những gian lận tại đây lên tới 3,8 tỷ USD và giá trị cổ phiếu của WorldCom ngay lập tức giảm xuống mức 6.74$/ cổ phiếu và tiếp tục giảm cho đến ngày 25/6/2002 thì Tập đoàn đã tuyên bố phá sản.

Nguyên nhân cuối cùng là mâu thuẫn về quyền lợi giữa Worldcom và những thành viên bên ngoài có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến công ty.

Điều đáng quan tâm là không chỉ có Worldcom trực tiếp tham gia vào những gian lận trong báo cáo tài chính mà lúc đó còn có rất nhiều “thế lực ngầm” khác trợ giúp.

Như Enron, WorldCom cũng có những đường dây móc nối đến Nhà Trắng. Cách đây hai năm, WorldCom còn trúng hợp đồng 450 triệu USD với Lầu Năm Góc. Trong một thập niên qua, WorldCom bơm hơn 4 triệu USD cho các chiến dịch tranh cử của Đảng Cộng hòa lẫn Dân chủ. Trong mùa tranh cử Quốc hội tháng 11-2002, WorldCom đã góp hơn 1 triệu USD cho ứng cử viên cả hai đảng. Dân biểu Charles W. Pickering Jr (Cộng hòa) – người đại diện khu vực Clinton, nơi có đại bản doanh WorldCom – là chính khách nhận nhiều nhất.

Ngoài ra còn có các ngân hàng, và các chuyên gia như các chuyên gia phân tích thị trường chứng khoán,...

3.Trách nhiệm pháp lý

Theo phán quyết của toà án Mỹ, Bernard Ebbers, 63 tuổi, cựu giám đốc điều hành tập đoàn viễn thông Worldcom, đã phạm tội gian lận chứng khoán và cung cấp các số liệu tài chính không chính xác liên quan đến khoản tiền 11 tỷ USD dẫn đến sự phá sản của một trong những tập đoàn viễn thông lớn nhất nước Mỹ. Với các tội danh trên, Ebbers phải chịu hình phạt tổng cộng lên đến 85 năm tù giam. Ebbers là một trong 6 cựu thành viên ban lãnh đạo của Worldcom bị truy tố sau những bê bối tài chính đưa đến sự sụp đổ của Worldcom.



Việc Worlcom sụp đổ đã kéo theo phản ứng dây chuyền khiến giá cổ phiếu của nhiều hãng viễn thông khác cũng tụt dốc thê thảm và chính phủ Mỹ đã phải cải cách lại toàn bộ các quy định hiện hành về kế toán.
Bernie Ebbers, cựu huấn luyện viên bóng rổ, đã có công rất lớn trong việc đưa Worldcom từ một công ty nhỏ tại vùng Mississippi hẻo lánh trở thành một trong những tập đoàn viễn thông lớn nhất trên thế giới trong vòng chưa đầy 15 năm. Đã có thời điểm, giá trị của Worldcom trên thị trường chứng khoán vượt qua con số 100 tỷ USD. Mặc dù được đánh giá là một trong những thành viên năng động và nhạy bén nhất Worldcom trong các kế hoạch mở rộng hoạt động kinh doanh vào thập kỷ 90, nhưng trước những lời cáo buộc tại toà án rằng Worldcom đã che giấu các cổ đông về những khó khăn tài chính bằng nhiều gian lận kế toán lên đến hàng chục tỷ USD khi công việc kinh doanh sa sút, Ebber luôn nói là mình không biết gì về các chi tiết tài chính của tập đoàn.

Theo ước tính, bê bối tài chính tại Worldcom đã khiến các cổ đông của hãng chịu thiệt hại khoảng 180 tỷ USD và làm cho trên 20.000 nhân viên bị mất việc. Chưa kể việc Worlcom sụp đổ đã kéo theo phản ứng dây chuyền kéo theo giá cổ phiếu của nhiều hãng viễn thông khác cũng tụt dốc thê thảm và chính phủ Mỹ buộc phải cải cách lại toàn bộ các quy định hiện hành về kế toán.



4. Bài học từ Worldcom:

Thứ nhất, đối với các doanh nghiệp, mục tiêu trước mắt của doanh nghiệp là không nên tập trung vào quyền lợi của nhà đầu tư, mà nên tính đến lợi ích của nhân viên, khách hàng và đối tác kinh doanh. Phương châm “giá trị cổ đông” dựa trên cơ sở giá cổ phiếu đã không còn thích hợp, thay vào đó các công ty nên dành nhiều công sức cho việc xây dựng phương pháp quản trị, trong đó nên nâng cao tính toàn vẹn của hệ thống kinh doanh và tính chính xác của các số liệu hoạt động. Điều quan trọng là phải tạo điều kiện cho các nhà đầu tư, các nhân viên, cổ đông hiểu rõ thực tế hoạt động của doanh nghiệp.

Thứ hai, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN) phải có nhiệm vụ là quản lý niêm yết chứng khoán của các công ty. Hịên nay UBCKNN không có chức năng quản lý niêm yết chứng khoán của các công ty, như vậy sẽ là kẽ hở để các doanh nghiệp “bưng bít” thông tin thật sự của doanh nghiệp.

Cuối cùng, về thông tin: Các doanh nghiệp cung cấp hàng đống thông tin, tài liệu cho các nhà đầu tư nhưng khả năng sử dụng được các thông tin đã cấp chỉ đạt 1%. Giải pháp bây giờ là TTCK nên lựa chọn một số tiêu chí về tốc độ tăng trưởng lợi nhuận đặc trưng cho từng ngành nghề để nhà đầu tư có thể so sánh dễ dàng, xây dựng hệ thống “ngôn từ đánh giá” thống nhất trong báo cáo tài chính của công ty.

  1. SỰ SỤP ĐỔ CỦA ENRON VÀ WORLDCOM ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ THAY ĐỔI ĐIỀU CHỈNH TRONG CÁC QUY ĐỊNH VỀ KIỂM TOÁN

Sau sự sụp đổ gây chấn động nước Mỹ của nhiều tập đoàn lớn như: Enron, WorldCom, nước Mỹ mới ban hành một đạo luật nhằm ngăn chặn những gian dối tài chính và bảo vệ nhà đầu tư tốt hơn.

Đạo luật Sarbanes-Oxley (hay còn gọi là Sarbox, SOX) có thể là sự tham khảo hữu ích cho những nhà quản lý thị trường chứng khoán Việt Nam, nhất là trong bối cảnh hiện nay khi mà liên tục xảy ra những scandal không đáng có.

Được Quốc hội Mỹ thông qua ngày 30/7/2002, đạo luật được bảo trợ bởi nguyên Thượng nghị sỹ bang Maryland, Paul Sarbanes và Nghị sỹ Michael Oxley, và là một trong những luật căn bản của nghề kế toán, kiểm toán.

Dài 66 trang, đạo luật được cho là một sự bổ sung quan trọng nhất trong Luật Chứng khoán Mỹ, nhằm mang lại tính minh bạch cho thị trường chứng khoán.

Mục tiêu chính của đạo luật này nhằm bảo vệ lợi ích của các nhà đầu tư bằng cách buộc các công ty đại chúng phải đảm bảo sự minh bạch hơn của các báo cáo, các thông tin tài chính khi công bố.

Đồng thời, đạo luật cũng bổ sung thêm các quy định ràng buộc trách nhiệm cá nhân của giám đốc điều hành và giám đốc tài chính đối với độ tin cậy của báo cáo tài chính, bênh cạnh đó yêu cầu các công ty đại chúng phải có những thay đổi trong kiểm soát nội bộ, đặc biệt là kiểm soát công tác kế toán.

Cũng nhờ đạo luật này, vị trí và thị thế của kiểm toán viên được đặt ở vị trí trung tâm, là cầu nối quan trọng tạo nên những bản báo cáo tài chính có tính độc lập cao và mức độ tin tưởng cao hơn.

Điểm quan trọng đạo luật Sarbanes-Oxley :


  • Các giám đốc điều hành, giám đốc tài chính phải trực tiếp ký vào các báo cáo tài chính được ban hành chính thức và đảm bảo tính trung thực của bản báo cáo đó. Nếu có những sai phạm, thì họ có thể phải ngồi tù.

  • Các công ty phải lập ra ban giám sát kế toán thực hiện chức năng giám sát hoạt động kế toán trong nội bộ của tập đoàn, đồng thời giám sát chặt hoạt động của các công ty kiểm toán cho tập đoàn đó.

  • Các công ty kiểm toán không được thực hiện tất cả các nghiệp vụ kiểm toán của một tập đoàn mà phải chia phần việc cho các công ty kiểm toán khác để tránh tình trạng tập trung lợi ích có thể dẫn tới những tiêu cực có thể xảy ra.

  • Ban giám đốc công ty không được quyền quyết định chọn hay chấm dứt hợp đồng với công ty kiểm toán, mà quyết định này thuộc về ban kiểm toán của công ty.

  • Hàng năm, các công ty phải có báo cáo kiểm soát nội bộ, trong đó các thông tin về tình hình tài chính của công ty phải có sự chứng thực của công ty kiểm toán.

  • Các tội danh liên quan đến các thay đổi, hủy hồ sơ, tài liệu hay cản trở gây ảnh hưởng pháp lý điều tra có thể bị phạt tù lên đến 20 năm (Mục 802).

Một điểm đáng chú ý khác, trong Mục 404 của đạo luật yêu cầu: “Các công ty được yêu cầu phải công bố thông tin trong báo cáo hàng năm của họ liên quan đến phạm vi và phù hợp với kiểm soát nội bộ. Các công ty phải đăng ký kế toán, trong cùng một báo cáo, chứng thực và báo cáo về việc đánh giá về hiệu quả của các cơ cấu kiểm soát nội bộ và các thủ tục cho các báo cáo tài chính…”.

Trong một diễn văn của mình tại Việt Nam năm 2008, ông Paul Sarbanes cho rằng, lúc đầu đạo luật này có nhiều điểm bị phản ứng mạnh từ phía các công ty đại chúng ở Mỹ, đặc biệt là các công ty đang niêm yết cổ phiếu trên sàn New York do những yêu cầu rất cao về tính minh bạch.

Tuy nhiên sau những thỏa thuận về một vài thay đổi đáp ứng những yêu cầu từ các nhà làm luật, đạo luật này mới chính thức được thông qua ở Hạ viện và Thượng viện trước khi được nguyên Tổng thống George W.Bush (năm 2002) ký thông qua thành luật.


  1. VỤ BÊ BỐI SATYAM - “ VỤ ENRON CỦA ẤN ĐỘ”

1.Diễn biến sự việc

Satyam, do ông Raju thành lập năm 1987, hiện có 53.000 nhân viên tại 66 nước. Satyam có hơn 600 khách hàng trên toàn thế giới, trong đó có những “đại gia” như General Electric, Unilever, Nestlé, Cisco, Sony và Ngân hàng Thế giới (WB)... Satyam là tập đoàn đầu tiên của Ấn Độ có cổ phiếu được niêm yết ở ba thị trường chứng khoán: Bombay, New York (Mỹ) và Amsterdam (Hà Lan). Bê bối kế toán tại Satyam được xem là vụ “Enron ở Ấn Độ”, sau sự sụp đổ do mua bán khống của tập đoàn Năng lượng Enron của Mỹ. Ông Raju, người bị buộc tội gian lận, âm mưu và giả mạo, đã thừa nhận đã phóng đại lợi nhuận và tăng bảng cân đối của công ty hơn 1 tỷ USD. Vụ bê bối tài chính cũng khiến PricewaterhouseCoopers, công ty làm kiểm toán tài chính cho Satyam, bị xem là “không đáng tin cậy” .

Trong vụ này, người sáng lập Satyam, ông Ramalinga Raju đã làm giả sổ sách kế toán để thổi phồng doanh thu và lợi nhuận công ty trong suốt một thời gian dài mà không bị phát giác. Satyam Computer Services, tập đoàn cung cấp các dịch vụ phần mềm máy tính và công nghệ thông tin lớn thứ tư Ấn Độ đang được ví là Enron của nước này. Enron, tập đoàn năng lượng lớn của Mỹ đã bị phá sản năm 2001 do có hành vi lừa đảo, khai man sổ sách, số liệu trong báo cáo tài chính để loè bịp các cổ đông và công chúng đầu tư.



Kịch bản này đã được Satyam lặp lại y nguyên và cũng đã che giấu được mọi người trong suốt một thời gian dài. Tuy nhiên, vào ngày 7/1/2009, khi đã cùng đường, B. Ramalinga Raju, 54 tuổi, người sáng lập và là Chủ tịch Satyam đã buộc phải công khai thú nhận mọi hành vi lừa đảo, nhận hết trách nhiệm và xin từ chức. Ngày 9/1, Ramalinga Raju đã bị bắt tạm giam vì những sai phạm trên. 

Ngay sau khi thông tin về vụ lừa đảo "động trời" trên được tiết lộ, trong phiên giao dịch ngày 8/1, tại Sở GDCK Mumbai (Ấn Độ), giá cổ phiếu của Satyam đã giảm tới 77,69%, xuống còn 39,95 rupee/cổ phiếu và Chỉ số chứng khoán cơ bản Sensex của TTCK Ấn Độ cũng giảm 7,3%. Ngày 9/1, cổ phiếu của Satyam tiếp tục "rơi tự do" xuống còn 11,50 rupee/cổ phiếu (24 UScent/cổ phiếu), mức thấp nhất kể từ tháng 3/1998. Tính ra, so với thời cao điểm cách đây 6 tháng khi giá 1 cổ phiếu của Satyam là 544 rupee, theo đó vốn hoá thị trường của Satyam là khoảng 7 tỷ USD thì nay con số này chỉ còn là 330 triệu USD.

Còn Sở GDCK New York thì đình ngay lập tức mọi giao dịch liên quan đến cổ phiếu của Satyam được niêm yết ở đây.

Ramalinga Raju đã thừa nhận thổi phồng các số liệu về doanh thu và lợi nhuận của Satyam.  Lúc đầu Ramalinga Raju mới chỉ "xào xáo" số liệu ở mức độ thấp, thấy ngon xơi và "ngựa quen đường cũ" cứ thế mà làm, với quy mô ngày càng lớn hơn. Song đâm lao phải theo lao, nên có lúc Ramalinga Raju muốn dừng, song không thể. Khi số liệu giả đã đạt đến mức khủng khiếp, không thể giấu được nữa thì Ramalinga Raju buộc phải thừa nhận rằng, 1 tỷ USD, tương đương 94% lượng tiền mặt mà theo sổ sách Công ty đang có trong két là con số ma.

Trước đó, vào giữa tháng 12/2008, ông này đã có ý định "làm sạch" lại số liệu hay nói đúng hơn là hợp thức con số 1 tỷ USD ma kia bằng cách mua lại 2 công ty Maytas Properties và Maytas Infrastructure do chính các con ông làm chủ với giá 1,6 tỷ USD. Song, các cổ đông và nhà đầu tư phản đối kịch liệt và bắt đầu vụ scandal bị vỡ lở dần. B. Rama Raju, em trai Ramalinga Raju, người đồng sáng lập và Giám đốc điều hành (CEO) cũng xin từ chức.

2.Phân tích nguyên nhân

Chủ tịch Raju cho biết trong nhiều quý liên tiếp, ông đã khai khống lợi nhuận của Satyam ở mức 20% so với con số trung bình và khoảng 3% trên thực tế như quý 3-2008. Thông báo của ông Raju lập tức kéo giá cổ phiếu Satyam sụt gần 80% trên thị trường chứng khoán Mumbai, xuống chỉ còn 40 rupee và 92% trên sàn giao dịch New York, chỉ còn 82 cent, đưa tổng giá trị cổ phiếu Satyam từ 7 tỉ USD tụt xuống chỉ còn 550 triệu USD. Cú sốc này khiến thị trường Mumbai rung chuyển và sụt 7,3%. ông Raju cho biết ban đầu cú lừa khổng lồ này bắt đầu từ nỗ lực “làm sạch” một sự khác biệt nhỏ trong sổ sách kế toán, nhưng đã phình ra đến mức không thể kiểm soát theo năm tháng khi công ty mở rộng hoạt động. Ông Raju cho biết đã chuẩn bị ra đầu thú trước luật pháp và chấp nhận mọi hậu quả.

Cuối năm 2008, Satyam gây cơn xáo động khi ông Raju tuyên bố muốn mua lại với giá 1,6 tỉ USD hai công ty địa ốc Maytas Properties và  Maytas Infra của chính ông Raju và các con ông điều hành (Maytas chỉ là chữ Satyam viết đảo ngược lại). Nếu hoàn thành, Satyam sẽ mất 1 tỉ USD tiền mặt và nợ thêm 400 triệu USD. Tuy nhiên, chỉ vài giờ sau khi công bố dự định trên, ông Raju đã phải bỏ cuộc do vấp phải sự phản đối dữ dội của các cổ đông và nhà đầu tư. Khi đó, giới quan sát chỉ cho rằng đó là hành động trơ tráo của gia đình Raju nhằm đút túi số tiền mặt khổng lồ của Tập đoàn Satyam.

Tuy nhiên, ông Raju thừa nhận trên thực tế vụ mua bán bất thành này là “nỗ lực cuối cùng nhằm đưa số tài sản ảo trở thành thực tế”.Ông Raju buộc phải tiết lộ sự thật do đã cam kết trao 8% cổ phần của công ty cho các tổ chức cho vay quốc tế để đổi lấy những khoản vay. Khi giá cổ phiếu Satyam sụt giảm do cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, các tổ chức cho vay bắt đầu bán số cổ phiếu này để tránh lỗ. Ngoài ra, nguy cơ Satyam bị mua lại hoặc sáp nhập khiến những khoản tiền ảo có nguy cơ lộ tẩy. Ông Raju không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc thú nhận sự thật.



3.Trách nhiệm pháp lý

Đây được xem là vụ bê bối về tài chính có quy mô lớn nhất từ trước đến nay ở Ấn Độ. Vụ scandal này chắc chắn sẽ có ảnh hưởng tai hại đến uy tín của ngành công nghệ thông tin Ấn Độ. Vụ bê bối này có ảnh hưởng sâu rộng. Với gần 53.000 nhân viên làm việc tại 65 quốc gia và vùng lãnh thổ, Satyam có nhiều khách hàng ruột quá nổi tiếng. Đó là 185 công ty trong danh sách Fortune 500 (danh sách 500 công ty lớn nhất thế giới - xét theo doanh thu), trong đó có General Electric, Nestlé, Merrill Lynch, Ford..., rồi Ngân hàng Thế giới (WB), thậm chí cả Chính phủ Mỹ cũng là khách hàng của Satyam. Nay các đối tác, khách hàng đều đồng loạt tuyên bố cắt đứt mọi quan hệ hợp tác, làm ăn với Satyam.

Tập đoàn kiểm toán PricewaterhouseCoopers cũng có phần trách nhiệm không nhỏ khi là nhà kiểm toán chính thức của Satyam từ năm 2001, khi cổ phiếu của Satyam chính thức được niêm yết và giao dịch tại Sở GDCK New York. Trong suốt hơn 7 năm qua, PricewaterhouseCoopers không hề phát hiện ra tội tày trời này.

Vụ việc đã khiến hai kiểm toán viên của hãng kiểm toán PricewaterhouseCoopers bị cảnh sát bắt giữ, các nhà chức trách bang Bangalore nơi Satyam đặt trụ sở phải hứng chịu những lời chỉ trích nặng nề. Chính phủ Ấn Độ mới đây đã tiến hành điều tra đối với 325 công ty có liên đới tới vụ gian lận được xếp vào hàng lớn nhất trong lịch sử Ấn Độ này.



4.Bài học từ satyam

Không được dựa hoàn toàn vào các cơ quan quản lý và kiểm toán viên:



Các cơ quan quản lý và các kiểm toán viên là những “bộ lọc” quan trọng giúp ngăn ngừa và phát hiện các sai sót và gian lận. Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu nhà đầu tư dựa hoàn toàn vào hai bộ lọc này để ra quyết định đầu tư.

Về vai trò của Kiểm toán viên, sau khi vụ Satyam bị phanh phui, rất nhiều chỉ trích được dành cho kiểm toán viên của họ. Việc không phát hiện số dư Tiền bị “thổi” tới 1 tỷ đô la đáng để Price Waterhouse bị lên án, bởi Tiền là một trong những tài khoản dễ kiểm tra nhất. Tuy nhiên, vụ việc này cũng cho thấy một sự hiểu sai nữa của các nhà đầu tư đối với công việc của các kiểm toán viên. Mặc dù chức năng của kiểm toán viên là kiểm tra và xác nhận tính trung thực hợp lý của báo cáo tài chính, họ không phải là cảnh sát điều tra. Các thủ tục kiểm toán được thực hiện trên cơ sở các tài liệu, bằng chứng do doanh nghiệp cung cấp (và một số bằng chứng khác do kiểm toán viên tự thu thập). Trong công việc của mình, các kiểm toán viên thường dựa nhiều vào hệ thống kiểm soát nội bộ do doanh nghiệp thiết lập nhằm ngăn ngừa các gian lận và sai sót (sau khi tiến hành các thủ tục cần thiết để đánh giá hiệu lực của hệ thống này). Công việc của kiểm toán viên chỉ có hiệu quả cao nếu có sự hợp tác từ phía doanh nghiệp. Một khi những nhân vật quản lý cấp cao trong doanh nghiệp đã cố tình gian lận bằng cách tạo ra các giao dịch ảo hoặc hồ sơ chứng từ giả (các bằng chứng ban đầu cho thấy dấu hiệu Satyam làm giả chứng từ ngân hàng), thì việc phát hiện các gian lận đó là cực kỳ khó khăn. Trong nhiều trường hợp gian lận chỉ có thể được phát hiện khi có sự tham gia của các cơ quan điều tra. Một vấn đề nữa các nhà đầu tư cũng nên hiểu là do giới hạn chi phí, kiểm toán viên không thực hiện các thủ tục để bảo đảm 100% không có sai sót trọng yếu. Thông thường các phương pháp tiếp cận kiểm toán chỉ nhằm đạt tới 95% độ tin cậy. Điều này có nghĩa là nếu một công ty kiểm toán có 1,000 khách hàng, thì không có gì ngạc nhiên nếu vài khách hàng trong số đó có các sai sót trọng yếu mà không bị phát hiện. Nói cách khác, các nhà đầu tư cần biết rằng, kể cả khi kiểm toán viên đã làm hết trách nhiệm của mình rồi, báo cáo tài chính được xác nhận là trung thực hợp lý rồi, thì vẫn có một xác suất nhất định báo cáo tài chính không trung thực hợp lý, khiến cho quyết định đầu tư dựa trên thông tin từ báo cáo tài chính có thể sai lầm. Để hạn chế nguy cơ này, một lần nữa các nhà đầu tư không nên quên nguyên tắc “đa dạng hóa danh mục đầu tư”.

V. LEHMAN BROTHERS - SỰ SỤP ĐỔ ĐƯỢC VÍ NHƯ “SỰ TÀN PHÁ VĨ ĐẠI CỦA GIÁ TRỊ”

1 .Diễn biến sự việc:

1.1.Trước khi lâm vào khủng hoảng và sụp đổ

Thành lập từ năm 1884 bởi anh em nhà Lehman, con trai của một người di dân từ Đức, sau đó sát nhập với American Express năm 1969 và tách ra 1994. Lehman Brothers là một định chế tài chính với hoạt động chủ yếu trên 4 lĩnh vực sau:

Đầu tư cổ phiếu (Equities), Trái phiếu và thu nhập cố định (fixed income), đây là thế mạnh lớn nhất của Lehman

Ngân hàng đầu tư (investment banking) mà thực ra bản chất giống với hoạt động tư vấn của các công ty chứng khoán, Quản lý quỹ.



Năm 1887, công ty của anh em nhà Lehman trở thành hội viên của Sở Giao dịch Chứng khoán New York. Năm 1899, lần đầu tiên công ty nhận bảo lãnh phát hành trái phiếu doanh nghiệp. Sau khi Phillips lên làm chủ tịch công ty thì Lehman Brothers bắt đầu liên kết với Goldman Sachs và trong vòng 20 năm, liên danh này đã nhận bảo lãnh phát hành hàng trăm trái phiếu doanh nghiệp khác nhau. Robert (con Philip) nối nghiệp ông cha đã làm nên kỳ tích, giúp Lehman Brother vượt qua những ngày tháng khó khăn do cuộc Đại Khủng hoảng gây ra. Lúc ấy công ty này đã hậu thuẫn tài chính cho các nhà đầu tư cá nhân và hỗ trợ tài chính cho các vụ sáp nhập doanh nghiệp. Sự nghiệp kinh doanh mạo hiểm của Lehman Brothers bắt đầu từ đó.

    1. Quá trình phá sản

Những năm đầu của thập niên 2000, BNC Mortgage - công ty con của Lehman Brothers đã tích cực cho vay thứ cấp đối với các dự án nhà ở. Cuộc khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp làm cty này thua lỗ nặng. Lehman Brothers đã quyết định đóng cửa cty con này vào tháng 8/2007. Tuy nhiên không chỉ riêng BNC Mortgage mà cả tập đoàn Lehman Brother đều tích cực tham gia cho vay nhà ở thứ cấp. Việc chứng khoán hóa các khoản cho vay không gặp thuận lợi bởi lãi suất không hấp dẫn

Năm 2008, công ty lỗ nặng chưa từng thấy. Riêng trong nửa đầu năm 2008, cổ phiếu của Lehman Brothers mất giá tới 70%. Tháng 4, Lehman Brothers đã huy động 4 tỷ đôla từ việc phát hành thêm cổ phiếu từ các nhà đầu tư.

Ngày 9/6/2008: cổ phiếu Lehman sụt giá 8.7%, đứng ở mức 29.48 đôla tại New York

Ngày 16/06/2008: Lehman công bố báo cáo tài chính 

Tổng giám đốc Lehman Brothers, nói: "Tôi rất thất vọng về kết quả tài chính quí này"

Lòng tin của các nhà đầu tư tiếp tục giảm đi khi cổ phiếu của công ty mất giá thêm 50% vào ngày 9/9/2008.

Ngày 10/9/2008: công ty tuyên bố đã thua lỗ 3,9 tỷ dolla, và bị rao bán.

Ngày 15/9/2008: đệ trình hồ sơ xin phá sản, không có công ty nào chấp nhận mua lại.

: nonghocbucket -> UploadDocument server07 id50526 114188
UploadDocument server07 id50526 114188 -> Trường Đại Học Mỏ Địa Chất Khoa Dầu Khí Lời mở đầu
UploadDocument server07 id50526 114188 -> MỤc lục mở ĐẦU 10 Xuất xứ của dự án 10
UploadDocument server07 id50526 114188 -> Thiết kế MÔn học nhà MÁY ĐIỆn lời nóI ĐẦU
UploadDocument server07 id50526 114188 -> ĐỀ TÀi ngân hàng trung ưƠng trưỜng trung cấp kt-cn đÔng nam
UploadDocument server07 id50526 114188 -> Seminar staphylococcus aureus và những đIỀu cần biếT
UploadDocument server07 id50526 114188 -> Bài thảo luận Đánh giá chất lượng sản phẩm dầu thực vật Môn Phân Tích Thực Phẩm Nhóm 2 : Hoàng – Hùng Hiếu Hồng
UploadDocument server07 id50526 114188 -> Luận văn tốt nghiệp gvhd: pgs. Ts nguyền Ngọc Huyền MỤc lục danh mục các chữ viết tắT
UploadDocument server07 id50526 114188 -> Mục lục Tổng quan về thịt
UploadDocument server07 id50526 114188 -> Gvhd: Nguyễn Minh Hùng Đề tài: Tìm Hiểu & Nghiên Cứu cpu


  1   2   3


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương