Giải thích thuật ngữ: Chứng khoán? Môi giới? Đầu tư?


Xin thành lập công ty chứng khoán như thế nào?



tải về 2.23 Mb.
trang2/32
Chuyển đổi dữ liệu18.08.2016
Kích2.23 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   32

Xin thành lập công ty chứng khoán như thế nào?

Xin thành lập công ty chứng khoán như thế nào?

Sáng 21-7-98 tại Hà Nội, 10 ngày sau khi Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Nghị định 48/CP, Ủy ban Chứng khoán Nhà nước SSC đã triệu tập hội nghị với Tổng giám đốc các Tổng công ty bàn về việc phát hành trái phiếu, cổ phiếu và thành lập công ty chứng khoán. Dưới đây TBKTSG lược ghi những thông tin mới nhất về phát hành chứng khoán ra công chúng và quy trình cấp giấy phép hoạt động cho công ty chứng khoán.



Phát hành chứng khoán

1. Điều kiện phát hành : Vốn điều lệ tối thiểu 10 tỉ đồng ; kinh doanh có lãi hai năm gần nhất; có phương án khả thi về việc sử dụng vốn thu được từ phát hành ; thành viên hội đồng quản trị ; ban giám đốc có khả năng, kinh nghiệm trong lĩnh vực kinh doanh ; tối thiểu 20% vốn cổ phần phải được bán cho trên 100 người đầu tư bên ngoài nếu vốn cổ phần từ 100 tỉ đồng trở lên thì tỷ lệ là 15% ; cổ đông sáng lập nắm giữ ít nhất 20% vốn cổ phần trong thời gian tối thiểu ba năm ; giá trị cổ phiếu phát hành từ 10 tỉ đổng trở lên phải có tổ chức bảo lãnh phát hành.

2. Hồ sơ xin phát hành cổ phiếu : Gồm chín tài liệu : đơn xin phát hành - giấy đăng ký kinh doanh - điều lệ công ty - nghị quyết đại hội cổ đông chấp thuận việc phát hành cổ phiếu - bản cáo bạch - danh sách và sơ yếu lý lịch thành viên hội đồng quản trị và ban giám đốc - báo cáo tài chính hai năm liên tục gần nhất - biên bản xác định giá trị doanh nghiệp của cơ quan có thẩm quyền nếu là doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa - cam kết bảo lãnh phát hành nếu có.

3. Cấp giấy phép : SSC xét duyệt hồ sơ trong vòng 45 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ. Tổ chức phát hành nộp lệ phí cấp phép bằng 0,02% giá trị chứng khoán phát hành, nhưng tối đa là 50 triệu đồng.

4. Chào bán chứng khoán : trước khi bán phải công bố việc phát hành trong vòng năm ngày khi có giấy phép trên 5 số báo ngày của một tờ báo Trung ương, một báo địa phương và bản tin chính thức của thị trường chứng khoán.

Phát hành cổ phiếu theo hai phương thức : qua đại lý phát hành hoặc qua tổ chức bảo lãnh phát hành.

Việc phân phối chứng khoán chỉ được tiến hành trong vòng 90 ngày kể từ ngày giấy phép phát hành có hiệu lực. Hết 90 ngày mà chưa bán hết chứng khoán phải xin SSC gia hạn.

Không được bán chứng khoán thấp hơn mệnh giá và phải dành ít nhất 25 ngày để người đầu tư đăng ký mua. Ưu tiên cho người đầu tư cá nhân.

5. Đăng ký chứng khoán : Sau khi hoàn tất phát hành phải thực hiện thủ tục đăng ký chứng khoán với SSC, đổng thời gửi đơn xin niêm yết chứng khoán ở thị trường giao dịch chứng khoán và nộp lệ phí niêm yết lần đầu. Trong vòng bảy ngày SSC sẽ hoàn tất thủ tục niêm yết chứng khoán.

Quy trình cấp giấy phép hoạt động cho công ty chứng khoán

1. Đối tượng cấp phép : Các công ty cổ phần, trách nhiệm hữu hạn theo quy định tại điều 30, Nghị định 48/CP.

Các tổ chức tín dụng, công ty bảo hiểm, tổng công ty muốn kinh doanh chứng khoán phải lập công ty cổ phần hoặc trách nhiệm hữu hạn độc lập.

Các tổ chức nước ngoài muốn kinh doanh chứng khoán phải lập liên doanh với đối tác Việt Nam. Bên nước ngoài tham gia liên doanh phải là các tổ chức kinh doanh chứng khoán đang hoạt động hợp pháp tại các nước tỗ chức này đóng trụ sở chính.

2. Thủ tục xin cấp phép : Công ty chứng khoán nộp hồ sơ xin cấp phép cho SSC. SSC xem xét cấp phép trong 90 ngày. Sau khi được cấp phép, công ty chứng khoán phải tiến hành đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện hành.

3. Hồ sơ xin cấp phép : Đối với công ty chứng khoán Việt Nam : - đơn xin cấp phép - giấy phép thành lập do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp - lý lịch tóm tắt của thành viên hội đồng quản trị và ban giám đốc - giấy phép hành nghề chứng khoán của thành viên ban giám đốc và nhân viên - bản thuyết trình về cơ sở vật chất kỹ thuật và phương tiện phục vụ cho việc kinh doanh chứng khoán của công ty - dự kiến nguồn vốn và phương án kinh doanh trong 12 tháng đầu.

Đối với liên doanh : ngoài các giấy tờ trên còn phải bổ sung : - điều lệ của bên nước ngoài tham gia liên doanh - giấy phép hoạt động tại nguyên xứ của bên nước ngoài - danh sách người nước ngoài làm việc cho liên doanh - hợp đổng liên doanh - bảng tổng kết tài sản, báo cáo thu nhập, báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh của mỗi bên liên doanh trong ba năm gần nhất.

Các giấy tờ này phải có xác nhận công chứng hợp pháp của nơi nước ngoài tham gia liên doanh đóng trụ sở chính và được công chứng Việt Nam xác nhận bản dịch tiếng Việt.

4. Lệ phí cấp phép, công bố giấy phép : Công ty chứng khoán nộp lệ phí cấp phép bằng 0,2% vốn pháp định. Chuyển toàn bộ vốn điều lệ vào tài khoản phong tỏa không được hưởng lãi suất tại ngân hàng do SSC chỉ định. Số tiền này được giải tỏa khi công ty khai trương hoạt động.

Trước khai trương, công ty chứng khoán công bố trong năm số liên tiếp việc thành lập và giấy phép hoạt động trên một tờ báo ngày Trung ương, một tờ báo ngày địa phương.  



Cần phân loại chứng khoán trước khi nhập cuộc

Chứng khoán là giấy tờ có giá trị kinh tế hay nói cách khác đó là công cụ tài chính có giá trị tương ứng như tiền mặt và được mua bán hoặc chuyển nhượng. Chứng khoán là một loại hàng hóa rất tiêu biểu trong cơ chế kinh tế thị trường tự do.

TBKTSG xin giới thiệu bài viết của tác giả Lê Trọng Nhi, một chuyên viên có kinh nghiệm hoạt động trong thị trường chứng khoán ở Mỹ.

Trong mỗi thị trường chứng khoán các loại chứng khoán có những phẩm chất khác nhau. Tại các thị trường chứng khoán của Mỹ, giới kinh doanh và đầu tư chứng khoán phân ra bốn loại hàng chính và mỗi loại có một phẩm chất khác nhau như sau:



Loại hàng hóa cổ phiếu - vốn cổ phần

Cỗ phiếu phẩm chất cao - blue chips : Từ lóng blue chips để ám chỉ những cổ phiếu của các công ty lớn, có ảnh hưởng trong nền kinh tế, có những phẩm chất nhất định về thị trường và quản lý, mệnh giá mỗi cổ phần tương đối cao từ 100.000 - 2 triệu đồng  và giá cả không bị dao động mạnh. Số lượng mua bán các loại cổ phiếu này chiếm một tỷ trọng khá lớn trong mỗi phiên giao dịch, có đặc tính chuyển thành tiền mặt nhanh chóng. Mức độ rủi ro tương đối thấp và trung bình.

Cỗ phiếu phẩm chất thấp - penny stocks : Từ penny stocks để ám chỉ những cổ phiếu của các công ty nhỏ chưa có tiềm năng phát triển lớn, hoặc mới thành lập đang tìm chỗ đứng trong thị trường, hoặc thuộc loại khá tốt nhưng bị sự cố và đưa đến hậu quả tồi hoặc gần như phá sản ; thông thường mệnh giá mỗi cổ phần rất thấp 9.000 đồng hoặc cao từ 10.000-30.000 đồng. Mức độ rủi ro tương đối cao.

Hàng hóa trái phiếu - vốn nợ

Trái phiếu chính phủ : Chính phủ trung ương thông qua ngân khố hoặc các chính quyền các thành phố lớn phát hành trái phiếu để tài trợ cho ngân sách hoặc cho một dự án công ích nào đó. Rủi ro rất thấp và người đầu tư thường được hưởng những ưu đãi về thuế. Mệnh giá mỗi trái phiếu thường là 10 triệu đồng. Giá cả dao động và gắn chặt theo chỉ số lãi suất trên thị trường. Trái phiếu loại này còn được gọi là fixed income bond - trái phiếu có lợi nhuận cố định.

Trái phiếu công ty : Các công ty phát hành trái phiếu tài trợ các dự án phát triển hoặc chương trình bành trướng. Tùy bối cảnh, các công ty chọn phát hành trái phiếu để ứng phó với những tình hình bất lợi cho sự sống còn của công ty, đôi khi được gọi là junk bonds - trái phiếu có rủi ro cao. Mức lãi suất cao hơn của chính phủ và rủi ro tương đối cao.

Mua chứng khoán chính là một sự chuyển dạng từ tiết kiệm sang đầu tư. Thị trường chứng khoán mở cho tất cả mọi người có nguồn tiết kiệm hoặc có khả năng tiết kiệm và muốn đầu tư. Tuy nhiên đầu tư chứng khoán cũng như bất cứ một cuộc đầu tư nào khác cũng có những rủi ro. Có ít nhất 14 loại rủi ro có thể nhận định được trong quyết định mua chứng khoán. Có một quy luật chung trong tất cả các cuộc đầu tư đó là rủi ro càng cao thì lợi nhuận càng cao.

Tóm lại yếu tố rủi ro sẽ khống chế người tiết kiệm theo ba dạng : người đầu tư, mua chứng khoán theo nghĩa đầu tư thực sự và không chịu rủi ro cao - mua chứng khoán blue chips hoặc trái phiếu chính phủ ; người đầu cơ, chấp nhận và tính toán với rủi ro, chọn thời điểm vì thời gian dài không quan trọng - mua bán loại chứng khoán giá cả dao động nhiều, penny stocks hoặc các junk bonds ; người mua bán, tìm lợi nhuận nhanh bằng sự chênh lệch giá cả bất kể loại chứng khoán nào trong thị trường, và mua qua bán lại nhiều lần. 

Bài I: Thị trường chứng khoán là gì?

    Thị trường chứng khoán TTCK và sự vận hành của nó là những vấn đề còn xa lạ không chỉ với người dân mà cả với không ít doanh nhân của chúng ta.

    Nhằm giúp bạn đọc tìm hiểu một cách có hệ thống về TTCK, Thời báo Kinh tế Sài Gòn đã nhờ Luật sư Nguyễn Ngọc Bích, từng nghiên cứu vấn đề này tại trường Đại học New York Mỹ năm 1992 phụ trách loạt bài này.

    Cách tìm hiểu ở đây sẽ đi từ gốc lên ngọn, nghĩa là từ công chúng đến công ty, sang ngân hàng rồi đến TTCK.

    Loạt bài gồm hai phần : phần 1 sẽ gồm bảy bài nói về TTCK là gì. Phần 2 nói về sự vận hành thế nào.

    Trong khi trình bày, tác giả có liên hệ thực tế, các danh từ chuyên môn xuất hiện lần đầu sẽ được in đậm. Các từ về TTCK được lấy từ Dự thảo Pháp lệnh về chứng khoán và Thị trường chứng khoán của Việt Nam.  

Người tiêu thụ cũng là người đầu tư

    Là nam hay nữ chúng ta đều cần cơm ăn, áo mặc, và nhiều thứ khác gọi là hàng hóa. Hàng hóa phải được chế tạo ra. Người làm ra chúng được gọi là nhà sản xuất hay doanh nhân hay doanh nghiệp. Doanh nhân cung ứng sản phẩm và chúng ta là người tiêu thụ.

    Để mua hàng, ta phải đi làm để có tiền, gọi là lợi tức hay thu nhập. Mua sắm đủ cho hôm nay, ta còn phải dành ít thu nhập để phòng cho ngày mai, nhỡ đau yếu, đó là tiết kiệm. Tiền tiết kiệm chúng ta có thể cho người khác sử dụng bằng cách cho vay, hoặc hùn vốn. Nếu ta đưa tiền cho doanh nhân dùng tức là chúng ta đầu tư, vì với số tiền của ta doanh nhân sẽ làm cho số tài sản hiện có được tăng thêm. Doanh nhân và ta cần có nhau. Doanh nhân sản xuất, ta mua hàng của họ rồi đầu tư vào họ vì họ sẽ sản xuất nhiều hơn cho ta và con cháu ta. Vì vậy, là người tiêu thụ nhưng cũng có khi chúng ta là người đầu tư. Những người như ta rất đông tạo nên một thành phần trong nền kinh tế gọi là công chúng.  

Doanh nhân lúc nào cũng cần tiền

    Doanh nhân luôn luôn cần tiền của người đầu tư. Bởi vì, doanh nhân phải bỏ tiền của chính mình ra, gọi là vốn, trong hai giai đoạn. Lúc đầu, mua sắm nhà cửa, máy móc, xe cộ để có công cụ sản xuất. Những thứ này dùng vài năm mới hỏng, nên tiền bỏ ra mua chúng được gọi là vốn cố định. Về sau, doanh nhân tiếp tục bỏ tiền mua nguyên liệu, thuê thầy thợ, trả điện nước để làm ra sản phẩm ; tiền này gọi là vốn lưu động. Từ lúc bỏ tiền mua, rồi làm ra sản phẩm, đem bán đi đến khi thu tiền về bao giờ cũng phải mất một thời gian. Thí dụ, làm cái bánh chưng thì mất hai ba ngày ; nhưng sản xuất một cái máy cày phải mất vài tháng mới bán được. Thời gian đó gọi là vòng quay vốn. Doanh nhân có thể có đủ vốn lưu động cho vòng quay đầu ; nhưng cho vòng thứ hai, thứ ba họ phải đi vay vốn lưu động để duy trì sản xuất. Vòng quay càng dài thì càng phải vay nhiều. Vậy, lý do thứ nhất khiến doanh nhân luôn phải vay nợ là vì có vòng quay vốn mà họ lại không thể ngưng sản xuất được. Vốn đi theo vòng tròn, hết vòng mới sang vòng khác ; trong khi sản xuất đi theo đường thẳng.

    Tiền thu về, gọi là doanh thu, sẽ giúp doanh nhân trang trải bốn thứ : 1 lấy lại vốn lưu động ; 2 trả thuế ; 3 dành một khoản cấn trừ theo tỷ lệ của vốn cố định để sau này còn mua sắm chúng lại được, gọi là khấu hao tài sản cố định ; 4 thưởng cho mình vì công sức đã bỏ ra. Khoản tiền 3 và 4 gọi là lợi tức thuần, hay sau thuế hay lợi tức doanh nghiệp. Doanh nhân trả nợ xong thì có thể vay vốn lưu động tiếp ; gọi là vốn vay hay tín dụng ngắn hạn, nghĩa là phải trả trong vòng một năm là tối đa.

    Bây giờ vì hàng bán chạy, doanh nhân thấy cần tăng mức sản xuất, muốn có thêm hàng phải có thêm máy móc mới, gọi là đầu tư mở rộng. Lợi tức thuần không đủ để đầu tư mở rộng. Doanh nhân bắt buộc phải đi vay. Đây là lý do thứ hai tại sao họ phải đi vay. Tiền vay cho đầu tư mở rộng chỉ có thể trả từ từ bằng lợi tức thuần, vì nếu có bao nhiêu lợi tức thuần mà đem trả nợ hết thì không còn tiền cho vốn lưu động hay để thay thế máy móc cũ. Vì thế, vốn vay cho đầu tư mở rộng phải là vốn trung hạn, trả trong vòng từ 3-5 năm, hay vốn dài hạn, từ năm năm trở lên. Doanh nhân càng cần vốn nhiều thì phải đi vay hay gọi vốn nhiều. Tùy số vốn ấn định, họ có thể là một công ty cổ phần, là hình thức gom vốn cao nhất hiện nay. Trong loạt bài này, tùy mạch câu văn các từ doanh nhân, doanh nghiệp hay công ty được dùng lẫn lộn, nhưng chỉ chung về công ty.

Cơ sở trao đổi giữa doanh nghiệp và công chúng : đền bù rủi ro kinh doanh

    Doanh nhân cần vốn ngắn, vốn dài, nhưng hàng làm ra có thể không bán được, bị hỏng, bị mất... Hàng mất thì không có doanh thu. Cho nên công việc làm ăn của doanh nhân luôn luôn có rủi ro, gọi là rủi ro kinh doanh. Rủi ro này nằm ở hai chỗ là thời gian để thu tiền về và khả năng tiền bị mất.

    Công chúng đầu tư vào doanh nhân thì cũng phải chịu rủi ro kinh doanh. Muốn lôi kéo họ, doanh nhân phải hứa hẹn. Lời hứa là nếu ai giao tiền để cho vay hay hùn vốn, thì sẽ được đền bù cho rủi ro kia và cho việc phải nhịn ăn nhịn tiêu bây giờ. Mức đền bù sẽ bằng một khoản chênh lệch giữa số tiền giao bây giờ và trả sau này tính theo phần trăm trên số tiền được giao lúc đầu, gọi là lãi suất. Lãi suất là cái giá mà doanh nhân phải trả để mua tiền của người đầu tư. Các nhà kinh tế coi sự giao dịch giữa hai người là một sự trao đổi trade.

    Từ cơ sở ấy, một nguyên tắc được đặt ra cho sự trao đổi dựa trên lẽ công bằng là nếu rủi ro mất tiền cao thì lãi suất sẽ cao ; thời gian trả số tiền gốc dài thì lãi suất cũng cao ; việc nhịn ăn nhịn tiêu được tính chung vào lãi suất ấy nhưng bị tùy thuộc vào việc doanh nhân có dễ tìm được một người đầu tư khác hay không. Lãi suất tiêu biểu cho rủi ro kinh doanh và là cái giá để mua bán tiền.  

Sự hóa giải cái trái ngược về lợi ích giữa doanh nhân và nhà đầu tư

    Do nguyên tắc về lãi suất, sự trao đổi giữa doanh nhân và nhà đầu tư luôn luôn là một sự giằng co giữa hai lợi ích khác nhau. Người đầu tư muốn lãi suất cao, thu tiền sớm. Doanh nhân lại muốn lãi suất thấp, mà lâu mới trả tiền ; nhất là những người thực hiện những dự án lớn. Đó là đòi hỏi cực đoan của mỗi bên. Giải quyết mâu thuẫn này là công trình của loài người kéo dài qua nhiều thế kỷ và bằng hai cách chính.

    Cách đầu là để hai bên trao đổi với nhau qua trung gian là thị trường tiền tệ ; chủ yếu do các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng thực hiện. Cách sau là qua thị trường tài chính, tức thị trường chứng khoán TTCK. Khoảng cách xuất hiện của hai phương thức này khá dài. Thí dụ ở Mỹ, ngân hàng đầu tiên xuất hiện năm 1781 Bank of North America còn thị trường chứng khoán New York ra đời năm 1863. Sở dĩ như vậy là vì các yếu tố để hình thành phải đi đồng bộ với nhau và đi từ thấp lên cao. Chẳng hạn, muốn có TTCK, doanh nhân phải làm ăn lời lãi, muốn đầu tư mở rộng hay đầu tư vào những dự án lớn làm đường sá ; lúc ấy họ mới cần thêm vốn nhiều. Về phía người đầu tư, họ cũng phải có thu nhập cao, có nhiều tiền để dành. Rồi tình hình kinh tế chung phải  phát triển, luật pháp phải mở mang. Khi đã có các yếu tố chuẩn bị này thì hệ thống tài chính làm trung gian phải có phương tiện và kỹ thuật tương ứng giúp công chúng và doanh nhân trao đổi với nhau được.

    TTCK là một bước phát triển cao hơn của thị trường tiền tệ. Nó vận dụng các công nghệ riêng của nó, ăn khớp với các kỹ thuật của thị trường tiền tệ và của các doanh nghiệp để thu hút tiền tiết kiệm của công chúng rồi đưa cho doanh nghiệp. Và khi làm như thế, nó đồng thời hóa giải được đòi hỏi cực đoan của hai bên, nhiều hơn tất cả các phương thức có trước đó.  

Toàn cảnh về thị trường chứng khoán

    Cho đến nay, chúng ta chưa đề cập đến chính quyền, và vai trò của chính quyền trong sự khuyến khích và bảo vệ các hoạt động tiết kiệm và đầu tư. Vai trò của chính quyền rất quan trọng.  Chính quyền điều hòa khối lượng tiền tệ trong thị trường tiền tệ, tăng giảm lãi suất để số tiền kia không bao giờ quá thừa hay thiếu so với số hàng doanh nhân làm ra.  Trong TTCK, chính quyền thiết lập và duy trì hoạt động của nó, bảo đảm cho hoạt động của nó diễn ra trong  sự trong sáng, thanh liêm và đạo đức. 

    Vẽ lên một bức ảnh toàn cảnh cho TTCK, ta có bốn vòng tròn đồng tâm.  Tâm điểm là chính quyền.  Vòng 1 nhỏ nhất, ở trong cùng, là doanh nghiệp.  Vòng 2 là thị trường tiền tệ.  Vòng 3 là TTCK.  Và vòng 4 là công chúng.  Hai vòng làm trụ cột cho nền kinh tế của một nước là 1 và 4.  Thoạt đầu, những người ở hai vòng kia trao đổi với nhau qua vòng 2.  Phát triển hơn lên, họ trao đổi thêm với nhau qua vòng 3. 

Kỳ sau:  Bài II - Đem tiền để dành đi dầu tư

Bài II: Công chúng có tiền để dành đem đi đầu tư

Góp vốn và cho vay

    Trong xã hội con người sống với nhau, con người giúp đỡ nhau về tinh thần và trao đổi với nhau thành quả công việc của mình. Sự trao đổi tạo nên sự chuyên môn hóa, còn gọi là phân công lao động. Nhờ chuyên môn hóa con người làm ra nhiều của cải hơn là cái mà mình dùng. Vậy có dư thừa.

    Đã sống thì ai cũng lo cho ngày mai, nào mình, nào con cái, do đó, phải để dành. Ấy là tiết kiệm. Có tiền tiết kiệm thì ai cũng muốn nó sinh sôi. Và chỉ có hai cách : lấy số tiền đó đứng ra làm ăn, buôn bán ; hoặc đưa cho người khác. Người tính chuyện làm ăn lâu dài sẽ lập một cơ sở sản xuất. Đó là đầu tư. Người đầu tư, trong đa số trường hợp, bao giờ cũng được hưởng lợi tức từ số tiền đã bỏ ra. Đó là sự đền bù vì đã nhịn ăn nhịn tiêu, bỏ công sức, và chịu rủi ro kinh doanh. Mất mát càng cao thì sự đền bù càng nhiều. Những người này là doanh nhân. Lợi tức doanh nhân hưởng thường là từ 20% trở lên cho ngành sản xuất, cao hơn nữa cho ngành mua bán ; riêng ngành tài chính thường phải hơn 30%. Mức lợi tức đó được tính theo hàng năm dựa trên sự so sánh chi phí bỏ ra và doanh thu lấy về. Doanh nhân là người có óc phiêu lưu, lại được trời cho cặp mắt nhìn ra các cơ hội có thể kiếm tiền. Và vì thế họ là người tài ba. Những ai không tài ba mà cũng muốn tiền để dành sinh lãi thì - nghe lời hứa của doanh nhân - đưa tiền cho doanh nhân, gọi là hùn vốn để cuối năm được chia lời, số tiền đưa vào sẽ lấy về mươi mười năm sau khi doanh nghiệp giải thể. Đó là sự hùn vốn, hay đầu tư bằng cách góp vốn. Khi hùn vốn thì có năm không được chia gì nếu doanh nghiệp làm ăn không có lời hay họ quyết định không chia lời. Tiền chia lời do góp vốn gọi là cổ tức.

    Có nhiều người ngại cách hùn vốn. Họ muốn tiền đưa ra tháng nào cũng phải có lãi về, và bao lâu nhất định lấy lại số gốc. Do đó họ cho doanh nghiệp vay. Tiền cho vay phải có tài sản bảo đảm sẽ trả nợ. Từ đó có cách vay có tài sản thế chấp hay không. Đó là đầu tư bằng cách cho vay. Cho vay thì không sợ mất tiền nên lãi được hưởng sẽ không cao như khi góp vốn. Góp vốn hay cho doanh nghiệp vay gọi là tài trợ. Tài trợ là một sự trao đổi.

    Người đầu tư và doanh nhân là hai trụ cột cho sự phát triển kinh tế của một nước. Công chúng đưa tiền cho doanh nhân để người này làm cho sản xuất gia tăng. Nhờ sự gia tăng ấy ai cũng có công ăn việc làm, và lợi tức của nhiều người lên cao ; có lợi tức cao người ta để dành nhiều hơn khiến cho đầu tư sẽ cao hơn. Động lực cho cái vòng này là sự mong muốn được giàu có hơn và vì lo cho ngày mai. Tuy nhiên, để cho vòng quay giữa hai bên được dễ dàng, ít tốn kém và nhanh chóng thì phải có một người làm trung gian. Người trung gian đó là ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng còn gọi là hệ thống tài chính.  

Sự cần thiết của một người trung gian

    Khi công chúng là một số đông trao đổi với doanh nhân cũng là một số đông, thì cả hai bên cần đến một người trung gian. Đây là một diễn tiến tự nhiên. Trước hết, khi hai bên trao đổi thì số tiền đi về sẽ rất lớn, không ai một mình cất giữ được, đạo chích lại thăm ngay ; vậy phải có một nơi an toàn cất giữ. Một nơi nào đó cất giữ nhiều tiền của nhiều người thì - vì sự tiện lợi của cả ba - họ sẽ đứng thay mặt người này đưa tiền cho người kia. Đó là hệ quả của việc cất giữ. Có người khác đứng ra đưa tiền đi, lấy tiền về cho mình ; bớt một việc lỉnh kỉnh, nên ai cũng thích. Vậy phải trả cho nơi cất giữ và thanh toán kia một khoản tiền nhỏ cho phí dịch vụ hay tiền hoa hồng. Và nơi kia được cả hai bên nhìn nhận là trung gian. Đó là các ngân hàng thương mại. Từ hình thức này sang hình thức khác, lúc đầu chủ yếu đáp ứng đòi hỏi của khách hàng, ngân hàng đã xuất hiện trong những hình thức và khuôn khổ hoạt động khác nhau tạo nên hệ thống tài chính.

    Hệ thống tài chính sẽ phục vụ công chúng và doanh nhân trong nhiều lĩnh vực ngoài việc cất tiền và thanh toán. Thí dụ, về phía công chúng, khi cho vay hay góp vốn vào doanh nghiệp họ cần biết các thông tin. Nếu góp vốn họ phải xem doanh nghiệp làm ăn ra sao. Cho vay cũng phải biết họ trả nợ được không; có khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt nhanh chóng và ít hao hụt không ; gọi là thanh khoản liquidity. Sau đó, phải ký với doanh nghiệp hợp đồng về góp vốn, và cho vay. Công chúng không có đủ chuyên môn để làm những việc trên và phải nhờ người trung gian. Hệ thống tài chính với chuyên môn và phương tiện của mình sẽ làm thay cho công chúng. Về phía doanh nghiệp, tiền của công chúng sẽ giúp họ tạo ra sản phẩm. Nhưng khi có hàng trong tay, họ sẽ lo hàng mất, rồi giá cả có thể lên xuống. Giúp doanh nhân thoát khỏi các lo ngại này, đấy cũng là công việc của hệ thống tài chính. Hệ thống này hoạt động theo các nguyên tắc ta sẽ đề cập trong một bài tới.

    Trong bài này chúng ta chỉ ghi nhận một điểm quan trọng là tiền bạc hay là vốn để đầu tư vào nền kinh tế của một nước phải do những người tiêu thụ có một mức lợi tức cao đóng góp bằng cách đưa vào hệ thống tài chính. Động lực thúc đẩy họ là hai thứ. Một, khi giàu tự nhiên sẽ lo ngày mai, sợ nhiều thứ. Hai, khi để dành thì muốn đồng tiền sinh sôi nẩy nở. Phải có họ ở vào trạng thái và tâm trạng như thế thì công ty mới có chỗ để gọi vốn. Nhưng để làm được, thì công ty cũng phải do người tài ba nắm giữ để trả xong nợ. Công ty là một định chế đã phát triển theo một quá trình dài để làm sao gọi được nhiều vốn nhất. Và đó là đề tài của bài sau.    



Bài III: Công ty cổ phần - quá trình tích tụ vốn

Công ty cổ phần là một tổ chức có thể gom vốn của nhiều người đầu tư nhất. Quá trình hình thành của nó, khi đã được luật pháp công nhận và bảo vệ, là một quá trình của loài người tìm cách tập trung tư bản.  

Từ vốn góp của một người lên đến vốn góp của vài người

    Ông A ở một làng nọ, có gia đình. Họ hàng ông có nhiều người làm nghề mộc. Khi gặt hái trên mảnh đất cha mẹ để lại, ông ao ước sao không phải gánh gồng. Một hôm lên huyện, ông thấy cái xe cút kít tải đất. Về nhà ông chợt nảy ra sáng kiến làm xe kéo bằng gỗ. Kéo nhẹ hơn đẩy, ông nghĩ. Tính toán tiền để dành ông quyết định làm xe kéo. Dọn cái sân, mua gỗ về, sắm dụng cụ... ông sản xuất xe, và đặt tên cho cơ sở của mình là Sao Mai. Xe làm ra bán rất chạy. Khi bỏ vốn và sản xuất như ông thì cơ sở Sao Mai có hình thức gọi là làm chủ một mình sole propriety. Ở Việt Nam gọi là doanh nghiệp tư nhân.

    Xe ông làm tốt, nhưng cũng có một chiếc đang đi ngon lành thì vỡ bánh gãy càng. Người kéo xe bị gãy chân, hàng trên xe rơi xuống bùn. Chủ xe bắt ông A đền. Xe do cơ sở chế ra nhưng ông làm chủ nó cho nên ông với Sao Mai là một. Ông phải đền, và giả như vì sao đó mức đền lớn quá, tiền của Sao Mai không đủ trả, ông phải nói vợ bán chiếc nhẫn, bảo con bán cái xe. Tiền phải đền kia vượt quá số tài sản của Sao Mai và ăn luôn vào tiền của gia đình ông, nên trách nhiệm của ông được gọi là trách nhiệm vô hạn. Trách nhiệm được đặt ra vì trật tự của xã hội, ai có lỗi thì phải đền.

    Giả như chuyện đó không xảy ra, và năm sau ông A quyết định tăng số xe sản xuất. Muốn vậy phải có thêm mặt bằng và dụng cụ, nghĩa là phải có thêm vốn. Đấy là đầu tư mở rộng. Ông bèn sang rủ ông B là anh em cột chèo và C là người em rể góp vốn. Hai người kia đồng ý ngay. Họ góp vốn vào, rồi kẻ công này, người việc kia, Sao Mai làm thêm được nhiều xe. Nếu xe làm ra mà có gây tai nạn cho người dùng, thì nạn nhân có thể bắt ba ông phải chung nhau đền, nếu không tìm ra ba mà chỉ thấy có một người thôi thì người này phải gánh hết. Trách nhiệm của cả ba người vẫn là vô giới hạn. Vì có thêm người góp vốn nhưng tính trách nhiệm vẫn vô hạn nên Sao Mai biến thành một cơ sở hợp danh partnership.

    Coi như chuyện đền bồi không xảy ra, và ông em rể bỗng một hôm nêu sáng kiến thay bánh gỗ bằng bánh cao su cho nó vừa nhẹ vừa bền. Sáng kiến hay nhưng phải gọi thêm vốn để mua cao su và khuôn. Ông A bèn đến người chú ruột mời góp vốn. Ông cụ suy tính lợi hại, nghĩ đến cái trách nhiệm vô giới hạn, cụ lạnh người, sợ rằng có khi đang ở nhà mà cũng bị bắt vạ ; cụ bèn lắc đầu. Ba anh em ông A thấy lý của cụ đúng. Họ bàn với nhau và bằng lòng để ông A giao hẹn với cụ rằng, nếu cụ góp vốn nhưng không tham dự vào việc điều khiển cơ sở thì nếu có chuyện gì xảy ra, cùng lắm cụ chỉ mất số tiền đã góp mà thôi, họ sẽ không để cho ai tới nhà bắt vạ cụ. Đó là tính trách nhiệm hữu hạn dành cho người góp vốn. Ông cụ bằng lòng, chẳng những thế lại rủ hai cô con gái lẫn anh bồ của cô lớn cùng bỏ vốn vào. Bây giờ, Sao Mai có vốn nhiều hơn xưa vì có bảy người góp vốn. Ba người trực tiếp điều khiển, bốn người nữa chỉ góp vốn. Ba người trước sẽ chịu trách nhiệm vô giới hạn, còn bốn người chịu trách nhiệm giới hạn. Sao Mai bây giờ trở thành một cơ sở gọi là hợp tư limited partnership.

    Đến đây ta thấy Sao Mai đã phát triển qua ba bước. Bước sau giúp nó có vốn nhiều hơn trước vì rủ được nhiều người hơn. Vậy khi làm ăn thì nó sẽ to lên từ từ, nhưng nó phải : 1 có người có tài làm ăn hay ; 2 có nhiều người góp vốn ; 3 vốn sẽ có nhiều nếu người góp chịu trách nhiệm giới hạn. Cái thứ ba sẽ thúc đẩy cái thứ hai tạo điều kiện cho cái thứ nhất. Quá trình góp vốn là một sự suy tính lợi hại cho mình và là một sự mặt gửi vàng.



: books -> ke-toan-tai-chinh-thue
ke-toan-tai-chinh-thue -> Bài tập Kiểm toán căn bản  gv : ncs. ThS phan Thanh Hải LỜi ngõ
ke-toan-tai-chinh-thue -> GIẢI ĐỀ kiểm tra: KẾ toán thưƠng mạI ĐỀ SỐ 1: (đvt: 000đ) ok
ke-toan-tai-chinh-thue -> TÀi liệU 138 câu trắc nghiệm môn Thanh toán quốc tế (Kèm lời giải) MỤc lụC
ke-toan-tai-chinh-thue -> SƠ ĐỒ ĐỊnh khoản kế toán sơ ĐỒ KẾ toán sản xuất-giá thành sản phẩM
ke-toan-tai-chinh-thue -> A, b, c, d và đánh dấu X vào bảng trả lời Câu 1
ke-toan-tai-chinh-thue -> TRƯỜng đẠi học kinh tế luật tphcm bộ MÔn kinh tế ĐỐi ngoại môn quản trị TÀi chính công ty đa quốc gia
ke-toan-tai-chinh-thue -> Câu hỏi lý thuyết và vấn đáp môn tín dụng ngân hàng


1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   32


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương