Giải thích thuật ngữ: Chứng khoán? Môi giới? Đầu tư?



tải về 2.23 Mb.
trang21/32
Chuyển đổi dữ liệu18.08.2016
Kích2.23 Mb.
1   ...   17   18   19   20   21   22   23   24   ...   32

Đặc điểm bảo vệ 

  • Chiết tách cổ phần và việc trả cổ tức bằng cổ phần:

Các giá chuyển đổi có thể được điều chỉnh nếu có một quyết định chiết tách cổ phần splits hoặc công bố chia cổ tức bằng cổ phần stocks dividends căn cứ trên cổ phần thường làm cơ sở chuyển đổi suốt trong thời gian tồn tại của trái phiếu chuyển đổi. Việc chiết tách cổ phần và trả cổ tức bằng cổ phần tạo ra lượng cổ phần lưu hành nhiều hơn, đồng thời giá trị của chúng do vậy mà giảm đi. Nếu cổ phần được tách thành hai cổ phần mới cho một cổ phần cũ, thì tỷ lệ quy đổi sẽ được điều chỉnh tăng lên gấp đôi và giá chuyển đổi sẽ giảm còn phân nửa. 

Trường hợp có sự trả cổ tức bằng 20% cổ phần chẳng hạn, thì tỷ lệ quy đổi cũng sẽ tăng lên 20%. Ví dụ trái phiếu mệnh giá 500.000đ có tỉ lệ quy đổi 5 đổi 1 thì được tăng tương ứng là 6 đổi 1. Nhưng giá chuyển đổi cũng sẽ giảm tương ứng từ giá cũ là 100.000đ, bây giờ sẽ là khoảng 83.333đ. 



  • Các thay đổi về xếp loại chứng khoán:

Nếu các cổ phần thường đang lưu hành được chuyển sang cùng số lượng cổ phần của một xếp hạng khác, đặc quyền chuyển đổi được áp dụng đương nhiên với số lượng ngang bằng với các cổ phần mới. 

  • Các cổ phần bổ sung:

Giao ước phát hành trái phiếu cũng chốt lại cả số lượng tối đa cổ phần có thể tăng thêm additional shares - để huy động vốn cổ phần mà công ty được phép huy động trong thời gian trái phiếu chuyển đổi đang còn hiệu lực, lẫn giá tối thiểu mà các cổ phần bổ sung đó có thể được phát hành. 

  • Sáp nhập, hợp nhất và giải thể:

Nếu công ty chấm dứt hoạt động do bất kỳ tình huống nào được đề cập trước, người nắm trái phiếu chuyển đổi sẽ mất đặc quyền chuyển đổi. 

Tính toán ngang giá chuyển đổi 

Ta lấy trường hợp một trái phiếu chuyển đổi để khảo sát. Trái phiếu chuyển đổi là loại chứng khoán khá độc đáo, nó cho khả năng đồng thời tồn tại hai chứng khoán khác nhau: bản thân trái phiếu đó và loại cổ phần thường có thể được chuyển đổi. Do vậy mà ta cần có sự so sánh giữa giá thị trường của trái phiếu và giá thị trường cổ phiếu mà nếu quy đổi sẽ có được. 

Nếu thị giá trái phiếu bằng tổng thị giá cổ phần theo quy đổi, thì chúng được xem là ngang giá. Thông thường, một trái phiếu chuyển đổi được giao dịch có thị giá cao hơn ngang giá ngang giá theo tính toán. 


  • Trường hợp 1: Giá phiên ngang của trái phiếu chuyển đổi:

Một trái phiếu chuyển đổi có mệnh giá 100.000đ và có giá chuyển đổi ra cổ phần thường là 5.000đ. Nếu cổ phần thường đang được bán với giá 6.000đ một cổ phần, trái phiếu cần được bán với giá nào để có ngang giá parity với cổ phần thường? 

Trước tiên, cần tìm tỷ lệ quy đổi, hay số cổ phần thường được đổi từ trái phiếu, ta có: 

100.000đ/ 5.000đ = 20 cổ phần 

Kế tiếp, ta xem tổng giá trị cổ phần theo giá thị trường theo quy đổi là bao nhiêu. Bởi vì trái phiếu muốn có ngang giá phải bằng tổng giá trị cổ phần này, ta có: 

20 x 6.000đ = 120.000đ 

Như vậy khi cổ phần có thị giá là 6.000đ một cổ phần, thì ngang giá của trái phiếu chuyển đổi phải là 120.000đ. Tuy nhiên, ở những thị trường đã phát triển, thông thường trái phiếu chuyển đổi được bán cao hơn ngang giá tính toán. Giả sử trái phiếu trên được giao dịch 10% cao hơn ngang giá, giá thị trường của trái phiếu sẽ cao hơn 12.000đ so với giá ngang, tức 132.000đ. 



  • Trường hợp 2: Giá phiên ngang của cổ phần thường:

Một trái phiếu chuyển đổi mệnh giá 100.000đ, có giá chuyển đổi là 6.250đ. Nếu trái phiếu đó đang được bán trên thị trường với giá 120.000đ, hỏi giá cổ phần phải là bao nhiêu thì sẽ ngang giá với trái phiếu? 

Trước tiên, ta cũng cần phải tìm tỷ lệ quy đổi, ta có: 

100.000đ/ 6.250đ = 16 cổ phần 

Như ta đã biết trong trường hợp 1, ngang giá là khi thị giá trái phiếu bằng với tích số giữa thị giá cổ phần nhân với số cổ phần được chuyển đổi tỷ lệ quy đổi. Như vậy, để xác định giá ngang cho cổ phần, ta chia thị giá của trái phiếu với tỷ lệ quy đổi. Ta có: 

120.000đ/ 16 = 7.500đ 

Kết quả cho ta biết rằng cổ phần phải có giá là 7.500đ một cổ phần thì mới là ngang giá với trái phiếu chuyển đổi khi trái phiếu này đang được giao dịch với giá 120.000đ/trái phiếu. 

Tổng quát, ta có:

+ Ngang giá chứng khoán chuyển đổi = Thị giá cổ phần thường x Tỷ lệ chuyển đổi. 

+ Ngang giá cổ phần thường = Thị giá chứng khoán chuyển đổi/ tỉ lệ quy đổi 


  • Giá trị đầu tư và giá trị chuyển đổi:

Giá trị đầu tư phỏng định của một trái phiếu chuyển đổi là thị giá mà chứng khoán đó muốn bán nếu ta quên chuyện chuyển đổi nó ra cổ phần thường. Còn giá trị quy đổi conversion value của một trái phiếu là tổng cộng giá trị của lượng cổ phần thường được tính theo giá thị trường theo đó trái phiếu chuyển đổi có thể quy ra được. 

Ví dụ một trái phiếu chuyển đổi đang được bán giá 110.000đ và trái phiếu đó có thể đổi ra được 10 cổ phần thường. Nếu thị giá của mỗi cổ phần thường là 12.000đ thì giá trị quy đổi của trái phiếu là 120.000đ 12.000đ x 10. 



  • Áp lực chuyển đổi:

Cần biết là hầu hết trái phiếu chuyển đổi và cổ phần ưu đãi chuyển đổi đều là loại mà chủ thể phát hành có thể thu hồi callable. Một công ty có thể sẽ thu hồi trái phiếu chuyển đổi nếu có điều khoản thu hồi khi điều kiện thị trường đang diễn biến theo cách mà người sở hữu trái phiếu sẽ thấy việc chuyển đổi trái phiếu đó ra cổ phần thường sẽ có lợi hơn là hoàn lại chủ thể phát hành để hưởng mức giá thu hồi. Trường hợp này sẽ xảy ra khi giá ngang quy đổi đang cao hơn giá thu hồi. 

Ví dụ, một loại trái phiếu chuyển đổi mệnh giá 100.000đ sẽ được đổi ra cổ phần thường ở giá 5.000đ/cổ phần tỷ lệ chuyển đổi là 20 đổi 1 và có điều kiện được thu hồi đang hiệu lực với giá 110.000đ/trái phiếu. Cổ phần thường làm cơ sở để chuyển đổi đang được bán với giá 5.800đ/cổ phần, do đó bằng cách chuyển đổi một trái phiếu, người đầu tư sẽ sở hữu 20 cổ phần thường trị giá 116.000đ. Ngang giá của một trái phiếu sẽ là 116.000đ. Ngang giá này cao hơn giá thu hồi 110.000đ. Vì chủ thể phát hành đang có lợi thế thu hồi trái phiếu trong cuộc, do đó mà nhà đầu tư bị áp lực phải chuyển đổi trước khi thời điểm thu hồi đó có hiệu lực. Nhà đầu tư sau khi suy hơn tính thiệt như trên, bà ta thấy nên chuyển đổi và bán 20 cổ phần thường đó để có 116.000đ cho mỗi trái phiếu sẽ có lợi hơn là hoàn lại chúng để chỉ nhận được có 110.000đ/trái phiếu. 

Theo quy định chung của định chế TTCK, được dựa vào luật của mỗi nước, thì một chứng khoán chuyển đổi có điều kiện thu hồi sẽ bị mất các đặc quyền, và đương nhiên chấm dứt hưởng cổ tức hoặc nhận tiền lãi, ngay sau khi thời điểm thu hồi đó có hiệu lực.

Chứng khoán đặc biệt của công ty cổ phần: Đặc quyền mua và cam kết bán

Các đặc quyền mua rights và cam kết bán warrants là hai loại sản phẩm đặc biệt được các công ty cổ phần tạo ra dựa trên cơ sở một lời hứa trong thị trường chứng khoán TTCK. Nhưng đó là những thứ có giá trị riêng và mua bán được. 



Đặc quyền mua

Những cổ đông góp vốn mua cổ phần thường cổ phần phổ thông - common stocks chính là lực lượng nòng cốt gầy dựng, duy trì và chia sẻ vận mệnh của công ty. Bình thường họ có khuynh hướng muốn giữ cơ cấu sở hữu và quyền lợi của mình trong công ty không bị loãng đi. Tuy nhiên, công ty lại luôn cần được phát triển và do đó thường có nhu cầu phải tăng vốn. Việc phát hành cổ phần mới cho quần chúng đầu tư mới là cách tưởng dễ thực hiện, nhưng nó lại mâu thuẫn quyền lợi với tập thể cổ đông hiện đang sở hữu công ty. Vì không thể đơn giản vấn đề theo cách quay lưng lại với những người đã và đang sống chết với công ty, phương thức phát hành các đặc quyền để mua cổ phần rights là giải pháp tối ưu và đã trở thành một loại sản phẩm mang đậm nét truyền thống trong TTCK. 



  • Quyền mua trước:

Việc phát hành cổ phần mới để tăng vốn công ty luôn được ưu tiên dành cho các cổ đông đang sở hữu công ty. Người ta gọi trường hợp ưu tiên này là quyền mua trước preemptive right, và đó là cơ sở lý luận để các đặc quyền mua rights được phát hành và tồn tại. Đây là quyền lợi của những cổ đông hiện đang sở hữu cổ phần thường của công ty. Họ sẽ được mua cổ phần trong một đợt phát hành cổ phần mới tương ứng với lượng cổ phần mà họ đang nắm tại thời điểm. Gọi là đặc quyền mua vì đây là cơ sở để các cổ đông hiện hữu vẫn duy trì được cơ cấu vốn của mình trong công ty với giá mua cổ phần thấp hơn giá thị trường. Nếu họ không mua, phần bánh của họ trong công ty sẽ đương nhiên bị giảm. 

Ví dụ, công ty OMEGA đang có triệu cổ phần thường đang lưu hành. Ông Nam đang có trong tay 10.000 cổ phần, hay là 1% của tổng số cổ phần kia. Giả sử công ty OMEGA sẽ tiến hành phát hành thêm 500.000 cổ phần để tăng vốn, thì ông Nam sẽ nhận được 10.000 đặc quyền mua, có giá trị ưu tiên sẽ được mua thêm tối đa 5.000 cổ phần của đợt phát hành đó. Nếu ông Nam không mua thêm cổ phần nào trong đợt tăng vốn này, hoặc chỉ mua một ít thôi, thì bách phân sở hữu của ông Nam sẽ giảm xuống thấp hơn 1%, vì sẽ có những cổ đông mới tham gia mua số cổ phần bị từ chối đó. 

Các đặc quyền mua được trị giá riêng và được mua bán như những hàng hoá khác ở thị trường thứ cấp trong suốt thời gian chúng được đăng ký bao mua subscription. Quá trình bao mua và nhận các đặc quyền đó, các cổ đông có thể: 

- Thực hành quyền mua cổ phiếu.

- Bán quyền đó lại cho người khác trên thị trường.

- Để cho quyền đó trôi qua hết hiệu lực. 

Việc phát hành các đặc quyền mua cổ phiếu thực chất là một đợt phát hành cổ phần thường, nhưng được ẩn danh và trì hoãn đến một thời điểm xa hơn. Trong chừng mực nào đó ta có thể hiểu đây là cách "bắt ép" các cổ đông phải chấp nhận một đợt tăng vốn cổ phần. Do đó việc phát hành phải được hội đồng quản trị công ty chuẩn nhận và cổ đông thông qua. 

Những đặc tính của đặc quyền mua


  • Phiếu mua đặc quyền:

Cứ mỗi cổ phần thường đang lưu hành sẽ được nhận một đặc quyền. Bởi vậy một nhà đầu tư nếu đang có 1.000 cổ phần thường thì họ sẽ nhận một phiếu có giá trị thể hiện 1.000 đặc quyền mua cổ phần. Thủ tục chào bán thực tế sẽ cụ thể số đặc quyền cần thiết để mua một cổ phần, giá mua đặc quyền, thời hạn đăng ký mua, và ngày cổ phần mới được phát hành. Theo ngôn từ của Wall Street đã được chuẩn hoá, một đợt phát hành các rights cho cổ đông hiện hữu được gọi là "rights offering" và giá cổ phần bán theo đặc quyền được gọi là "subscription price", tạm dịch là giá bao mua. Giá bao mua luôn được định thấp hơn giá thị trường. 

  • Những kỳ hạn và giá cả cần chú ý về việc chào bán đặc quyền:

Ví dụ vào ngày 1 tháng 9, công ty ALFA công bố một đợt chào bán các đặc quyền. Những chủ nhân đang nắm cổ phần thường cho đến ngày 1 tháng 10 sẽ được mua cổ phần mới với giá 30.000đ một cổ phần, và cứ mỗi 10 cổ phần cũ được mua một cổ phần mới 10 đặc quyền được mua một cổ phần. Cổ phần thường trong cuộc hiện đang được mua bán với giá 41.000đ. Đặc quyền mua cổ phần này sẽ hết hiệu lực vào ngày 15 tháng 11. Giả định công ty ALFA đang lưu hành 2 triệu cổ phần và muốn phát hành thêm 200.000 cổ phần nữa để tăng vốn. Mỗi cổ phần đang có sẽ được hưởng một đặc quyền, như vậy sẽ có 2 triệu đặc quyền được phát hành. Các đặc quyền này chia nhau tổng số cổ phần mới sẽ phát hành, cụ thể 2 triệu đặc quyền sẽ chia nhau 200.000 cổ phần. Có nghĩa là phải cần 10 đặc quyền mới mua được một cổ phần. 

Trong khoảng từ 1 tháng 9 đến 15 tháng 11, các biểu đăng chứng khoán trên các báo và các phương tiện tương tự của TTCK sẽ trình bày hai nhập liệu entry để thông tin khác nhau cho cổ phiếu công ty ALFA. 

- Giá bản thân cổ phiếu kèm đặc quyền hay không kèm đặc quyền gọi là cum rights và ex- rights. Ở Mỹ một cổ phần mua bán không kèm đặc quyền được biểu thị thêm ký hiệu "x" ở cạnh cột số lượng.

- Giá của đặc quyền, dựa trên cơ sở khi được phát hành when-issued hoặc giá thị trường hiện hành. Để biểu thị giá dựa trên cơ sở "khi được phát hành" người ta thêm vào 2 ký tự "wi" ngay kế giá đó. 

Công ty sẽ phát hành các đặc quyền mua để mua cổ phần mới vào ngày 8 tháng 10 đến bất cứ cổ đông nào được sổ sách ghi nhận ngày 1 tháng 10. Cổ phần sẽ được mua bán kèm đặc quyền cho đến ngày chúng được xác định là "ngày lọt ra ngoài" không còn cõng đặc quyền - ex- date. Ngày "ex- date" là mốc lùi lại sớm hơn ngày chót còn hiệu lực, tức 15 tháng 11, một khoảng thời gian theo luật định để làm các thủ tục thanh toán và chuyển sở hữu, thường là một tuần lịch. Trong thời gian kể từ ngày "ex- date" đó, việc mua bán vẫn diễn ra bình thường, nhưng khi xong thủ tục, ngày đăng ký sở hữu cho người mua trên sổ sách sẽ lọt ra khỏi ngày 15 tháng 11, lúc đó các đặc quyền mua không còn hiện hữu: Do vậy, một người đầu tư khi mua cổ phần kèm đặc quyền thì đương nhiên được nhận đặc quyền mua cổ phần mới. Lý luận nghe có vẻ lòng vòng ngớ ngẩn này thực ra rất cần thiết và quan trọng, nhất là trong khâu chào mời, thương lượng mua bán và thủ tục chuyển nhận về sở hữu trong các bối cảnh thời gian khác nhau. Để cho dễ theo dõi, ta cần lưu ý các thuật ngữ và đừng nóng vội nếu có điều gì chưa hiểu, hãy đọc tiếp cho hết và nếu cần thì đọc lại. 


  • Đại diện chuyển nhận đặc quyền:

Đại diện chuyển nhận đặc quyền right agent đảm nhận những công việc liên quan đến đặc quyền cũng giống như một đại diện chuyển nhận transfer agent lưu ký chứng khoán. Khi đặc quyền được bán, cơ quan này sẽ ghi nhận các chi tiết về sở hữu của người chủ mới. 

  • Bao tiêu bọc lót:

Gọi là bao tiêu bọc lót hay đợi sẵn standby là vì nếu những cổ đông hiện hữu không đăng ký xác nhận mua hết các đặc quyền mua cổ phần mới thì những đặc quyền chưa bán hết đó sẽ được một nhà bao tiêu nhà kinh doanh chứng khoán chuyên nghiệp - broker- dealer mua vét - bao mua số cổ phần mới còn lại. Cách thức phát hành các right như vậy sẽ được thực hiện theo một căn bản cam kết chắc chắn firm commitment. 

Giá trị của đặc quyền 

  • Giá trị lý thuyết.

Giá trị theo lý thuyết của đặc quyền được căn cứ trên phần tiết kiệm mà người đầu tư khả dĩ có được khi họ thực hành đặc quyền bao mua để mua chứng khoán với mức rẻ hơn giá thị trường. 

  • Giá trị đặc quyền khi cổ phần có kèm đặc quyền:

Để tính toán giá một đặc quyền khi chứng khoán trong cuộc được mua bán kèm đặc quyền prior to ex- date, ta sẽ dùng trường hợp công ty ALFA trên đây để minh hoạ. Giá thị trường M của cổ phần kèm đặc quyền là 41.000đ. Giá bao mua S là 30.000đ cho một cổ phần mới. Do đó, cứ 10 đặc quyền cho nhà đầu tư hưởng một khoản giảm giá 11.000đ trên một cổ phần Giá thị trường 41.000đ trừ đi giá bao mua 30.000đ. 

Để xác định giá trị của một đặc quyền ta lấy phần nhà đầu tư tiết kiệm được M - S = 11.000đ chia cho số quyền cần thiết để mua một cổ phần N cộng thêm 1. Ta có:

11.000đ/ 11 = 1.000đ 

Đó là giá trị của một đặc quyền mua. 



  • Giá trị đặc quyền lúc cổ phần không còn kèm đặc quyền:

Vào ngày đầu tiên cổ phần được mua bán không kèm đặc quyền after ex-date, giá thị trường có đặc điểm bị rớt xuống một khoản bằng với giá trị của đặc quyền. Vì chứng khoán bây giờ đang được bán không có đặc quyền, số chia trong trường hợp này chỉ là 10, tức số đặc quyền cần có để mua một cổ phần mới. 

Để xác định giá trị của một đặc quyền khi chứng khoán đã hết mang đặc quyền ex- rights, ta lấy phần tiết kiệm mà một đơn vị cổ phần thể hiện M - S chia cho số đặc quyền cần có để mua một cổ phần N. Dựa trên ví dụ trước, cổ phần lúc này có giá 40.000đ giảm 1.000đ, tương đương với một đặc quyền. Ta có: 

40.000đ – 30.000đ/ 10 = 1.000đ 

Đặc quyền mua như vậy chủ yếu để phục vụ cho các cổ đông hiện hữu đang nắm cổ phần thường của công ty. Các đặc quyền mua cho phép mua chứng khoán sắp phát hành giá rẻ hơn giá thị trường. Thời hạn hiệu lực của đặc quyền mua thường rất ngắn, từ một tuần đến vài tháng. 



Cam kết bán 

Nếu đặc quyền mua được dựa trên quyền lợi đương nhiên dành cho các cổ đông hiện hữu thì cam kết bán là sự bảo đảm của công ty đưa ra khi tiến hành bán một loại sản phẩm mới của công ty cổ phần đó. Cũng giống như đặc quyền mua, các cam kết bán warrants cho người nắm giữ chứng quyền được mua chứng khoán cổ phần thường ở một mức giá định trước, cũng được gọi là giá bao mua subscription price. Tuy nhiên cam kết bán là công cụ dài hạn, có hiệu lực vài năm trở lên, có loại hiệu lực vĩnh viễn. Những người thủ đắc các cam kết bán vì chỉ mới là những chuẩn cổ đông, họ không có tư cách hưởng cổ tức cho tới khi thật sự chuyển ra thành cổ phần thường. 

Các cam kết bán thường được phát hành kèm theo các trái phiếu hoặc các cổ phần ưu đãi preferred để tạo thêm tính hấp dẫn lôi kéo người mua, và cũng là chiêu bài nhằm hạ thấp lợi suất coupon rate. Cũng có thể chúng được phát hành cùng với cổ phần thường, và đôi khi được dành riêng cho các nhà bao tiêu của một đợt phát hành mới, hoạt động này tạo ra công cụ để đáp ứng một chiến lược đầu tư theo hướng đầu cơ. Các cam kết bán có thể tách riêng ra được hoặc không. Nếu là loại tách riêng, việc mua bán chúng hầu như là để phục vụ cho việc đầu cơ về giá cả của chứng khoán cơ sở. 

Người đầu tư khi có các cam kết bán, họ có thể 1 thực hiện việc sử dụng cam kết bán để mua cổ phần và 2 bán chúng trên thị trường thứ cấp. 

Nếu giá thị trường của cổ phiếu cao hơn giá bao mua cổ phiếu dựa vào cam kết bán, ta có một chênh lệch thực chất, gọi là intrinsic value. Do đó, chênh lệch thực chất của một cam kết bán được xác định bằng cách so sánh giá bao mua với thị giá của chứng khoán cơ sở. 

Ví dụ, một cam kết bán có giá bao mua là 30.000đ và chứng khoán cơ sở đang được mua bán trên thị trường với giá 24.000đ. Chênh lệch thực chất là zéro vì giá bao mua cao hơn giá thị trường. Nếu cổ phiếu đó tăng lên 33.000đ sau đó, thì chênh lệch thực chất sẽ là 3.000đ. Giá cả của các cam kết bán thường có biến động nhiều hơn so với chứng khoán cơ sở. Giá trị của cam kết bán có thể sẽ ở mức được xem là cao, phản ánh khả năng giá trị thị trường có thể nhích lên trong thời gian còn lại cho đến kỳ hết hạn. 

Khi các cam kết bán được phát hành kèm với các trái phiếu hoặc cổ phần ưu đãi, chúng có thể được bó chung lại và được bán ra như một thành phần nằm trong đơn vị được bán. Ví dụ, công ty ALFA có thể tiến hành bán thêm 400.000 cổ phần ưu đãi được tiếp thị theo cách bó chung lại thành những đơn vị gồm 4 cổ phần ưu đãi và 2 cam kết bán, mỗi cam kết bán có thể thực hành quy đổi thành 1/4 cổ phần thường ở một mức giá định trước. Một nhà đầu tư mua 100 đơn vị thì sẽ nhận 400 cổ phần ưu đãi và số cam kết bán sau này có thể hoàn lại để nhận 50 cổ phần thường 100 units x 2 warrants = 200 warrants, mỗi warrants thực hiện đổi ra được ¼ cổ phần thường 

Các rights và warrants có thể được xem là những công cụ đầu tư có tính cách trung gian và tạm thời đối với người đầu tư. Nhưng đối với các công ty, nhìn chung, chúng có thể được ví von một cách hình tượng đó là những giá trị phục vụ cho mục đích “khuyến mãi”.



Biên nhận lưu ký – DR/ADR: Một phương tiện giao dịch các chứng khoán có gốc nước ngoài

Bàn về các chứng khoán đặc biệt ta không thể bỏ qua một sản phẩm khá đặc trưng đó là các biên nhận lưu ký Depository Receipts, loại đại diện cho các chứng khoán ngoại quốc đồng thời bản thân nó là một chứng khoán có giá trị lưu hành trên một thị trường chứng khoán TTCK nội địa nào đó. Sản phẩm này phổ biến tại thị trường Mỹ với tên viết tất là ADR American Depository Receipts. Chúng có giá trị tham khảo cao và được mô phỏng ứng dụng đối với nhiều thị trường.

DR có ý nghĩa mộc mạc như ruột tờ biên nhận thay cho một số cổ phần của chứng khoán mà nó đại diện của một công ty ngoại quốc có quốc tịch khác với nước mà nó phát hành. Khi được đăng ký giao dịch, nó có giá trị như một chứng khoán thực thụ, cụ thể là chuyển nhượng được và mua bán dễ dàng. Ở Mỹ một DR thường thay cho 10 cổ phần. Các ADR được các công ty ngoại quốc sử dụng như một phương tiện hữu hiệu để thu hút đầu tư của Mỹ. Việc đăng ký lưu hành các ADR thường theo một quy chế nhẹ nhàng hơn so với thủ tục mà Uỷ Ban Chứng khoán Hoa Kỳ đòi hỏi đối với các chứng khoán trong nước họ. 


  • Ngân hàng giám hộ:

Đối với các ADR, cơ quan phát hành là các chi nhánh các ngân hàng thương mại tầm cỡ của Mỹ đặt tại nước ngoài nước quốc tịch của cổ phần công ty. Các cổ phần loại chứng khoán ngoại quốc mà ADR đại diện phải được gởi vào và uỷ thác giám hộ bởi một tổ chức hợp lệ, thường là một ngân hàng tại Mỹ. Lượng chứng khoán bảo kê cho các ADR phải được lưu giữ trong suốt thời gian chúng được lưu hành. 

  • Việc đăng ký theo danh nghĩa cho người sở hữu:

DR được đăng ký vào sổ sách của ngân hàng giám hộ trong nước, ngân hàng này trực tiếp chịu trách nhiệm về các sản phẩm đó đối với thị trường nội địa nên được gọi là sở hữu danh nghĩa. Những người đầu tư riêng lẻ vào loại DR nào đó không được xem là các chủ sở hữu đăng ký, mặc dù họ là chủ thật sự sở hữu thụ hưởng. 

  • Trách nhiệm của ngân hàng:

Ngân hàng lưu ký sẽ giữ các chứng khoán và cung cấp thông tin cho người mua giữ DR liên quan đến sự hình thành và phát triển, tình hình công ty và quốc gia đăng ký chứng khoán gốc, cũng như những diễn biến có thể tác động đến loại DR đó. 

  • Quyền lợi của những người sở hữu DR:

Người mua DR có quyền bầu cử và nhận cổ tức khi được công bố, nhưng họ không có đặc quyền mua trước cổ phần quyền ưu tiên/preemptive right. Cổ tức được gởi vào ngân hàng giám hộ, vì đó là chủ sở hữu đăng ký sở hữu danh nghĩa. Ngân hàng giám hộ gom tất cả các món cổ tức lại, chuyển đổi các khoản thanh toán đó thành nội tệ đối với các ADR là USD cho các chủ sở hữu thụ hưởng trong nước và giữ lại các khoản trả thuế cho nước ngoài, nếu có. 

Khi ngân hàng nhận được các đặc quyền mua rights và cam kết bán warrants từ nhà phát hành gốc, họ sẽ bán những sản phẩm đó đi tại thị trường chính quốc gia của nhà phát hành và phân phối thu nhập đó lại bằng tiền mặt cho những người sở hữu thụ hưởng DR. 



  • Giao nhận chứng khoán gốc ngoại quốc:

Những người mua DR, dựa theo những điều kiện đã được giao kết, có quyền hoán đổi các chứng chỉ DR DR certificates để lấy cổ phần thực mà các chứng chỉ đó đại diện. 

Theo luật lệ của Mỹ, nếu tổ chức phát hành tạo ra các ADR bằng cách ký thác cổ phần gốc vào một ngân hàng giám hộ và đồng ý thực hành đúng theo các yêu cầu về thủ tục lập chứng từ và báo cáo với Uỷ Ban Chứng Khoán Nhà Nước SEC thì loại ADR đó được mệnh danh là loại ADR có bảo lãnh. Còn khi một ngân hàng mua các cổ phần ngoại quốc để tạo ra các ADR và chỉ lưu ký theo thủ tục nước ngoài với một ngân hàng giám hộ thôi thì được gọi là ADR không có bảo lãnh unsponsored ADR.



Trái phiếu không lãi suất

Thông thường, hễ nhắc đến trái phiếu người ta liên tưởng ngay đến món tiền lãi sẽ nhận được định kỳ. Thuật ngữ trong tiếng Anh gọi các món tiền lãi đó là "coupon". Theo thông lệ được nhiều nước áp dụng thì các trái phiếu coupon coupon bond nhận lãi mỗi sáu tháng một lần. Tuy nhiên, trong thị trường tài chánh và chứng khoán còn có các loại trái phiếu không nhận lãi. Các sản phẩm đặc biệt này, gọi là zéro- coupon bond, dù có những đặc điểm riêng nhưng không xa lạ, lại hữu ích trong một bối cảnh cần đa dạng mà bất cứ thị trường nào cũng có thể tham khảo áp dụng. 

Trái phiếu không nhận lãi là loại không trả lãi định kỳ cho người sở hữu. Bù lại, chúng được phát hành ở một mức có giá trị đầu tư khởi điểm thấp hơn mệnh giá. Người đầu tư mua và sở hữu trái phiếu xem như đã được hưởng một tỉ lệ chiết khấu, giá trị đầu tư đó theo thời gian tăng dần, tiệm cận và đạt tới mệnh giá trái phiếu vào ngày đáo hạn. 

Nói theo ngôn ngữ tài chánh thì giá phát hành trái phiếu là một khoản đầu tư hiện tại present value, mệnh giá trái phiếu là giá trị tương lai future value, khoản bồi đắp dần được tính theo cách xác định lãi kép và quá trình đó thuật ngữ gọi là accretion, ta tạm gọi đó là khoản bồi vốn, có thể được tính hằng năm nếu có yêu cầu, nhưng thường là chỉ để phục vụ cho mục đích tính thuế. 

Như vậy, thu nhập mà người sở hữu trái phiếu loại này có được chủ yếu là sự gia tăng từ khoản bồi vốn. Tuy nhiên, điều đó lại không có nghĩa là giá của chúng sẽ ổn định. Ngược lại, thực tế tại các thị trường chứng khoán có mua bán sản phẩm này, thì trái phiếu không nhận lãi có giá cả biến động nhiều. Ở Mỹ, đây là loại trái phiếu có thể được hoãn thuế, tạo cho nhà đầu tư có thêm một công cụ chọn lựa. Do đó, trong nhiều trường hợp, chúng có thể hữu ích cho những cân nhắc về quản trị tài chánh hơn là một sản phẩm dành cho các mục đích đầu tư bình thường. 

Trái phiếu không nhận lãi thường được bán với một chiết khấu dưới mệnh giá khá sâu. Thu nhập đối với người mua loại zéro- coupon bond này dù rất dễ thấy ở khoản chênh lệch giữa giá phát hành đã chiết khấu và giá ghi trên mặt trái phiếu mệnh giá face value lúc đáo hạn, nhưng thực tế đó chưa cho người đầu tư một khái niệm khi cần so sánh. Do đó, nó thường được tính ra một lãi suất tương đương để ta dễ hình dung hơn và chọn lựa. Cách tính toán như vậy có thể thực hiện tương tự như cách tính mà các ngân hàng áp dụng trong chiết khấu bank- discount basis, bằng cách lấy chênh lệch chiết khấu chia cho giá trị sau khi chiết khấu, rồi quy ra lãi suất năm. Để minh hoạ đơn giản, ta có thể lấy ví dụ một trái phiếu không nhận lãi có mệnh giá 1.000.000đ, đáo hạn 5 năm và được bán với giá 500.000đ khoản chiết khấu là 500.000đ thì lãi suất tương đương đó là: 

1.000.000đ - 500.000đ / 1.000.000đ =  5% 5 năm 

Nhưng nếu tính theo hiệu quả đầu tư, thực tế người đầu tư chỉ bỏ ra có 500.000đ, cho nên khoản chênh lệch thu nhập dựa trên giá trị chiết khấu 500.000đ sẽ được so sánh với vốn đầu tư trường hợp này cũng là 500.000đ ta có lãi suất trái phiếu tương đương coupon- equivalent rate là: 

1.000.000đ - 500.000đ / 500.000đ = 100% 5 năm 

Để có một nhận dạng đầy đủ hơn, cần biết rằng trong thị trường tài chính và chứng khoán còn có các sản phẩm tương tự nhưng không được gọi là zéro- coupon bond, thường là loại dưới một năm, mà người ta gọi bằng những tên khác nhau trong thị trường vốn ngắn hạn money market. Điển hình cho loại này là loại giấy nợ kho bạc Mỹ T- bill. Giới chuyên môn gọi đây là chứng khoán chiết khấu discount securities hay chứng khoán không chịu lãi non- interest bearing securities. Trong tương lai chắc rằng tại thị trường Việt Nam rồi cũng sẽ có những sản phẩm như vậy. Theo kỹ thuật chào bán trên thị trường chứng khoán, những sản phẩm đó cũng được nêu giá bằng phần trăm % chiết khấu. Đây là cách giúp người đầu tư đối chiếu tham khảo nhanh và cần thiết cho một thị trường đồng bộ. Nhưng nếu không nắm vững ta lại dễ bị nhầm lẫn khi mới tiếp cận những sản phẩm này, dẫn đến phán đoán sai lệnh hoặc có thể bối rối. 

Lấy một ví dụ để minh hoạ. Một giấy nợ kho bạc trị giá 1.000.000đ đáo hạn 91 ngày, bán theo suất chiết khấu và có giá bán theo số tuyệt đối là 975.000đ. Nhưng theo cách yết giá trên TTCK ta có thể nhận được thông tin đại loại như sau: 

"…đáo hạn tháng 9, thu vào 9,99%, bán ra 9,89%" 

Cần lưu ý giá thu vào bid và bán ra ask/offer ở đây là cách gọi theo nhà buôn chứng khoán, vì giống như thị trường vàng ở ta, khi diễn đạt "giá mua, giá bán" luôn phải xác định mình đang đứng ở phía nào. 

Ta có thể bị nhầm khi đọc và hiểu cách yết giá như vậy. Tại sao giá bán ra lại để là 9,89%? Không ít trường hợp do chưa quen, người đầu tư “mới ra sân" có thể nghĩ họ chỉ phải trả "901.100đ" thôi chứ! Quả thật, nếu là loại 52 tuần 1 năm thì điều đó không sai. Nhưng ta nên lưu ý đây là loại 13 tuần 91 ngày, do đó cần có một phép tính quy đổi để thị trường có các thông số yết giá chuẩn đồng bộ theo năm. Bách phân giá yết bán 9,89% có từ phép tính sau đây: 

1.000.000đ - 975.000đ / 1000.000đ x  360 / 91 = 9,89% giả định quy ước năm tròn là 360 ngày 

Tuy nhiên thế vẫn chưa đủ, khi xem xét hiệu quả đầu tư, ta cần tính lãi suất tương đương với trái phiếu dựa trên số tiền thực thụ bỏ ra, theo phép tính: 

1.000.000đ - 975.000đ / 975.000đ x 360 / 91 =10,14% 

Rõ ràng thu nhập từ đầu tư qua một thoáng tính toán như vậy có thể cho ta một nhận định lạc quan hơn. 

Việc phát hành các trái phiếu không nhận lãi có thể là do nhu cầu của các công ty cổ phần, hoặc chúng cũng có thể được tạo ra bằng một kỹ thuật kinh doanh tài chính của các công ty môi giới và kinh doanh chứng khoán. Chúng được "chế biến" từ các loại chứng khoán khác nhau, gồm cả các loại do nhà nước phát hành. Ở Mỹ các chính quyền địa phương và kho bạc nhà nước cũng từng tham gia phát hành loại này. Điển hình là loại STRIPS công cụ giao dịch thứ cấp theo lãi và gốc tách biệt mà ta đã có dịp khảo sát trong chuyên đề "Chứng khoán Chính phủ". 

Một ví dụ về kỹ thuật tạo ra chứng khoán không nhận lãi. Vào những đầu năm 1980, nhiều định chế tài chính tại Mỹ sở hữu một lượng lớn các trái phiếu kho bạc nhà nước trả lãi định kỳ. Trong một bối cảnh kinh tế tài chính được dự đoán là có điều kiện khả dĩ tăng vòng quay vốn, họ đưa lượng tài sản này vào các ngân hàng thương mại quản lý. Các ngân hàng sau đó phát hành các chứng chỉ dựa theo các kỳ trả lãi cũng như trên đợt thanh toán lượng tiền gốc của mỗi trái phiếu. Theo cách như vậy, một tập hợp trái phiếu kho bạc bình thường được quy đổi sang nhiều loại trái phiếu không nhận lãi, mỗi loại có kỳ hạn hoàn trái khác nhau. Chẳng hạn, một công ty đầu tư có thể mua giữ một lượng lớn trái phiếu kho bạc T-bond 15 năm, và ngay sau đó họ ký thác lượng trái phiếu kia vào một ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại với nghiệp vụ của mình sẽ thu xếp phát hành một loạt các zéro- coupon bond có thời kỳ đáo hạn thay đổi từ sáu tháng ngày trả lãi đầu tiên đến 15 năm ngày trả lãi cuối cùng và thanh toán tiền gốc. Như thế, các trái phiếu 15 năm có thể được quy đổi thành 30 loại trái phiếu không nhận lãi! 

Ưu điểm của việc đầu tư vào trái phiếu không nhận lãi là tránh được rủi ro về tái đầu tư, hay còn được gọi là rủi ro về lãi suất. Tuy đây chỉ là một ưu điểm tương đối trong phạm vi hẹp, nhưng ít ra nó giúp cho một số người đầu tư có cảm giác chắc chắn và an tâm. Lý giải đơn giản của lợi điểm này là tối thiểu tỉ lệ thu được ở tiền lãi do tái đầu tư sẽ bằng zéro, bởi vì trong thực tế làm gì có khoản tiền nào được trả lãi định kỳ để mà tái đầu tư ?. Điều này khác với trái phiếu thường, cứ sáu tháng nhận lãi thì phải tính đến hiệu quả tái đầu tư khoản tiền lãi đó để sinh lợi liên tục. Do đó mà có sự so sánh giữa lãi mẹ và lãi con. 

Một thuận lợi khác, chứng khoán không nhận lãi xem ra rất hữu ích trong hoạch định tài chánh. Công cụ này cho phép ta có thể tính toán và lập kế hoạch tài chánh khá chắc chắn đo ta có được mức tăng giá trị cụ thể ngay từ đầu đối với một món tiền đầu tư. Chúng có vai trò đắc lực giúp bảo toàn và phát triển các nguồn tiền dài hơi, đặc biệt là các quỹ hưu trí, các tài khoản giám hộ… 

Những điểm lợi mà ta vừa nêu rất thuyết phục khi người đầu tư mua và giữ các trái phiếu phi lãi suất đó lâu dài và chờ hoàn trái khi đáo hạn. Trường hợp phải thanh lý ngắn hơn vì bất cứ lý do gì, người sở hữu chúng đều có thể bị đứng trước bất lợi. Kinh nghiệm của thị trường chứng khoán thế giới đã tổng kết và gọi đó là rủi ro về giá cả market risk. Bởi vì các trái phiếu không nhận lãi, nhất là loại dài hạn, có giá cả biến động theo một biên độ lớn, điều này làm cho người bán khó lòng thực hiện được sự tái tạo giá trị trở lại thành tiền tương đương với giá trị tích luỹ của trái phiếu tại thời điểm bán. Bản thân công cụ thiếu tính thanh khoản cũng là sự giải thích tại sao người đầu tư khi cần bán sớm và gấp không thể mong nhận được sự chào đón thoả đáng. 

Với các phân tích trên đây hy vọng sẽ cung cấp thêm một nguồn tham khảo nữa để người đầu tư nắm vững và, nếu cần, thận trọng hơn khi tiếp cận với các loại chứng khoán đặc biệt.



: books -> ke-toan-tai-chinh-thue
ke-toan-tai-chinh-thue -> Bài tập Kiểm toán căn bản  gv : ncs. ThS phan Thanh Hải LỜi ngõ
ke-toan-tai-chinh-thue -> GIẢI ĐỀ kiểm tra: KẾ toán thưƠng mạI ĐỀ SỐ 1: (đvt: 000đ) ok
ke-toan-tai-chinh-thue -> TÀi liệU 138 câu trắc nghiệm môn Thanh toán quốc tế (Kèm lời giải) MỤc lụC
ke-toan-tai-chinh-thue -> SƠ ĐỒ ĐỊnh khoản kế toán sơ ĐỒ KẾ toán sản xuất-giá thành sản phẩM
ke-toan-tai-chinh-thue -> A, b, c, d và đánh dấu X vào bảng trả lời Câu 1
ke-toan-tai-chinh-thue -> TRƯỜng đẠi học kinh tế luật tphcm bộ MÔn kinh tế ĐỐi ngoại môn quản trị TÀi chính công ty đa quốc gia
ke-toan-tai-chinh-thue -> Câu hỏi lý thuyết và vấn đáp môn tín dụng ngân hàng


1   ...   17   18   19   20   21   22   23   24   ...   32


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương