Giải thích thuật ngữ: Chứng khoán? Môi giới? Đầu tư?


Các loại lãi suất của thị trường tiền tệ



tải về 2.23 Mb.
trang22/32
Chuyển đổi dữ liệu18.08.2016
Kích2.23 Mb.
1   ...   18   19   20   21   22   23   24   25   ...   32

Các loại lãi suất của thị trường tiền tệ

Các công cụ trong thị trường tiền tệ - là nguồn cung vốn ngắn hạn - hoạt động và tồn tại theo cơ chế các lợi suất yield. Một cơ chế lợi suất hợp lý và hữu hiệu là yếu tố nền tảng cho các giao dịch chứng khoán ngắn hạn. Ngược lại, một thị trường vốn ngắn hạn thị trường tiền tệ hoạt động hiệu quả sẽ là cơ sở xác lập các lãi suất interest rates trên thị trường vốn nói chung. Khi khảo sát về lãi suất, nhất là tại thị trường tài chính Mỹ, nếu thuật ngữ lãi suất được viết với số nhiều - interest rates - thì ta nên hiểu nó muốn diễn đạt một tập hợp các lãi suất được tham khảo qua lại chính thức, đang có hiệu lực tác động trên thị trường tài chính. Dưới đây chúng ta sẽ tìm hiểu ý nghĩa của các loại lãi suất đó. 



Lãi suất cơ bản

Lãi suất cơ bản prime rate, còn gọi là prime được các ngân hàng thương mại tầm cỡ tại các trung tâm tài chính chủ lực của một nền kinh tế công bố và áp dụng đối với các khoản nợ dành cho các doanh nghiệp là khách hàng lớn. Dù các ngân hàng không nhất thiết thu lãi đúng như mức công bố, thường thì thu cao hơn và đôi khi thấp hơn, lãi suất cơ bản được xem là cơ sở để các mức lãi khác tham khảo áp dụng hoặc dựa vào đó để điều chỉnh. Vì nhiều lý do ảnh hưởng khác nhau, khi một lãi suất cơ bản tăng lên nhìn chung giá cả chứng khoán được xem là bất lợi. Có thể nhiều người nghĩ rằng lãi suất cơ bản chỉ quan trọng đối với các doanh nghiệp lớn, bởi khi các "đại gia" đi vay họ luôn quan tâm đặc biệt tới mức lãi "ưu đãi số một" này, thật ra, sự chuyển biến của lãi suất cơ bản còn có ảnh hưởng trực tiếp đối với từng nhà đầu tư. 

Trước tiên, lãi suất này là yếu tố quyết định mức lãi mà nhà đầu tư phải trả nếu giả định họ phải mua chứng khoán bằng tiền đi vay, theo hình thức tài khoản bảo chứng margin. Khi lãi suất cơ bản tăng, lãi suất áp dụng trên tiền huy động sẽ tăng theo, do vậy chi phí mua giữ chứng khoán hoặc duy trì một vị thế đầu tư trong thị trường chứng khoán cost of carry hay carrying charges sẽ cao, người đầu tư dễ rơi vào tình huống rủi ro. Ngược lại, một sự cắt giảm lãi suất cơ bản sẽ làm giảm chi phí mua giữ chứng khoán đối với các khoản tiền huy động, điều này lại khuyến khích người đầu tư mua nhiều chứng khoán hơn, làm lượng cầu tăng, và hẳn là giá chứng khoán cũng tăng. Ta thấy đó, cả hai đằng có thể đều là bất lợi! 

Kế đó là, các sự thay đổi về lãi suất cơ bản là dấu hiệu quan yếu cho những thay đổi đang hoặc có thể xảy ra đối với các loại lãi suất khác. Chẳng hạn các tổ chức cho vay thường nâng lãi suất cơ bản lên để bù đắp sự gia tăng của chính chi phí tạo lập các nguồn vốn của họ, hoặc cũng có nghĩa là để đáp ứng sự cạnh tranh trong nhu cầu vay nợ của khách hàng. Như vậy, một sự gia tăng lãi suất cơ bản có thể là dấu hiệu của một trào lưu đói vốn. Ngoài ra, các khoản cho vay khi bị thu hẹp có thể gây áp lực làm tăng mặt bằng các lãi suất nói chung. 

Lãi suất cơ bản được xem là một loại lãi suất tham khảo quan trọng trong thị trường. Nhìn chung nó thay đổi chậm hơn hầu hết các lãi suất khác, do nó nằm trong tầm kiểm soát của các tổ chức cho vay. Nếu lãi suất huy động nóng federal funds rate có thể biến động lớn trong thời gian rất ngắn, thì lãi suất cơ bản được duy trì ở mức tương đối ổn định lâu hơn và nếu có biến động, nó sẽ diễn biến theo những nấc nhỏ 1/4%. Cũng cần xác định rằng lãi suất cơ bản là loại lãi suất ngắn hạn, nó có thể so sánh với loại lãi suất của các trái khoản kho bạc ngắn hạn của nhà nước T- bills. Và như một tất yếu, lãi suất cơ bản thường thường thấp hơn các lãi suất được trả cho trái phiếu công ty. Tuy nhiên, ta nên lưu ý thêm rằng, một sự gia tăng của loại lãi suất này sẽ luôn luôn còn là tin đáng buồn cho thị trường trái phiếu. 

Lãi suất tiết kiệm

Lãi suất tiết kiệm passbook rate là lãi suất được xác lập bởi hoạt động tiết kiệm giữa khách hàng ký thác với ngân hàng hoặc các tổ chức phát triển gia cư. Các định chế tài chính này được lập ra chủ yếu huy động vốn để cho vay phục vụ cho mục đích phát triển bất động sản. Đây là hoạt động thu hút tiết kiệm rất phổ biến ở Mỹ, tổ chức theo các Hiệp hội Tiết kiệm và Cho vay Savings and Loan Association - S&L. Các hiệp hội này thường được sở hữu tập thể bởi những người đã gởi tiền vào đó, nhưng cũng có thể là tổ chức tài chính được lập ra nhằm để kiếm lợi nhuận. Lãi suất tiết kiệm được quần chúng rộng rãi quan tâm và nó được xem là loại lãi suất có độ biến động rất thấp so với các lãi suất khác. 



Lãi suất huy động nóng

Lãi suất huy động nóng hay có thể gọi là lãi suất qua đêm federal funds rate là loại lãi suất được xác lập bởi thị trường cho vay tạm thời các khoản nợ để đáp ứng cân đối dự trữ theo luật định mà các ngân hàng thương mại phải duy trì tại Ngân hàng Trung ương. Những ngân hàng có cân đối dự trữ vượt yêu cầu có thể sử dụng khoản vượt này để cho các ngân hàng bị hụt vay tạm. Các khoản cho vay "tình thế" này tại Mỹ thường được thực hiện với số tiền tương đối lớn, từ một triệu đô la trở lên. Mặc dù các khoản nợ này luôn luôn được thực hiện trên cơ sở một ngày tròn đáo hạn, chúng có thể được gia hạn thêm. Do bởi Ngân hàng Trung ương kiểm tra rất chặt chẽ các khoản dự trữ bắt buộc này, lãi suất huy động qua đêm được xem là một biểu thị quan trọng về chính sách tiền tệ của cấp nhà nước và chiều hướng tương lai của các lãi suất khác. Các nhà phân tích tài chính theo dõi rất sát các diễn biến nhạy cảm trong lãnh vực này để đưa ra các tiên đoán về những thay đổi sắp xảy ra trên các thị trường tín dụng. 

Một sự sụt giảm lãi suất qua đêm có thể cho thấy là Ngân hàng Trung ương đã quyết định kích thích nền kinh tế, muốn nó nóng lên hơn, bằng cách nới lỏng các khoản dự trữ áp dụng cho cả hệ thống ngân hàng. 

Tuy nhiên, các nhà tài chính khuyến cáo ta nên thận trọng khi sử dụng chỉ số này, và khi sử dụng cần kết hợp một số tham khảo khác của bối cảnh để xác định. Bởi vì một lãi suất sụt giảm có thể đơn giản chỉ là vì các ngân hàng đã thực hiện việc cho vay thương mại thấp hơn do nhu cầu vốn bên ngoài giảm xuống, như vậy theo lẽ tự nhiên, ngân hàng sẽ cần ít hơn các khoản vay mượn để cân đối dự trữ. 

Bản thân lãi suất qua đêm mang ý nghĩa huy động vốn nóng, cho nên đây là loại lãi suất có biến động nhiều nhất trong các loại lãi suất nó thay đổi hằng ngày để phản ánh nhu cầu vốn cần điều chuyển qua lại giữa các ngân hàng cho hoạt động tín dụng của mình. 

Lãi suất chiết khấu của Ngân hàng Trung ương

Lãi suất chiết khấu discount rate là lãi suất được thu trên các khoản tiền mà Ngân hàng Trung ương cho các ngân hàng thành viên trong hệ thống vay. Đây là công cụ điều tiết vĩ mô thường được Mỹ và các nước phương tây sử dụng rất hiệu quả. Các khoản vay đó được cầm cố bằng các chứng khoán của chính phủ hoặc các giấy tờ có giá đủ hiệu lực khác theo quy định. Thỉnh thoảng Ngân hàng Trung ương có thể điều chỉnh lãi suất chiết khấu để khuyến khích hoặc hạn chế các ngân hàng thành viên vay mượn. 

Về phương diện vĩ mô, một sự thay đổi của lãi suất này được xem là một dấu hiệu chiến lược mạnh thể hiện chính sách của Ngân hàng Trung ương, nhắm vào những đổi thay trong tương lai về cung tiền tệ và điều chỉnh các lãi suất thị trường. Tổng quát mà nói, một lãi suất chiết khấu tăng lên là báo động sẽ có tình trạng gia tăng các lãi suất của thị trường tiền tệ và thị trường vốn nói chung. Đây là ý đồ siết chặt lượng cung tiền tệ hoặc để hạ siết hoạt động kinh tế. Lãi suất chiết khấu là loại lãi suất thấp nhất trong tất cả các loại lãi suất trên thị trường. 

Lãi suất LIBOR

Lãi suất LIBOR London Interbank Offered Rate là lãi suất làm căn cứ giao dịch tín dụng bằng đồng đô la Mỹ tại hải ngoại, được công bố bởi một liên ngân hàng tại Luân Đôn. Đây là lãi suất trung bình áp dụng cho các khoản ký thác bằng đô la Mỹ do 5 ngân hàng lớn nhất của Anh công bố tại thị trường Luân Đôn. Lãi suất LIBOR là loại lãi suất cơ bản ngắn hạn. Đồng đô la Mỹ sử dụng trong hoạt động tín dụng tại các nước bên ngoài nước Mỹ được gọi chung là "Eurodollar". Lúc đầu Eurodollar được áp dụng cho thị trường châu Âu thôi, nhưng dần dần cho tới ngày nay khái niệm Eurodollar đã được đồng hoá toàn cầu. Tương tự là khái niệm “Eurocurrency" được gọi chung cho bất cứ đồng tiền của nước nào được ký thác và giao dịch tại các ngân hàng nằm ngoài nước đó, kể cả các chi nhánh của họ. 

Lãi suất LIBOR là căn cứ cho các nước tham khảo để thực hiện các khoản huy động cũng như cho vay bằng đô la Mỹ. Khái niệm về lãi suất này do đó tương tự như lãi suất cơ bản mà các ngân hàng lớn ví dụ tại Mỹ áp dụng đối với các khoản cho vay trong nước họ. 

Ngoài ra, như ta đã có dịp khảo sát về hoạt động tín dụng trong thị trường chứng khoán với tài khoản đầu tư bằng cầm cố để vay mượn - tài khoản bảo chứng "margin" cũng như các sản phẩm vốn ngắn hạn trong thị trường tiền tệ, tất cả những sư trao đổi, giao dịch vốn như vậy đều có mức ước lệ về phí tổn. Các lãi suất nhạy cảm có giá trị tham khảo rộng rãi trong hai loại thị trường đó còn gồm có: 



  • Lãi suất bảo chứng:

Là lãi suất để duy trì tài khoản đầu tư bằng tín dụng, gọi là "call money rate". Lãi suất này là mức mà các nhà môi giới chứng khoán phải trả cho ngân hàng khi thực hiện nghiệp vụ "bảo chứng" margin cho khách hàng. Ở Mỹ, khách hàng đầu tư sau đó sẽ trả lại cho nhà môi giới với lãi suất mà nhà môi giới đã vay hộ cộng thêm thường là 1%, hoặc ít hơn tuỳ khoản vay lớn hay nhỏ. Tại các thị trường phát triển, lãi suất bảo chứng sở dĩ được quan tâm vì nó cho biết mức độ thịnh suy của TTCK. Khi người ta đi vay vốn để làm ăn có nghĩa là thị trường đang phát triển hoặc có một toàn cục "bình yên". 

  • Lãi suất kỳ phiếu công ty rate on commercial paper:

Như ta đã biết trong thị trường tiền tệ, các công ty tài chính hoặc công ty lớn thường tận dụng lợi thế về uy tín của mình để huy động các khoản vay thương mại ngắn hạn, thay vì phải đi vay ngân hàng với lãi suất cao hơn. Đặc biệt các kỳ phiếu xếp hạng cao loại prime paper của Mỹ chẳng hạn được các tổ chức và đặc biệt là các quỹ đầu tư hỗ tương chứng khoán ngắn hạn money market funds mua vào theo hình thức lãi suất chiết khấu. Đây cũng là tham số quan trọng để đánh giá tình trạng làm ăn chung của một nền kinh tế. 

  • Lãi suất chứng chỉ tiền gửi:

Là lãi suất bình quân được tính toán dựa trên một số các lãi suất tiêu biểu, có độ tin cậy cao nhất, do một số ngân hàng hàng đầu trong nền kinh tế áp dụng khi họ phát hành các chứng thư ký thác certificates of deposit - CD để thu hút vốn với lượng tiền lớn ở New York không dưới 100.000 USD. 

  • Lãi suất trái phiếu kho bạc ngắn hạn T- bills:

Được xác định bằng hình thức đấu giá với khoản chiết khấu trên các mệnh giá của trái phiếu chính phủ có kỳ hạn dưới một năm.

Những phân tích trên đây có thể cũng khá đủ để giúp cho chúng ta biết lãi suất được điều hành và có những nội dung như thế nào trong quá trình chúng giữ vai trò đo lường, tính toán chi phí đầu tư giao dịch, giải quyết những tình huống cung cầu của thị trường, làm căn cứ tham khảo, xem xét hiệu quả, .... Như vậy nếu có một thông tin về quyết định tăng hay giảm lãi suất của một nước, để làm nguội bớt hay khuyến khích tăng trưởng một không gian kinh tế. ta có thể xác định được ngay đó là loại lãi suất nào ?. 

Và chúng ta thử ghi nhận để tham khảo thêm một ý sau: nếu không có một thị trường tiền tệ thì sẽ không có các lãi suất thị trường. Mà lãi suất thị trường chính là năng lượng, hay có thể nói là chất men, kích hoạt thị trường trái phiếu. Không có các lãi suất nhạy cảm đó thì khó có một thị trường mua bán trái phiếu hữu hiệu.

Những nguyên tắc vàng…

- Thói quen đã trở thành quy luật.

- Hãy hình dung một người nghiện rượu, trong buổi sáng sau một chuyến say mềm đã quyết định không bao giờ chạm tới cốc rượu nữa. Nhưng buổi chiều đã thấy uống một cốc, hai cốc, ba cốc; và buổi tối đã thấy anh ta lại say như đêm hôm trước.

- Không ở đâu trên thế giới này lại có nhiều người sống bằng các quan hệ của họ trong cùng một mét vuông như trong thị trường chứng khoán.

- Thành công trong đầu cơ chứng khoán là một nghệ thuật khéo léo đi kèm may mắn; nhưng điểm then chốt chính là việc dừng đúng lúc. Ai đã thu lợi gấp đôi số tiền đầu tư trong thời gian ngắn thì cũng sẽ phải chịu rủi ro thất thoát hơn thế nữa.

- Tỷ phú là ai có thể thỏa mãn được nguyện vọng của mình bằng vốn tài sản của chính mình hay lợi tức từ đó mà không phụ thuộc bất kỳ ai hết; không phải làm việc và cũng không phải khéo léo trước lãnh đạo hay khách hàng hoặc bất kỳ ai không hợp với mình. người đàn ông có thể có cuộc sống lý tưởng như vậy, mới thực sự là tỷ phú.



Chứng khoán nợ ngắn hạn trong thị trường tiền tệ

Trong hoạt động thường xuyên của mình, các doanh nghiệp, định chế tài chính và cả chính phủ đều có những nhu cầu ngắn hạn về vốn. Những yêu cầu có tính "tình thế" hoặc đôi khi rất "nóng" này, liên quan đến một khoản tín dụng ngắn hạn hoặc lượng tiền mặt, mà nếu phải lệ thuộc vào thủ tục của các khung luật lệ chế định dùng chung cho việc huy động vốn theo cơ chế bình thường trong thị trường chứng khoán TTCK thì dễ mất ý nghĩa thời gian. Do vậy, để cho đỡ tốn kém và chạy việc, người ta chế định riêng và chuẩn hoá các "sản phẩm" để tiện giao dịch cho các nhu cầu tài chính dưới một năm. Thị trường dành cho các nhu cầu giao dịch vốn loại này gọi là thị trường các chứng khoán ngắn hạn hay thị trường tiền tệ the money market. 

Do vai trò và mục đích được xác định như vậy, các chứng khoán tín dụng ngắn hạn có những đặc tính rất phân biệt so với các sản phẩm trong TTCK: 

- Chuyển dịch: Thị trường tiền tệ giúp gia tăng nhịp độ lưu thông tiền tệ, luân chuyển các quỹ từ các tổ chức tạm thời dư tiền sang những tổ chức tạm thời đang thiếu tiền. Những người cần huy động tiền trong thị trường vốn ngắn hạn sẽ gồm kho bạc Nhà nước, các ngân hàng thương mại lớn, các công ty, những công ty kinh doanh chứng khoán chuyên nghiệp trong lãnh vực này và các cấp chính quyền tỉnh thành được phép. Những người cho vay chủ lực gồm các tổ chức như các ngân hàng, các công ty tín thác trust companies và các công ty bảo hiểm. 

- Lưu hoạt và an toàn: Các sản phẩm trong thị trường nợ ngắn hạn có thời hiệu giao dịch và đáo hạn dưới một năm và cho thu nhập cố định. Các chứng khoán công cụ trong thị trường này được phát hành theo khuôn khổ các chuẩn mực định sẵn và có ý nghĩa như tiền, do đó đây là loại đầu tư rất lưu hoạt và nhận được sự an toàn tương đối cao.
 

- Chủ thể phát hành: Gồm chính phủ, các tổ chức trung gian của chính phủ, các ngân hàng và công ty. Các giấy tờ có giá được họ phát hành ngắn nhất là qua đêm, vài tháng và lâu nhất là một năm. 

Các công cụ sử dụng thị trường tiền tệ tiêu biểu ở Mỹ gồm có: 

Thoả thuận mua lại Repurchase agreements repo 

Giả định tổ chức A đang sở hữu T- bills trái phiếu ngắn hạn kho bạc nhà nước và họ đang cần có ngay một khoản tiền. Tổ chức B lại là người đang dư tiền. A đề nghị B cùng tham gia vào một thoả thuận mua lại, bằng cách A bán cho B một lượng T-bills để huy động lượng tiền mặt mình cần, đồng thời thoả thuận sẽ mua lại lượng T- bills đó vào một ngày được xác định trước trong tương lai, với giá cao hơn mức B đã trả. 

Ta có thể hiểu cách này giống nhự đi mượn tiền của B và bảo đảm nợ vay bằng T- bills. B là người cho vay sẽ hưởng lợi từ khoản chênh lệch giữa giá tiền B đã bỏ ra mua thấp và số tiền mà A cam kết sẽ trả khi mua lại luôn cao hơn đối với cùng lượng T- bills kia. 

Repo có công dụng vừa như một phương thức vay vốn ngắn hạn của các tổ chức tài chính ngân hàng, vừa được sử dụng như một công cụ điều tiết vĩ mô can thiệp nhanh và tạm thời trong lãnh vực tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước. Do vậy, những tổ chức sử dụng phương thức này nhiều nhất là: 

- Các nhà kinh doanh chứng khoán chính phủ và chứng khoán đô thị, dùng để tài trợ lượng chứng khoán tồn kho của họ. 

- Các ngân hàng thương mại, dùng để huy động vốn ngắn hạn, và  

- Ngân hàng trung ương, tạo hiệu lực thay đổi về yêu cầu dự trữ ngắn hạn đối với các ngân hàng trong hệ thống, nhằm để thường xuyên tối ưu hoá - fine tuning - lượng cung tiền tệ đang lưu thông. Những can thiệp điều chỉnh tạm thời này giúp nhà nước có thêm công cụ đê điều hoà nền kinh tế một cách hiệu quả, liên tục và tránh gây ồn ào. 

Thoả thuận bán lại REVERSE REPURCHASE AGREEMENT - REVERSE REPO 

Đây là hình thức ngược lại của repo. Một nhà kinh doanh chứng khoán A đồng ý mua chứng khoán của một nhà đầu tư nào đó B, đồng thời A thoả thuận sẽ bán lại cho B lượng chứng khoán mà mình đã mua theo một giá cao hơn giá lúc mua. Chênh lệch mua thấp bán cao đó là khoản lợi của A. Thời gian và giá cả được xác định trước theo một thoả thuận. Sự khác biệt giữa repo và reverse repo dễ dàng nhận ra ở chỗ, trường hợp repo thì A cần tiền nên tạm bán chứng khoán cho B để "vay" B , còn đối với reverse repo thì A lại thừa tiền nên tạm mua chứng khoán B để cho B vay. 



Bảo chi ngân hàng BANKERS’ ACCEPTANCE - BA 

Bảo chi ngân hàng các BAs là một loại hối phiếu trả chậm ngắn hạn, có ghi ngày chi trả tại một ngân hàng giao dịch nào đó. Ở Mỹ, các BAs được dùng để tạo thuận lợi cho hoạt động ngoại thương. Các nhà xuất nhập khẩu có thể dùng phương tiện này để thực hiện giao nhận hàng và tiền một cách linh động hơn với sự thừa nhận của ngân hàng phát hành. 

Giả sử rằng một nhà nhập khẩu tại Mỹ đang mua hàng của nhà xuất khẩu từ Nhật Bản. Nhà nhập khẩu muốn thực hiện trả tiền hàng nhập sau khi hàng được giao nên họ lập thủ tục phát hành một hối phiếu trả chậm time draft - một ngân phiếu có giá trị chi trả vào một ngày nhất định trong tương lai và được bảo đảm bằng một thư tín dụng L/C của ngân hàng tại Mỹ đối với khoản chi trả đó. 

Nhà xuất khẩu có thể giữ hối phiếu đó cho đến ngày xác định để nhận đủ khoản tiền. Tuy nhiên, nếu công ty đó muốn nhận ngay tiền mặt, họ có thể đem hối phiếu tới xin giải ngân tại ngân hàng giao dịch, và nhà xuất khẩu sẽ nhận được tiền ít hơn lượng tiền ghi trên hối phiếu do phải mất một khoản chiết khấu cho ngân hàng. Đến lượt ngân hàng đó làm chủ hối phiếu và được ngân hàng phát hành bảo đảm; lúc này hối phiếu trở thành một BA, được công nhận về phẩm chất như một hàng hoá có khả năng giao dịch. BA đó có thể được giữ đến ngày hẹn trả hoặc cũng có thể được bán đi trên thị trường tiền tệ. 

Các BAs được mua đi bán lại dễ dàng trong thị trường tiền tệ do có chất lượng tin cậy cao bởi vì chúng được bọc lót bằng một sự bảo đảm của một ngân hàng có uy thế, đồng thời với lượng hàng hoá gốc được mua bởi nhà nhập khẩu. Ở Việt Nam, nếu chúng ta có một hệ thống ngân hàng vững mạnh và một tập quán kinh doanh hội nhập, các sản phẩm BAs nếu được nghiên cứu áp dụng, sẽ là giải pháp rất tốt cho vấn đề vốn tín dụng cho thương mại, không riêng gì cho ngoại thương mà có thể cả nội thương. 

Kỳ phiếu công ty COMMERCIAL PAPER 

Kỳ phiếu công ty là công cụ để các công ty huy động các khoản nợ ngắn hạn với chi phí thường thấp hơn nếu họ phải đi vay ngân hàng. Lãi suất kỳ phiếu công ty thấp hơn lãi suất tương ứng đối với một khoản cho vay của ngân hàng, đồng thời, theo luật lệ về chứng khoán của Mỹ luật phát hành chứng khoán 1933, nếu kỳ phiếu có thời hạn ngắn hơn 270 ngày thì được miễn thủ tục đăng ký đầy đủ, do đó tổn phí phát hành cũng sẽ giảm. Đặc biệt, loại kỳ phiếu này còn cho phép thương lượng linh động cả về thời gian đáo hạn lẫn lãi suất. 

Kỳ phiếu công ty thường được phát hành bằng hình thức nặc danh bearer form và phương thức chiết khấu trên mệnh giá. Ở Mỹ, các giao dịch loại chứng khoán nợ này theo lô tròn có giá trị tối thiểu là 250.000USD. Một số kỳ phiếu cũng có thể được phát hành theo phương thức trả lãi định kỳ. Công ty phát hành kỳ phiếu phải là công ty có tên tuổi lớn và uy tín thực sự vì kỳ phiếu công ty là loại nợ không được bảo kê mà chỉ được bảo đảm bằng uy tín của chính công ty đó thôi. Dựa vào thể thức phát hành, kỳ phiếu công ty được phân loại tương đối sau đây: 

- Kỳ phiếu trực tiếp: Tiếng Anh gọi là " "direct paper" là loại kỳ phiếu do các công ty lớn có đủ điều kiện tự mình tổ chức việc phát hành trực tiếp ra công chúng, không thông qua một trung gian thu xếp nào. Kỳ phiếu trực tiếp còn biết đến dưới tên "finance company paper" kỳ phiếu công ty tài chính vì thường chúng được phát hành bởi các công ty tài chính để huy động vốn. 

- Kỳ phiếu gián tiếp: Hầu hết các công ty không có khả năng trực tiếp phát hành kỳ phiếu của mình. Việc phát hành kỳ phiếu sẽ do một công ty chứng khoán trung gian lo liệu. Quần chúng đầu tư mua kỳ phiếu công ty qua các nhà tự doanh chuyên giao dịch loại chứng khoán đó. Do đó mà chúng được gọi là "dealer paper". 

- Kỳ phiếu miễn thuế. Tax exempt commercial paper Kỳ phiếu miễn thuế dùng để chỉ loại kỳ phiếu đô thị có đặc tính tương tự như kỳ phiếu công ty, nhưng chủ thể huy động vốn là các chính quyền địa phương. Kỳ phiếu đô thị được nhà nước cho miễn thuế luôn luôn phải cần đến sự hỗ trợ của một ngân hàng thương mại đảm nhận việc phát hành. 

Khách hàng lớn của các loại kỳ phiếu công ty là các quỹ đầu tư chứng khoán ngắn hạn, các ngân hàng, quỹ hưu trí,… 

Ở Mỹ và phương tây các kỳ phiếu được hiểu theo cách dân dã là một "IOU" I owe you - tôi nợ ngài. Trong giao dịch dân sự, IOU lại là một chứng từ nợ trực tiếp quan trọng. Kỳ phiếu có thể được xem là một IOU cách điệu, đó là loại giấy có giá mua bán được những loại do các công ty thượng thặng và uy tín đầy mình phát hành còn được gọi là "prime paper" kỳ phiếu thượng hạng. 



Chứng thư ký thác CD 

Các chứng thư ký thác loại chuyển nhượng được negotiable certificate of deposit do các ngân hàng thương mại lớn phát hành để huy động vốn vay. Đây là các chứng khoán ngắn hạn trả lãi định kỳ interest bearing và được đảm bảo bằng chính uy tín của ngân hàng phát hành. Ở Mỹ các CD được biết đến như loại chứng khoán "cỡ bự" jumbo CDs, với mệnh giá 100.000 USD là mức tối thiểu, nhưng trong giao dịch, mức tiêu biểu là trên một triệu đô la. Các CDs có thời gian đáo hạn tối thiểu là 7 ngày và các kỳ đáo hạn thường không quá 1 năm. Tuy nhiên, bên cạnh đó còn có các chứng thư ký thác không chuyển nhượng được non-negotiable CDs, loại này không khống chế thời hiệu đáo hạn tối đa, có thể 10 năm hoặc hơn.

Các CDs ngắn hạn, chuyển nhượng được, được mua đi bán lại trên thị trường thứ cấp trước thời gian đáo hạn. Chỉ có các "negotiable CD" mới được xem là công cụ của thị trường tiền tệ. 

Các khoản tài trợ nóng FEDERAL FUNDS HAY FED FUNDS 

Các khoản tài trợ nóng là các vay mượn qua đêm giữa những ngân hàng thương mại với nhau, chủ yếu được thực hiện để đáp ứng yêu cầu về mức dự trữ do ngân hàng trung ương quy định. Một ngân hàng có mức dự trữ cân đối vượt tạm thời theo quy định có thể cho một ngân hàng trong hệ thống bị hụt dự trữ tạm thời vay nóng. Điều này cho phép ngân hàng có dự trữ cân đối dôi lên có thêm cửa để kiếm lời trên các khoản tiền xem như "đang ngủ qua đêm" của họ. Lãi suất áp dụng trên những món nợ qua đêm này được gọi là lãi suất huy động nóng tiếng Mỹ gọi thông dụng là Fed funds rate - phát xuất từ sự điều chuyển nội bộ các khoản cân đối vay mượn "tình thế" giữa các ngân hàng thành viên để trám kín thâm hụt kỹ thuật trên các tài khoản dự trữ bắt buộc theo luật tại Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang - viết tắt là Fed. Lãi suất này biến động theo tình hình kinh tế tài chính trên thị trường mỗi ngày và là một dấu hiệu báo động các biến chuyển lãi suất có thể xảy ra. Sở dĩ có điều này vì thực tế nó phản ánh khả năng sẵn sàng đáp ứng của các nguồn vốn trong hệ thống tới đâu. 

Với khảo sát trên đây từ một thị trường tài chính đã phát triển cao, ta thấy những công cụ vốn ngắn hạn đã đóng góp tích cực thế nào vào ý nghĩa huyết mạch của thị trường tiền tệ, đồng thời có thể hình dung khả năng vận động "tối đa công suất" của các nguồn tài chính sẽ có tầm quan trọng ra sao đối với sự phát triển của từng doanh nghiệp, cũng như của cả một nền kinh tế.

Giao dịch song hành trong Thị trường Tài chính và TTCK

Một trong những chiến lược rất đặc trưng trong thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng là giao dịch song hành arbitrage trading. Mặc dù ở ta hoạt động này vẫn còn xa lạ, thậm chí về thuật ngữ cũng chưa được biết đến nhiều. Nhưng từ lâu, và nhất là trong các cơn dậy sóng của thị trường tài chính thế giới trong quá khứ, các hoạt động arbitrage là những công cụ tài chính được sử dụng rất phổ biến và lợi hại tại những nền kinh tế thị trường có hệ thống tài chính chuyên sâu và đa dạng. Tuy nhiên, xét về bản chất, cách mua bán này không có gì mới lạ và thoạt nhìn tưởng rất đơn giản. 

Giao dịch mua bán song hành là chiến lược được các nhà kinh doanh chuyên nghiệp các arbitrageurs thực hiện để kiếm lợi từ những khác biệt tạm thời về giá cả giữa hai thị trường, hai loại chứng khoán, hoặc kết hợp. Có một số phương thức giao dịch theo cách mua bán song hành đã trở thành đặc trưng và đi vào truyền thống, nhưng tổng quát mà nói, những nhà kinh doanh song hành chuyên nghiệp thường tìm cách kiếm lợi dựa trên những sai biệt bất thường về giá đối với một loại chứng khoán hay giữa các chứng khoán tương đương giá trị với nhau. Những loại giao dịch song hành sau đây thường được các thị trường tài chính trên thế giới sử dụng: 


: books -> ke-toan-tai-chinh-thue
ke-toan-tai-chinh-thue -> Bài tập Kiểm toán căn bản  gv : ncs. ThS phan Thanh Hải LỜi ngõ
ke-toan-tai-chinh-thue -> GIẢI ĐỀ kiểm tra: KẾ toán thưƠng mạI ĐỀ SỐ 1: (đvt: 000đ) ok
ke-toan-tai-chinh-thue -> TÀi liệU 138 câu trắc nghiệm môn Thanh toán quốc tế (Kèm lời giải) MỤc lụC
ke-toan-tai-chinh-thue -> SƠ ĐỒ ĐỊnh khoản kế toán sơ ĐỒ KẾ toán sản xuất-giá thành sản phẩM
ke-toan-tai-chinh-thue -> A, b, c, d và đánh dấu X vào bảng trả lời Câu 1
ke-toan-tai-chinh-thue -> TRƯỜng đẠi học kinh tế luật tphcm bộ MÔn kinh tế ĐỐi ngoại môn quản trị TÀi chính công ty đa quốc gia
ke-toan-tai-chinh-thue -> Câu hỏi lý thuyết và vấn đáp môn tín dụng ngân hàng


1   ...   18   19   20   21   22   23   24   25   ...   32


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương