Giải thích thuật ngữ: Chứng khoán? Môi giới? Đầu tư?


CÁC LOẠI TRÁI PHIẾU ĐÔ THỊ



tải về 2.23 Mb.
trang20/32
Chuyển đổi dữ liệu18.08.2016
Kích2.23 Mb.
1   ...   16   17   18   19   20   21   22   23   ...   32

CÁC LOẠI TRÁI PHIẾU ĐÔ THỊ

  • Trái phiếu công ích general obligation bonds - GOs:

Là loại trái phiếu đô thị được bảo đảm cả tiền gốc và tiền lãi bằng toàn bộ các nguồn thu tài chính và quyền lực thu thuế của chủ thể phát hành chính quyền địa phương. Sự hứa hẹn bọc lót rộng rãi này làm cho trái phiếu công ích có chất lượng cao hơn những loại có một đảm bảo đặc thù hoặc giới hạn hơn. Tuy nhiên, theo lẽ thường thì thu nhập của người mua trái phiếu lợi suất dạng này sẽ ở mức thấp. Do đặc tính bảo đảm cao dựa vào năng lực thanh toán của chính quyền địa phương, ở Mỹ loại trái phiếu GO được xếp loại cao nhất, gọi là "full- faith- and- credit bond". Một số điểm đáng lưu ý tham khảo đối với loại trái phiếu công ích này gồm có: 

- Giới hạn theo luật về lượng nợ mà chính quyền địa phương được phép huy động. Giới hạn này được Nhà nước cho phép hoặc hội đồng địa phương nghị quyết. 

- Việc huy động GOs cần phải được nhân dân địa phương người đóng thuế chấp thuận bằng một cuộc trưng cầu gọi là voter approval

- Xác định một giới hạn mức đánh thuế. Bởi vì trái phiếu GOs được tài trợ bởi thuế đánh trên giá trị tài sản ad- valorem tax cho nên người ta rất ngại chính quyền địa phương nâng thuế một cách tuỳ tiện để có tiền trả nợ. Việc giới hạn mức đánh thuế theo đó phải được khống chế không cho vượt một bách phân nào đó trên giá trị tài sản hoặc không được tăng quá một bách phân cho phép trên cơ sở mỗi năm.

- Phối hợp nghĩa vụ chung tại vùng chồng lấn. Những địa phương có quyền lợi cộng đồng gắn kết trên một đường biên giới chung, khi huy động trái phiếu đô thị vào việc công ích mà phúc lợi sẽ được chia sẻ cho cả vùng có sinh hoạt qua lại đó có thể phối hợp điều hành trái phiếu đô thị theo một phương thức kết hợp song phương. Ví dụ, một thành phố nằm trong hoặc chung địa giới với một tỉnh có thể chia sẻ trách nhiệm về món nợ huy động bằng trái phiếu GOs mà tỉnh chủ trương để xây dựng một công viên sinh thái chẳng hạn. 


  • Trái phiếu thu nhập revenue bonds:

Là loại trái phiếu đô thị có lãi và gốc được trả dựa theo thu nhập cho bởi công trình mà đợt trái phiếu đó tài trợ. Ví dụ dễ thấy nhất của loại trái phiếu thu nhập là các dự án về cầu đường cao cấp có thu phí, phát triển nhà ở, nới rộng bến cảng, sân bay,.. 

Tại các nước công nghiệp hiện đại, lịch sử phát triển của họ có phần đóng góp quan trọng của những "viên gạch" sắm vai trái phiếu thu nhập này. Đây là loại trái phiếu tập trung chủ yếu để phát triển hạ tầng, giúp các chính phủ nhẹ gánh ngân sách. Hiện nay 1999, ở Việt Nam cũng đã thực hiện nhiều dự án xây dựng hạ tầng có thu phí, nhưng chủ yếu sử dụng nguồn vốn vay ưu đãi hoặc đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Một ít sử dụng vốn trong nước, nhưng ở dạng vận dụng từ các nguồn tích luỹ hoặc chiếm dụng ngân sách. Trong khi đó trái phiếu thu nhập để xây dựng công trình trái phiếu công trình là loại huy động đại chúng rất phổ biến và hiệu quả tại nhiều nước, hứa hẹn được sự đón nhận rộng rãi của bà con ta, thì hầu như chưa được quan tâm nghiên cứu xúc tiến tại nước nhà. Đây là điều rất đáng tiếc. 

Trái phiếu thu nhập thường được xem là có chất lượng thấp hơn trái phiếu công ích. Điều cần biết là mỗi công trình có thể có những rủi ro rất khác nhau, và tuỳ thuộc vào việc khai thác có hiệu quả hay không công trình đó. Thu nhập thu hoạch dùng để trả nợ từ các công trình tuỳ theo loại và gồm có: thu tiền người sử dụng các tiện ích công cộng, phí cầu đường, tiền đặc nhượng khai thác và phí sử dụng phi cảng, chỗ neo tàu thuyền, đậu xe,… Các chương trình nhà ở thì có tiền bán hoặc cho thuê nhà. Cũng có trường hợp cơ quan phát hành trái phiếu thu nhập thu xếp với chính quyền và các tổ chức khác thu nguyên công trình dài hạn. Trái phiếu thu nhập được huy động và điều hành bởi các tổ chức xây dựng và khai thác dạng xí nghiệp, do chính quyền địa phương quản lý. Trái phiếu thu nhập không lệ thuộc vào một mức giới hạn về lượng huy động theo luật như loại GOs và cũng không cần ra dân để lấy ý kiến. 

Các trái phiếu thu nhập thường có lợi suất rất hấp dẫn nhưng có thể bị rủi ro, vì chúng thường không được bảo kê bằng bất cứ nguồn nào khác ngoài chính thu nhập từng công trình mà chúng góp phần làm ra một cách độc lập. 

Trên mặt một chứng chỉ trái phiếu thu nhập luôn luôn có giới thiệu một hợp đồng trách nhiệm để tham khảo. Đây là bằng chứng về những điều khoản ràng buộc giữa chủ thể phát hành và tổ chức được ủy   khảon hợp pháp đại diện cho tất cả mọi người cầm trái phiếu đó. Những điều được giao kết trong một hợp đồng trách nhiệm trust indenture thường gồm:

-          Điều khoản về lãi suất

-          Điều khoản bảo vệ

-          Điều khoản bảo hiểm

-          Điều khoản về phát hành trái phiếu bổ sung

-          Điều khoản về quỹ hoàn trái sinking fund

-          Điều khoản bất khả kháng catastrophe

-          Điều khoản quản lý sử dụng tiền huy động flow of funds

-          Điều kiện về việc thu hồi trái phiếu call features. 

GIỚI THIỆU MỘT SỐ LOẠI TRÁI PHIẾU THU NHẬP ĐẶC BIỆT


  • Trái phiếu thu nhập phát triển công nghiệp Industrial development revenue bonds, viết tắt là IDRs hay IDBs:

Gồm các trái phiếu phát triển hạ tầng công nghiệp địa phương và trái phiếu kiểm soát ô nhiễm. Các chính quyền địa phương phát hành các loại trái phiếu này nhằm xây dựng các công trình tiện ích, mua thiết bị,... sau đó cho một công ty thuê lại để khai thác. Trách nhiệm trả vốn và lãi cho người mua trái phiếu được chuyển lại cho công ty nhận thuê này. Công ty khai thác quản lý và điều hành tài sản được chính quyền chọn thường là một công ty tư hoạt động tiện ích. Những công trình mà loại trái phiếu này tài trợ là những loại không khẩn thiết lắm, chẳng hạn hệ thống phân phối điện nước, khí đốt, hệ thống vận tải công cộng, xử lý chất thải,... 

Ở đây chúng ta cần lưu ý một quan điểm, theo phân loại của Mỹ thì có loại trái phiếu mang chức năng thiết yếu essential function bond được nhà nước ưu tiên hơn loại không khẩn thiết non-essential function bond hay còn gọi là private activity bond. Các hoạt động được gọi là khẩn thiết dựa vào ý nghĩa mục đích truyền thống mà chính quyền phải lo, trong đó có cơ ngơi và phương tiện làm việc của chính phủ, thư viện, công viên, đường sá, trường học, nhà từ,… 



  • Trái phiếu bọc lót bằng thuế đặc biệt, người thụ hưởng đặc biệt:

Những công trình đặc biệt nào đó cần có trong một cộng đồng dân cư, nhưng không thuộc loại khẩn thiết, có thể được huy động vốn bằng trái phiếu đô thị loại thu nhập để xây dựng. Khác với các GOs, loại này sẽ được khoanh lại một số nguồn thu để trả, chủ yếu là nguồn thu từ các đối tượng trực tiếp sử dụng các tiện ích này. Ví dụ chính quyền sẽ xây một trung tâm sinh hoạt cộng đồng từ nguồn vốn huy động bằng trái phiếu. Nguồn trả vốn và lãi cho các trái phiếu đó sẽ được bảo đảm từ tiền thuế thu trên hoạt động của các phương tiện lưu trú, đậu xe, nhà hàng,... làm dịch vụ trực tiếp cho trung tâm đó, cùng với tiền cho thuê phục vụ nếu có. Những ví dụ khác có thể là các khu vui chơi giải trí, thể thao,. .. 

  • Trái phiếu phát triển nhà ở:

Loại trái phiếu này có thể được các nhà nước bảo đảm hoàn toàn. Tiền huy động từ trái phiếu này sẽ cung cấp ngân quỹ để các định chế tài chính cho các đối tượng có nhu cầu vay, với lãi suất tương đối thấp, nhằm mục đích mua nhà ở mới. Tiền gốc và lãi của trái phiếu được bảo đảm nhờ vào tài sản thế chấp theo thủ tục của các món nợ cho vay kia. 

  • Trái phiếu bọc lót hai lần double- barreled bonds hay combination bonds:

Đây là loại trái phiếu huy động tài trợ các công trình trọng điểm, theo đó lãi và vốn được trả từ thu nhập thông qua khai thác công trình. Tuy nhiên các trái phiếu đó đồng thời cũng được bảo trợ bởi năng lực hành thu thuế của một địa phương. 

  • Trái phiếu nhà nước bảo nhận nghĩa vụ tinh thần - moral obligation bonds:

Loại này có thể là của chính quyền trung ương chính phủ bảo nhận hoặc là của địa phương địa phương bảo nhận. Những sự bảo nhận hàm ý như là một lời cam kết nhưng không rõ ràng như được bảo kê hoàn toàn theo phương thức "full- faith- and- credit" có chỉ định nguồn bảo đảm chi trả của nhà nước. Các món nợ được báo nhận bằng đạo lý này được phát hành nhằm để lách các hạn chế về mặt luật trong huy động nợ. Trong thực tế, nếu các khoản thu công trình không đủ trả nợ, địa phương có đủ thế mạnh sử dụng các nguồn hợp pháp để bảo trợ. 

 Về kỹ thuật, một trái phiếu đô thị có thể là loại dài hạn, ngắn hạn, chiết khấu, lãi suất định kỳ hoặc kết hợp. Ta khảo sát thêm hai loại sau đây để rõ vấn đề hơn. 



  • Trái phiếu đô thị chuyển đổi municipal convertible

Đây là một trái phiếu đô thị dài hạn và có kỹ thuật phát hành và duy trì rất độc đáo. Đầu tiên nó được phát hành với thể thức cho người mua trái phiếu hưởng một mức chiết khấu khá hậu hĩ trên mệnh giá, và sẽ không được tính lãi cho tới một thời điểm quy định. Tại thời điểm quy định này việc trả các lãi suất định kỳ sẽ bắt đầu và duy trì tiếp tục cho đến thời gian đáo hạn. 

Ví dụ minh hoạ, một trái phiếu đô thị được phát hành vào năm 1998 có thời gian đáo hạn vào năm 2018. Ngay khi phát hành, trái phiếu áp dụng chiết khấu 25% và không được tính lãi đến ngày 31- 12- 2003. Từ 1- 1- 2004 trái phiếu được tiếp tục trả lãi định kỳ 6 tháng một lần, với lãi suất 7% một năm chẳng hạn, cho đến ngày đáo hạn. 

Bản chất của loại trái phiếu chuyển đổi này là một sự kết hợp giữa loại trái phiếu không trả lãi định kỳ zero- coupon và trái phiếu trả lãi định kỳ bình thường. 


  • Trái phiếu đô thị ngắn hạn:

Các tỉnh, thành phố, đặc khu là các địa phương trực thuộc trung ương có thể cần những khoản chi tiêu ngắn hạn. Việc huy động các khoản vay ngắn hạn này có thể theo thủ tục riêng và được thực hiện thông qua hình thức trái phiếu đô thị ngắn hạn municipal note. Các trái phiếu đô thị ngắn hạn thường được phát hành với thời gian đáo hạn là 12 tháng, tuy nhiên theo ước lệ, loại này có khung đáo hạn từ 3 tháng đến 3 năm. 

Việc điều hành trái phiếu đô thị cần có một khung pháp lý tối thiểu quy định các nội dung liên quan đến chủ thể phát hành, phương thức phát hành, chủng loại trái phiếu đô thị, phương thức mua bán thứ cấp, yêu cầu thông tin đầy đủ và vấn đề bảo vệ người đầu tư. 

Trái phiếu đô thị dù là hình thức huy động nợ của chính quyền địa phương, nó luôn mang hình ảnh và uy tín của nhà nước, do đó các quy định liên quan đến thẩm quyền phát hành, nguồn trả nợ, trách nhiệm trả nợ, các cơ chế kiểm tra giám sát,... là những yếu tố cực kỳ quan trọng, cần được chế định càng chi tiết càng tốt. Việc phát hành và điều hành trái phiếu cần tuân thủ những quy trình và theo các thủ tục rất chặt chẽ. Chẳng hạn ở Mỹ, các trái phiếu đô thị được phân loại và định mức được "bảo hộ" tới đâu. Có loại được xếp hạng thấp và người đầu tư phải chịu rủi ro gần giống như trái phiếu công ty, nghĩa là cũng có thể bị mất vốn. Việc phát hành có khi phải "ra dân" để nhận được sự chấp thuận trường hợp các GOs, cấp nào được đứng phát hành, phát hành bao nhiêu và loại nào đều được quy định rõ. 

Thông thường hầu như tất cả trái phiếu thu nhập revenue bond được phát hành thông qua thương lượng và được phân phối đại chúng hoặc bán riêng từng khối lớn cho khách hàng đặc biệt. Các trái phiếu công ích GOs lại được thực hiện việc đấu giá cạnh tranh bởi các ngân hàng đầu tư, họ lập thành những nhóm bao tiêu và đấu với nhau bằng cách đưa ra mức chi phí bán cạnh tranh để chủ thể phát hành chọn lựa. Chủ thể phát hành lúc nào chằng muốn thu về cao, nên họ sẽ chọn bán cho ai đưa ra mức phí thấp nhất. Sau khi thắng thầu, các nhà bao tiêu sẽ bán lại cho công chúng theo giá mới đã có lời, gọi là giá tái phát hành reoffering price. 

Các yêu cầu về trình tự giải trình và duyệt xét đối với một đợt phát hành trái phiếu đô thị, nói chung, cũng chặt chẽ như phát hành chứng khoán công ty. Có một điểm đặc biệt mà ta cần lưu ý trong phát hành trái phiếu đô thị, đó là cả ba đối tượng chính quan hệ quyền lợi trong một đợt phát hành đều có sự giám sát rất cụ thể và như là một thủ tục về mặt luật: chủ thể phát hành cần có "ý kiến về pháp lý" của một cố vấn phát hành trái phiếu bond counsel. Nhà bảo lãnh cần nhờ đến cố vấn để đại diện quyền lợi cho mình gọi là cố vấn nhà bao tiêu underwriter’s counsel. Và quần chúng đầu tư luôn được bảo vệ quyền lợi của mình thông qua một "hợp đồng trách nhiệm" trust indenture do một đại diện uỷ quyền trustee đảm nhận.

Lược qua Các loại trái phiếu công ty

Loại trái phiếu có bảo đảm

Trái phiếu có bảo đảm secured bonds là loại được xếp hạng bảo vệ cao, chủ yếu là bằng các tài sản dùng để cam kết trả nợ. Khi doanh nghiệp phá sản, đại diện được uỷ nhiệm trustee của đợt phát hành sẽ thay mặt các trái chủ bond-holders quản lý các tài sản đó và thanh lý chúng để phân phối tiền lại cho trái chủ. Các loại trái phiếu có bảo đảm được xếp loại từ cao đến thấp theo tài sản đứng sau chúng, và gồm có:



là loại dài hạn có độ an toàn cao nhất so với các trái phiếu cùng loại. Tài sản bảo đảm được quản lý theo thủ tục cầm cố. Có hai loại tài sản đảm bảo:

- Dạng đóng closed- end mortgage, loại này không cho tổ chức phát hành trái phiếu dùng tài sản mortgage để vay mượn thêm, nhằm tạo một sự bảo vệ cao cho các trái chủ.

- Dạng mở open- end mortgage, cho phép các công ty phát hành được phép sử dụng tài sản đã mortgage để huy động thêm nợ, nhưng thường là trong một giới hạn quy định. Về kỹ thuật, trái phiếu mortgage thường được các công ty tiện ích phát hành theo các sê- ri series, với lượng phát hành bằng nhau và kế tục theo lối cuốn chiếu.


  • Trái phiếu bảo kê theo thiết bị equipment trust certificates,

là các trái phiếu trung và dài hạn. Lãi được trả cho loại này là nguồn cho thuê và khai thác thiết bị leasing. Loại trái phiếu này có một lịch sử sử dụng tài trợ rất hiệu quả, đồng thời cung cấp một công cụ rất an toàn cho người đầu tư, đặc biệt trong hai ngành đường sắt và hàng không, để mua sắm và đổi mới tàu xe và phi cơ.

  • Trái phiếu bảo kê bằng thế chấp collateral trust bonds,

Là loại trái phiếu dài hạn được các công ty phát hành huy động tài chánh vay nợ bằng cách dùng các cổ phần của các công ty khác mà công ty đó đang sở hữu để thế chấp, thay vì thế chấp bằng tài sản hữu hình. Đa số loại này được các "holdings", đang nắm và chi phối cổ phần các công ty con, phát hành để vay mượn bằng chính lợi thế về lượng cổ phần mà họ đang có trong tay đó. 

Các trái phiếu không có bảo đảm

Trái phiếu không có bảo đảm lại là loại phổ biến trên TTCK và được các công ty cổ phần sử dụng chủ yếu để huy động vốn bằng chứng khoán nợ.



  • Trái phiếu thường debentures

là loại có bảo đảm duy nhất bằng uy tín công ty. Khi công ty chẳng may bị phá sản, trong dòng người chờ để được "chiếu cố", các chủ nợ loại này xếp hàng chỉ trước anh cổ đông có cổ phần ưu đãi. Nhưng chính loại trái phiếu này mới được xem là “con đẻ" của TTCK. Tuy nhiên, cũng cùng một xuồng với "debentures" lại có thêm một "subordinated debentures" trái phiếu thường bị lệ thuộc, có ưu tiên được "bắt đền" còn kém hơn các debentures thường nữa. Bù lại, các loại này có lợi suất rất hấp dẫn và đặc biệt chỉ có các công ty làm ăn rất uy tín mới đủ hấp lực huy động.

  • Trái phiếu thường chuyển đổi được convertible debentures

là loại có thêm sự chọn lựa dành cho người đầu tư nào muốn hoán chuyển chúng ra cổ phần thường, với một số điều kiện xin xem chuyên đề "Chứng khoán chuyển đổi"

  • Trái phiếu được bảo lãnh guaranteed bonds:

Trường hợp một công ty chưa tạo được chỗ đứng về niềm tin trên một thị trường thì rất khó phát hành trái phiếu thường để huy động nợ. Tuy nhiên, họ có thể nhờ một công ty có uy tín khác dùng lợi thế về tên tuổi để bảo kê cho mình. Thường thường đó là một đối tác trong liên doanh joint venture hoặc quan hệ công ty mẹ công ty con trong các holdings. Sự bảo đảm bao hàm cả việc trả lãi lẫn thanh toán tiền gốc.

là một loại chứng khoán dài hạn và có đặc điểm tổ chức phát hành chỉ phải trả lãi khi nào công ty có lời dư để trả: Loại này thường được các công ty đang gặp khó khăn về tài chính, đang trong quá trình tái tạo lập từ nguy cơ phá sản sử dụng, có cam kết trả tiền gốc nghiêm chỉnh. Do không xác định việc trả lãi, nó được giao dịch theo phương thức cố định không lãi, thuật ngữ tiếng Anh là "flat" và thường được bán thấp xa mệnh giá. Do đặc điểm có sự thay đổi, điều chỉnh trong thu nhập, trái phiếu này còn được gọi là "adjustment bonds".

  • Trái phiếu không nhận lãi zero- coupon bonds

xin tham khảo phần chuyên đề về loại này.

  • Trái phiếu đầu cơ speculative bonds

người ta còn gọi là "junk bond" trái phiếu tạp. Đây là loại có lợi suất cao nhưng rủi ro không kém, được xếp hạng rất thấp dưới BB xa theo cách xếp của S&P’s. Loại trái phiếu này được dành chủ yếu cho người có thần kinh mạnh, ít được người đầu tư bình thường chấp nhận,… Luật lệ tài chính và TTCK khuyến cáo những người quản lý các quỹ cho khách hàng không nên sử dụng các loại trái phiếu chất lượng thấp này. Bản thân từ "Junk" trong tiếng Anh cũng đã xếp loại chúng như đồ "lạc xoong".

  • Trái phiếu ngoại lai

gọi là euro bonds, nhưng để chỉ chung cho tất cả các trái phiếu ngoại quốc phát hành và giao dịch tại một nước ngoài nào đó, không kể là tại xứ Âu hay Á. Trái phiếu đó ghi tiền của nước khác với nước mà nó được mua bán. Ví dụ trái phiếu có mệnh giá bằng đồng Việt Nam nếu được bán tại châu Âu hoặc ngay như tại Nhật Bản chẳng hạn, đều được gọi là "euro bond", nếu trái phiếu đó mệnh giá bằng đô- la Mỹ thì còn được gọi là Eurodollar bond.

Tại thị trường tài chính Mỹ, các trái phiếu do các công ty và chính phủ nước ngoài phát hành và được phép giao dịch trên các TTCK nước này được gọi chung là "Yankee bond": Các chứng khoán nợ loại này có mệnh giá bàng đồng đô- la Mỹ khác với euro bond có mệnh giá bằng tiền nước ngoài, thường được các công ty và chính phủ nhiều nước phát hành theo quy định và quan hệ hiệp thương hai bên nhằm tận dụng lợi thế khi tình hình kinh tế tài chính Mỹ khả quan hơn nước phát hành. Bản thân trái phiếu Yankee bị tác động chủ yếu bởi lãi suất thị trường Mỹ và tình hình tài chính công ty hoặc quốc gia phát hành.



Chứng khoán đặc biệt của các Công ty Cổ phần

Chứng khoán chuyển đổi

Về cơ bản, một công ty cổ phần có cơ cấu vốn gồm cổ phần thường, cổ phần ưu đãi và trái phiếu các loại. Bấy nhiêu tưởng đã quá đủ để các công ty xoay xở nhằm giải quyết vấn đề vốn. Nhưng chuyện không đơn giản như chúng ta nghĩ. Trong quá trình tồn tại và phát triển, công ty vừa phải tính toán nên cần đồng tiền nào cho có lợi nhất, vừa phải "gò" theo một hành lang gồm nhiều luật và lệ chi phối. Chẳng hạn như luật chứng khoán, điều lệ công ty, các ước lệ thị trường, phản ứng tâm lý của người đầu tư bên trong, kẻ quan sát bên ngoài,… lắm lúc làm cho những "sản phẩm đơn giản và truyền thống" kia không thể phát huy. Để tạo hấp dẫn, chúng cần đến sự chế biến, cho gia vị vào, cải tiến bao bì mẫu mã, thêm cả món ăn chơi, nếu cần,. ..Chẳng khác nào trong chuyện ăn uống. 

Cách khái quát trên đây không phải lý luận đơn thuần hoặc cho vui, mà là một thực tế hành xử phổ biến của thị trường vốn đã được đúc kết thành những sản phẩm đặc biệt, làm tăng phần phong phú hay có thể nói là linh hoạt trong TTCK. Đó là trường hợp các chứng khoán chuyển đổi convertible securities, các đặc quyền mua rights hoặc cam kết bán warrants, để lấy cổ phần thưởng. 

Chứng khoán chuyển đổi

Các chứng khoán chuyển đổi là loại trái phiếu trái phiếu thường - debentures, hoặc cổ phần ưu đãi, có thêm đặc tính chuyển đổi được ra cổ phần thường. Như ta đã biết, cổ phần thường là loại cổ phần đóng góp và chia sẻ thật sự vào hoạt động làm ăn của một công ty cổ phần. Trong khi đó, các trái phiếu và cổ phần ưu đãi thì thiên hẳn về chủ trương kiếm lợi. Loại trái phiếu được xem là của những "ủng hộ viên" bên ngoài, còn cổ phần ưu đãi dành cho những người chỉ "tháp tùng thôi chứ không thi đấu" bên trong. Họ quan hệ với công ty trên cơ sở "sòng phẳng" hơn, vì họ muốn nhận các khoản lợi cố định. Gọi là cổ phần ưu đãi, nhưng không phải đó là loại "ngon" hơn cổ phần thường. Ưu đãi chỉ có ý nghĩa về thứ tự giải quyết quyền lợi và cổ tức ổn định thôi. Trong trường hợp công ty ăn nên làm ra, mà công ty nào lại chẳng mưu cầu như vậy!, cổ phần thường mới là "ông hoàng" trong thị trường vốn. 

Nhờ khả năng thuyết phục của cổ phần thường, các công ty dùng chiêu thức "chuyển đổi" để hấp dẫn người mua trái phiếu hoặc cổ phần ưu đãi. Đây là nghệ thuật huy động tài chính cho công ty theo phương thức triển hạn việc tăng vốn góp equity. Người mua và sở hữu cổ phần ưu đãi chuyển đổi hoặc trái phiếu chuyển đổi vẫn còn bị "treo" đó cho đến ngày hiệu lực, chưa được công nhận là chủ sở hữu đầy đủ của công ty theo dạng cổ phần thường. Đến thời điểm quy định, nếu các trái phiếu thường được chuyển đổi thành cổ phần thường thì cơ cấu vốn của công ty sẽ được thay đổi, từ nợ debt sang vốn góp equity. 


  • Những lợi điểm đối với chủ thể phát hành:

Công ty phát hành chứng khoán chuyển đổi có thể trông cậy vào một số lý do như:

- Những chứng khoán chuyển đổi được trả lãi ít hơn loại không chuyển đổi, vì bản thân khả năng chuyển đổi đã là một quyền lợi dành cho người sở hữu.

- Công ty có thể loại bỏ chi phí vốn, do phải trả lãi cố định, một khi việc chuyển đổi được thực hiện; điều này cũng có nghĩa là giảm nợ.

- Tránh được việc tạo ra một sự gia tăng nhanh lượng cổ phần trên thị trường, bởi vì việc chuyển đổi diễn ra qua một thời gian dài sau khi phát hành. Đây là một cách đánh lạc tâm lý hoặc xoa dịu thị trường.

- Bản thân công ty phát hành tránh làm loãng ngay lập tức thu nhập trên mỗi cổ phần thường trong kỳ của đợt huy động vốn đó. 


  • Những bất lợi đối với chủ thể phát hành:

Chủ thể phát hành, tuy vậy, cũng không thể tránh khỏi một số bất lợi, đó có thể gồm:

- Vốn góp của cổ đông cuối cùng vẫn bị loãng dilution vào thời điểm chuyển đổi.

- Một sự chuyển đổi lớn và có ý đồ có thể tạo ra một sự thay đổi về cơ cấu kiểm soát công ty.

- Sự giảm nợ trong công ty thông qua phương thức chuyển đổi cũng có nghĩa rằng công ty mất lợi thế về sử dụng đòn bẩy tài chính bằng nợ.

- Việc chuyển đổi từ hình thức nợ vay qua hình thức vốn riêng sẽ làm tăng tiền thuế phải đóng trên thu nhập công ty.

- Bản thân trạng thái "khả năng chuyển đổi" còn treo lơ lửng một sự không ổn định trong cơ cấu tài chính của công ty trong suốt thời gian hiệu lực. 



  • Những lợi điểm hấp dẫn người mua:

Đối với người đầu tư mua chứng khoán chuyển đổi, họ nhắm đến một số mục đích thuận lợi như sau:

- Loại trái phiếu chuyển đổi dù sao vẫn là loại cho lãi suất ổn định và có thể nhận lại tiền gốc theo mệnh giá tại thời điểm đáo hạn.

- Người sở hữu trái phiếu chuyển đổi có ưu tiên cao hơn sở hữu cổ phần thường trong trường hợp có sự thanh lý công ty xảy ra.

- Giá thị trường của trái phiếu chuyển đổi có khuynh hướng ổn định hơn giá cổ phần thường trong các cơn suy thoái của TTCK.

- Trong lúc đó, giá thị trường của các chứng khoán chuyển đổi nói chung Iại có khuynh hướng tăng lên nếu giá chứng khoán tăng.

- Được quyền chọn lựa chuyển qua cổ phần thường trong tương lai với giá hấp dẫn. 



Giá chuyển đổi và tỷ lệ chuyển đổi 

  • Giá chuyển đổi:

Giá chuyển đổi là giá ghi trên mặt một chứng khoán chuyển đổi xác định số tiền tương ứng với một cổ phần thường sẽ được chuyển đổi. Nếu một trái phiếu chuyển đổi có mệnh giá là 1.000.000đ và có giá chuyển đổi là 125.000đ thì đến ngày hiệu lực mỗi 125.000đ sẽ tương ứng với một cổ phần thường. Người cầm trái phiếu khi thực hiện việc chuyển đổi sẽ nhận được 8 cổ phần. 

  • Tỷ lệ quy đổi:

Tỷ lệ quy đổi diễn đạt ý niệm về số cổ phần thường đổi được so với một chứng khoán chuyển đổi. Trong ví dụ trên, mệnh giá chứng khoán chuyển đổi là I.000.000đ, giá chuyển đổi là 125.000đ, như vậy tỷ lệ quy đổi sẽ là 8 đổi 1 1.000.000đ chia cho 125.000đ. 

Các trái phiếu chuyển đổi được phát hành theo một thời biểu về các giá chuyển đổi khác nhau phù hợp với bản giao ước của đợt phát hành trái phiếu. Thời biểu đó thường đưa ra các giá chuyển đổi cao hơn khi trái phiếu càng cận ngày đáo hạn. Những yếu tố tác động tới giá chuyển đổi gồm có: 

- Giá cổ phần làm cơ sở chuyển đổi vào lúc phát hành trái phiếu.

- Thu nhập tiềm năng của công ty phát hành và tác động của nó trên giá cổ phiếu.

- Xu hướng thị trường. Một thị trường có xu hướng tăng làm cho người đầu tư dễ chấp nhận chứng khoán chuyển đổi hơn.

- Thời gian chuyển đổi. Nhìn chung thời gian càng lâu giá chuyển đổi càng ít cần ưu đãi.

- Mức tiền lãi mà công ty sẵn sàng trả. Một lợi suất áp dụng cao để làm cho các nhà đầu tư chấp nhận một giá chuyển đổi cao hơn đối với đợt phát hành. 


  • Các cổ đông hiện hữu được ưu tiên đăng ký mua:

Do các chứng khoán chuyển đổi có thể làm loãng cơ cấu vốn gộp của cổ đông, các cổ đông luôn có đặc quyền mua trước pre-emptive right để mua bất kỳ chứng khoán mới phát hành nào có thể chuyển đổi thành cổ phần thường, với một giá đăng ký mua luôn thấp hơn giá thị trường. 


: books -> ke-toan-tai-chinh-thue
ke-toan-tai-chinh-thue -> Bài tập Kiểm toán căn bản  gv : ncs. ThS phan Thanh Hải LỜi ngõ
ke-toan-tai-chinh-thue -> GIẢI ĐỀ kiểm tra: KẾ toán thưƠng mạI ĐỀ SỐ 1: (đvt: 000đ) ok
ke-toan-tai-chinh-thue -> TÀi liệU 138 câu trắc nghiệm môn Thanh toán quốc tế (Kèm lời giải) MỤc lụC
ke-toan-tai-chinh-thue -> SƠ ĐỒ ĐỊnh khoản kế toán sơ ĐỒ KẾ toán sản xuất-giá thành sản phẩM
ke-toan-tai-chinh-thue -> A, b, c, d và đánh dấu X vào bảng trả lời Câu 1
ke-toan-tai-chinh-thue -> TRƯỜng đẠi học kinh tế luật tphcm bộ MÔn kinh tế ĐỐi ngoại môn quản trị TÀi chính công ty đa quốc gia
ke-toan-tai-chinh-thue -> Câu hỏi lý thuyết và vấn đáp môn tín dụng ngân hàng


1   ...   16   17   18   19   20   21   22   23   ...   32


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương