Giải thích thuật ngữ: Chứng khoán? Môi giới? Đầu tư?



tải về 2.23 Mb.
trang19/32
Chuyển đổi dữ liệu18.08.2016
Kích2.23 Mb.
1   ...   15   16   17   18   19   20   21   22   ...   32

Trái phiếu trung hạn

Trái phiếu trung hạn T- notes được phát hành theo mệnh giá tối thiểu là 1.000USD và tối đa là 1 triệu USD, có thời gian đáo hạn từ 1 năm đến tối đa là 10 năm. T-notes được trả lãi mỗi 6 tháng một lần. Người đầu tư có thể chọn lựa cách để giữ T-notes, hoặc họ nhận các chứng chỉ trái phiếu ký danh đầy đủ fully registered certificates hoặc, nếu muốn, họ có thể thực hiện việc đăng ký sở hữu bằng bút toán ghi sổ được quản lý bằng máy điện toán book- entry form. Đặc biệt các T- notes đáo hạn dưới năm năm được ấn định mệnh giá phát hành tối thiểu là 5.000USD.

Vào thời điểm đáo hạn T- notes được hoàn trả bằng tiền mặt theo mệnh giá ghi trên trái phiếu. Chúng cũng có thể được điều chỉnh lại mức trả lãi khi lãi suất chung của thị trường xuống thấp dựa vào thể thức lập quỹ hoàn trái refunding - phát hành trái phiếu mới lãi suất thấp hơn theo quy định của luật pháp và tập quán tài chính. Trái phiếu trung hạn có thể mua tại các ngân hàng, các công ty chứng khoán hoặc có thể liên hệ trực tiếp với Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang. Các T- notes được mua bán nhộn nhịp tại các thị trường thứ cấp.

Trái phiếu dài hạn

Trái phiếu dài hạn T- bonds chiếm phần nhỏ nhất trong cơ cấu nợ huy động bằng các chứng khoán chính phủ. Trái phiêu dài hạn có thời gian đáo hạn tối thiểu là 10 năm và có thể dài đến 30 năm. T- bonds được phát hành với mệnh giá từ 1.000USD đến 100.000USD, lãi suất được trả mỗi 6 tháng một lần. Cách bán cũng giống như T- notes, theo hình thức các chứng chỉ ký danh đầy đủ cả lãi định kỳ cũng được trả bằng chi phiếu cho chính tên người chủ trái phiếu hoặc bút toán ghi sổ vẫn là loại ký danh đầy đủ.

Các T- bonds, do có thời giàn đáo hạn quá dài, thường hay được ghi thêm điều kiện thu hồi. Điều này cho phép chính phủ có thể mua lại chứng khoán đó ở mệnh giá sau một thời gian được xác định trước, ví dụ từ năm thứ 20 trở đi chẳng hạn. Thời gian này thường được cân nhắc đủ dài để tạo hấp dẫn cho việc tiếp thị phát hành đạt tính khả thi. Các chứng khoán nợ của chính phủ Mỹ luôn được thu hồi theo mệnh giá; khác với các trái phiếu công ty thường áp dụng việc thu hồi với một khoản ưu đãi premium giá cao hơn.

Trái phiếu không lãi suất loại có gốc từ trái phiếu chính phủ

Trái phiếu phi lãi suất zero coupon bonds trong "gia đình" trái phiếu chính phủ là một loại chứng khoán được sinh ra từ sản phẩm gốc là trái phiếu chính phủ, nên chúng còn được gọi là các "biên nhận trái phiếu chính phủ" Treasury receipt.

Từ năm 1985, chúng cũng còn biết đến dưới cái tên ghép STRIPS viết tắt của: Separate Trading of Registered Interest and Principal of Securities - công cụ giao dịch thứ cấp tiền lãi và tiền gốc riêng biệt, đây là một loại phái sinh trong TTCK.

Các công ty môi giới và kinh doanh chứng khoán của các T- bonds sau đó gởi vào các ngân hàng rồi bán các "receipts" tương ứng riêng cho tiền gốc và tiền lãi. Các trái phiếu phi lãi suất như vậy được bảo đảm bằng tài sản thế chấp là các trái phiếu chính phủ trong một tài khoản trung gian escrow do một ngân hàng giám hộ nắm giữ vì quyền lợi của người đầu tư mua receipts. Quá trình này được chế định bằng luật theo nội dung "ủy thác quản lý tài sản", luật Mỹ gọi là "trust".

Các trái phiếu phi lãi suất hay "biên nhận", hoặc STRIPS được mua bán dưới dạng bút toán ký danh đầy đủ. Loại chứng khoán "sản phẩm phụ" này đặt giá trị trên nền tảng là các trái quyền mà chính phủ có nghĩa vụ trả nợ trực tiếp, nên việc thực hiện phát hành và mua bán thường do các ngân hàng và các nhà kinh doanh chứng khoán lớn mới có khả năng quán xuyến. Tuy nhiều người nói rằng các chứng khoán phi lãi suất không bị lệ thuộc vào các rủi ro trực tiếp về lãi suất, vì chúng được phát hành bằng một chiết khấu khá sâu và được hoàn trái theo mệnh giá, nhưng trong trường hợp lãi suất ngoài thị trường tăng cao, người đầu tư vẫn bị rủi ro cơ hội. Đặc biệt, bản chất các trái phiếu phi lãi suất các Treasury receipts có độ biến động giá trong thị trướng thứ cấp khá lớn, nhất là các T- receipts càng dài hạn. Nếu có dịp chúng ta có thể tìm hiểu kỹ hơn về các công cụ đầu tư "zéro- coupon bonds".

Thủ tục phát hành trái phiếu mới của chính phủ

Các chứng khoán của chính phủ được miễn áp dụng theo luật chứng khoán liên bang. Việc phát hành không phải lập hồ sơ với SEC Ủy Ban Chứng Khoán và TTCK Hoa Kỳ như trường hợp trái phiếu công ty.

Các trái phiếu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn được bán thông qua các cuộc đấu giá định kỳ. Những người có ý định mua sẽ nộp các đề nghị mua tenders hay offers to buy cho Hội đồng Dự trữ Liên bang là những người đóng vai trò điều hành ngân khố Mỹ. Các tổ chức chứng khoán lớn đấu với nhau để mua chứng khoán của đợt đó theo hình thức chào giá cạnh tranh competitive tenders. Các chào giá như vậy sẽ nêu giá và/hoặc lãi suất mà tổ chức đó sẵn sàng mua chứng khoán sắp phát hành.

Như đã đề cập sơ qua trong phần trên, một cá nhân cũng có thể mua trực tiếp các trái phiếu trong các đợt phát hành đấu giá đó bằng cách tham gia một chào mua "không cạnh tranh". Tất cả những người chào mua đó đều được chấp thuận trước, mặc dù lợi suất trái phiếu yield mà họ sẽ nhận chỉ được quyết định sau khi các chào mua cạnh tranh được chấp thuận, và luôn là mức trung bình của các chào mua cạnh tranh đợt đó.

Loại trái phiếu ngắn hạn, T- bills 3 tháng, T- bills 6 tháng, được đấu giá hằng tuần, vào ngày thứ Hai, các T- bills này được phát hành ra vào ngày thứ Năm tuần đó. Loại T- bills một năm được đấu giá mỗi 4 tuần lễ một lần, và thường được tổ chức vào ngày thứ Năm, các trái phiếu sẽ được phát ra vào thứ Năm của tuần lễ kế tiếp.

Các T- notes và T- bonds được đấu giá mỗi quý theo lịch được công bố định kỳ. Như ta đã biết, các T- strips được hình thành trên thị trường giao dịch, ngân khố nhà nước không đứng ra phát hành các loại chứng khoán theo hình thức bóc tách này các STRIPS được gọi một cách hình tượng là stripped form.



Mua bán ở thị trường thứ cấp

Các chứng khoán của chính phủ không được niêm yết tại sàn giao dịch, thay vào đó chúng được mua bán trên thị trường phi tập trung OTC. Loại chứng khoán này chủ yếu được mua bán theo quy mô khối lượng lớn giữa những nhà đầu tư nhân danh tổ chức với nhau.



  • Cách đăng giá chào của T- bills:

T- bills được nêu giá dựa trên cơ sở một lợi suất chiết khấu. Lãi suất T- bill thể hiện ở phần trăm giá trị ghi trên mặt của chứng khoán đó.

Một chào giá nêu mức 3,50% chẳng hạn, có nghĩa là T- bill sẽ được bán với giá thấp hơn mệnh giá số tiền 3,50% của mệnh giá đó. Đối với một T- bill thời hạn 52 tuần mệnh giá 10.000 USD sẽ có giá bán là 9.650 USD. Trên bảng chào giá của các báo, có hai cột số quan trọng cần biết là "mức thu vào - bid" và "mức bán ra - asked" gọi theo cách của nhà buôn chứng khoán. Một chào giá của T- bill được đọc như sau: 

"Đáo hạn tháng 6, bid 3,50%, asked 3,40%"

Như vậy một người đầu tư nào đó nếu muốn đi mua một T- bill mệnh giá 10.000USD đáo hạn tháng 6, thì họ sẽ trả 9.660 USD. Còn nếu họ có T- bill đó và đem đi bán họ sẽ nhận được 9.650 USD. Điều này hợp với lẽ thường: đi mua phải chịu đắt, còn bán thì rẻ hơn.

Chúng ta cũng cần lưu ý lợi suất tương đương gọi là ask yield thực tế của T- bill luôn luôn cao hơn lợi suất chiết khấu discount yield. Ví dụ: Một T- bill 52 tuần 7% với mệnh giá 10.000 USD được mua với giá 9.300 USD. Tiền lãi 700 USD 7% của 10.000 USD đối với người đầu tư phải được hiểu là thu nhập dựa trên vốn thực sự bỏ ra, chỉ 9.300 USD thôi, chứ không phải trên 10.000 USD. Như vậy ask yield sẽ là 7,50% 700 chia cho 9.300. "Ask yield" được để kế bên mức "asked" để người đầu tư tiện so sánh với lãi suất của T- notes va T- bonds hoặc các chứng khoán nợ khác


  • Cách chào giá của T- notes và T- bonds:

Khác với T- bill, các T- notes và T- bonds được chào trên cơ sở giá tiền, nhưng theo một cách đặc biệt. Giá được chào bán bằng điểm point - một điểm của trái phiếu T- note và T- bond là 10USD 1% của mệnh giá 1.000 - cộng với phần lẻ của một điểm được chia đều cho 32 1/32 của 10 USD hay 1/32% củamệnh giá.

Các T-notes và T-bonds được nêu trên cùng một bảng chào giá. Nhưng để phân biệt, người ta thêm vào ký tự "n" ngay sau thời gian đáo hạn để chỉ loại đó là T-notes. Các bảng thông tin chào giá gồm 5 cột được đăng thường xuyên trên các báo chuyên ngành. Ta có thể khảo sát hai dòng đặc trưng dưới đây của 5 cột đó để xem chúng thông tin những gì? 



1

2

3

4

5

Rate

Maturity

Bid

Asked

Change

Ask Yield

91/8

77/8


May 99n

Feb 95 - 00



101 : 24

93 : 26


101 : 28

93 : 30


- 35

- 34


8,81

8,88


- Cột 1 chỉ lãi suất của trái phiếu. Ví dụ "91/8" có nghĩa là 9,125% của 1.000 USD, mỗi năm trái phiếu này cho lãi 91,25 USD.

- Cột 2 chỉ thời gian đáo hạn tháng và năm. Chữ "n" nằm kế 99 cho biết đó là trái phiếu trung hạn "T- note". Theo ví dụ được trích trên đây "May 99n" được hiểu là T- note đáo hạn vào tháng Năm năm 1999.

Một số T- bond trái phiếu dài hạn, trên 10 năm có mang đặc tính có thể được thu hồi lại callable. Trường hợp này trên chào giá sẽ ghi hai niên hạn, niên hạn để trước là năm khả năng thu hồi bắt đầu có hiệu lực và niên hạn ghi sau là năm trái phiếu đáo hạn. Ta lưu ý vào dòng thứ hai của ví dụ trên, ở cột 2, có ghi "Feb 95-00" có nghĩa là T- bonds đáo hạn vào năm 2000, loại có thể thu hồi lại vào tháng Hai năm 1995 trở đi từ 1995 ~ 2000 có thể được thu hồi hoặc không.

- Cột 3 chỉ giá thu vào "bid" và giá bán ra "asked" dựa trên căn bản điểm của trái phiếu hay phần trăm của mệnh giả . Phần số bên phải của dấu hai chấm đại diện cho các nấc giá 1/23 của một điểm trái phiếu 1/32 của 10 USD. Chẳng hạn 101:24 nghĩa là 1.0124/32. Do đó mà giá thu vào của trái phiếu là 10124/32% của mệnh giá 1.000USD tức 1.017,50 USD một trái phiếu.

- Cột 4 chỉ sự thay đổi của giá thu vào của ngày hiện tại so với ngày báo giá kế trước, các số ghi là số nấc 1/32 của một điểm trái phiếu. Ví dụ "- 35" như trên có nghĩa là giá đã giảm đi 35/2 hay 13/32 so với giá thu vào ngày trước đó.

- Cột 5 Asked Yield chỉ lợi suất tương đương mà trái phiếu thực tế nhận được so với tiền mà người đầu tư phải bỏ ra mua tính đến ngày đáo hạn gọi là Yield- to- maturity- YTM. Trong ví dụ trên ta thấy lãi suất tương đương "ask yield" là 8,81 nhỏ hơn lãi suất ghi trên mặt của trái phiếu "rate" 91/8, lý do là vì T- note đã có giá cao hơn mệnh giá người đầu tư phải trả 101:28 hay 1018,75 chứ không phải với 1.000. Người đầu tư đã bỏ ra một số tiền cao hơn nhưng mỗi năm cũng chỉ nhận được tiền lãi y như cũ, do đó trong thực tế tiền lãi họ nhận được có một lợi suất thấp hơn.

Việc chẻ nhỏ các điểm trái phiếu 1/32 trong thị trường chứng khoán và 1/64 trong thị trường futures và options có một ý nghĩa đặc biệt trong khoa học chứng khoán. Nó vừa có công dụng chuẩn hoá theo yêu cầu thông tin, vừa tạo một phần giá trị lẻ thực dụng và hợp lý trong giao dịch, nhất là các giao dịch số lượng lớn. Ngoài ra, phần lẻ như vậy cũng tạo điều kiện cho sự mặc cả, làm cho mua bán dễ xảy ra hơn. Mua bán nhiều hơn cũng có nghĩa là thị trường càng có khả năng thanh khoản: đây là mục đích gần của TTCK.

Để giúp người quan tâm có thêm thông tin, ta cũng nên lưu ý quy ước về số ngày trong năm khi tính toán tiền lời đối với trái phiếu của Mỹ, nhất là khi tính các giá trị lãi tích được accrued interest giữa hai kỳ trả lãi. Các trái phiếu công ty, trái phiếu đô thị T- bills được tính theo năm tròn 360 ngày hay 30 ngày một tháng. Các T- notes và T- bonds được tính theo ngày thực tế theo dương lịch và một năm có cơ sở là 365 ngày. Đây là căn cứ xác định rất hữu ích khi tính toán phần lãi bằng tiền mà người mua trái phiếu phải trả cho người bán trái phiếu cho tới ngày chuyển quyền sở hữu.

Một thực tế có tính truyền thống là thị trường trái phiếu luôn luôn lớn hơn và lớn hơn nhiều lần thị trường cổ phiếu. Đặc biệt tại các thị trường chứng khoán mới hình thành, lượng mua bán chứng khoán nợ chiếm một tỷ trọng rất cao. Tuy nhiên điều đó chỉ hiện thực khi nào thị trường đã có một cơ chế các lãi suất được hiệu chỉnh theo cung cầu, gọi là các lãi suất thị trường interest rates. Lãi suất thị trường sẽ cảm biến khi thị trường tiền tệ đã hoạt động nhịp nhàng, nhà nước có khả năng can thiệp hiệu quả bằng lãi suất hoạt động phát hành trái phiếu chính phủ được thực hiện theo những kỹ thuật và thông lệ có tính cạnh tranh…

Các trái phiếu chính phủ còn được xem là "vật liệu hạ tầng" rất quan trọng đối với các tổ chức, các nhà quản lý tài chính, huy động vốn đầu tư, nhất là các nhà điều hành quỹ đầu tư và ngân hàng. Bằng các nghiệp vụ giao dịch, mua bán trong các thị trường, họ sử dụng các sản phẩm này để phòng ngừa rủi ro hoặc bảo tồn giá trị. Chẳng hạn, một đợt huy động vốn kéo dài nếu không tính tới việc bù đắp nghĩa vụ trả lãi phát sinh, trong thời gian chưa đưa được tiền đó vào vòng quay, có thể đưa đến thiệt hại nghiêm trọng, làm cụt vốn theo kế hoạch, đó là chưa nói tác hại của lạm phát.

Những năm gần đây, do sự biến động về lãi suất thị trường, người ta có khuynh hướng phát hành các trái phiếu ngắn hạn hơn. Ở Mỹ chẳng hạn, lượng T- bills tăng lên và T- bonds giảm xuống. Về tỷ trọng sở hữu của người nước ngoài đối với trái phiếu kho bạc Mỹ cũng tăng lên. Một thống kê thị trường Mỹ vào khoảng năm 1990 cho thấy cơ cấu sở hữu chứng khoán kho bạc "T" như sau: có 75% là các tổ chức, khoảng 12% là các cá nhân và 13% sở hữu thuộc các nước khác nằm ngoài nước Mỹ. Bách phân sau cùng này nay chắc đã lớn hơn nhiều và biết đâu sắp tới sẽ có cả Việt Nam. Cũng trong thời gian đó, lượng trái phiếu trung hạn T- notes đang lưu hành chiếm khoảng 56% tổng lượng chứng khoán kho bạc của chính phủ. Điều này có thể giúp khẳng định thêm rằng khuynh hướng tiếp thị các loại trái phiếu trung hạn tại Việt Nam sẽ có tính hợp thời và khả thi hơn.

Chứng khoán trung gian chính phủ

Phát xuất từ kinh nghiệm hoạch định vĩ mô và yêu cầu về điều hoà hoạt động kinh tế xã hội, ngoài các chính sách "co dãn" tiền tệ thông qua một số can thiệp truyền thống và việc điều hành nợ của chính phủ với các hình thức T- bills, T- notes, T- bonds,… chính phủ Mỹ còn sử dụng một công cụ đệm rất hiệu quả và nổi tiếng bằng cách sử dụng lợi thế về uy tín của nhà nước để tạo ra dòng luân chuyển tài chính linh động và tích cực đó là các chứng khoán nợ do các tổ chức trung gian của chính phủ Govemment agencies phát hành và quản lý. 

Các tổ chức trung gian, về mặt kỹ thuật, không phải là các cơ quan chính phủ, nhưng đó là những cánh tay đắc lực thay mặt chính phủ thực hiện những đường lối điều tiết hoặc bảo trợ xã hội cần thiết cho từng giai đoạn và yêu cầu của từng lãnh vực với độ đậm nhạt khác nhau. Quá trình đó hoàn toàn dựa trên các tác nghiệp kinh tế, chứ không phải là hoạt động nhân đạo hay nghĩa vụ thuần tuý. Nói chung, các tổ chức này là những công cụ gắn chặt vào chính phủ, hoạt động và tồn tại độc lập nhưng với sự bọc lót của chính phủ để loại trừ rủi ro, và đây chính là ân huệ then chốt của vấn đề. Có thể phân ra hai loại tổ chức như vậy. 

Loại thứ nhất là tổ chức trung gian được chính phủ bảo trợ Federally sponsored agencies. Loại này có đặc tính là các tổ chức có nguồn vốn sở hữu tư và được thuê phục vụ cho công ích. Chính phủ Mỹ tạo ra các thực thể này nhằm giúp một số thành phần dân cư quan trọng nào đó trong nền kinh tế có nhu cầu muốn giảm khó khăn về chi phí vay mượn để cải thiện cuộc sống hoặc giải quyết bức xúc về giáo dục của họ. Những người hưởng lợi từ các tổ chức này cụ thể tập trung vào ba khu vực chính là sinh viên, chủ trang trại, và những người muốn làm chủ một căn nhà cho mình. 

Tổ chức trung gian phát hành chứng khoán của mình thông qua một nhóm bán selling group gồm các công ty kinh doanh chứng khoán. Tiền thu được của đợt phát hành sẽ được cho một ngân hàng hoặc một định chế có chức năng khác vay. Sau đó, ngân hàng cho các cá nhân đang tìm tài trợ thành phần đã kể trên vay lại. 

Những chứng khoán của tổ chức trung gian được chính phủ bảo trợ là loại không được chính phủ bảo đảm. Tuy vậy, bản chất bảo trợ của chính phủ đối với các tổ chức cho ta giả định rằng lẽ nào chính phủ lại để các tổ chức làm "nhiệm vụ chính trị" đó lâm vào bế tắc!? Những tổ chức được bảo trợ hiện nay ở Mỹ điển hình như:

Các Ngân Hàng Tín Dụng Nông Nghiệp Liên Bang FFCB

Hiệp Hội Để Đương Nhà Nước Liên Bang FNMA

Các Ngân Hàng Cho Vay Mua Nhà FHLB

Chức Để Đương Cho Vay Mua Nhà FHLMC

Hiệp Hội Tài Trợ Sinh Viên SLMA

Loại thứ hai là loại tổ chức trung gian trực thuộc liên bang Federal agencies. Tổ chức trung gian trực thuộc liên bang có liên hệ ràng buộc trực tiếp với chính phủ Mỹ. Các trung gian này thông thường được bọc lót với sự bảo đảm bằng quyền năng về tài chánh của chính phủ full faith & credit - gồm quyền hành xử tiền thuế và vay mượn cộng với nguồn huy động khác ngoài thuế trong việc trả vốn gốc và tiền lãi đối với trái phiếu đã phát hành. Trái phiếu của các tổ chức trung gian loại này điển hình có Ngân Hàng Xuất Nhập Khẩu Mỹ EXIMBANK và Hiệp hội Để đương Quốc gia trực thuộc Chính phủ GNMA. Các chứng khoán loại GNMA ở Mỹ được gọi phổ biến theo ngữ âm đọc tắt là Ginnie Mae. 

Ginnie Mae là loại chứng khoán trung gian có độ an toàn cao nhất và rất được ưa chuộng. Tại Mỹ, đây là loại chứng khoán điển hình đáp ứng tốt nhất yêu cầu đầu tư dài hạn. Những người muốn có một khoản thu nhập đều đặn trong tương lai thì đây là kênh đầu tư hấp dẫn. Những khoản thu nhập đó có thể trang trải chi dùng hoặc được sử dụng uyển chuyển để tái đầu tư. Đó là tập hợp của một chuỗi giá trị trong tương lai đối với một khoản đầu tư hiện tại. Khoản đầu tư sẽ tích lãi kép và cho đến thời điểm "thu hoạch" theo thoả thuận, mỗi tháng, người đầu tư nhận được một đợt tiền mặt gồm cả vốn lẫn lãi, và đều đều như vậy cho đến khoản trả cuối cùng, tiền gốc principal lúc đó cũng bằng zéro - ở những khoản trả cuối cùng, tiền gốc tiệm cận đến zéro - Do đó ta dễ thấy cách đầu tư này khác biệt rất cơ bản so với T- notes hoặc T- bonds. Các Ginnie Mae cũng có thể mua đi bán lại tại các thị trường thứ cấp. GNMA trả lãi cao hơn các chứng khoán kho bạc "T" tương ứng về thời gian đáo hạn. Việc trả lãi và gốc cũng được bảo đảm đúng hạn vì được bảo kê bởi chính phủ liên bang. Mệnh giá nhỏ nhất của một Ginnie Mae hiện nay là 25.000 USD. 

Một cách tổng quát, các chứng khoán trung gian có lãi suất tương đương cao hơn các trái phiếu trực tiếp của chính phủ T- bill, T- note, T- bong nhưng lại thấp hơn lãi nhận được từ các chứng khoán nợ của công ty. Thời gian đáo hạn của các chứng khoán trung gian thay đổi từ rất ngắn hạn cho đến tương đối dài hạn. Việc chào bán áp dụng theo một bách phân trên mệnh giá và được mua đi bán lại trước ngày đáo hạn. 

Chứng khoán trung gian được bảo kê theo một số cách như: 1 bằng thế chấp tiền mặt, trái phiếu của chính phủ và các chứng khoán nợ; 2 bằng sự bảo đảm của Kho bạc Nhà nước; 3 bằng đặc quyền được vay tiền kho bạc dành cho tổ chức trung gian, hoặc trong một số ít trường hợp 4 bằng quyền năng về tài chính của chính phủ full faith & credit. 

Tại Mỹ, người ta gọi loại chứng khoán này bằng vài cách tương tự nhau: agencies, agency issues, agency securities. Ta có thể tạm dùng là "chứng khoán tổ chức trung gian" hoặc "chứng khoán trung gian". 

Ngoài các ý nghĩa về kinh tế xã hội thuộc phạm vi điều tiết vĩ mô của nhà nước, về phương diện kỹ thuật, nó loại bỏ cách cho vay tài trợ đơn điệu, loại bỏ sự ỷ lại có thể có của đối tượng mục tiêu được hưởng lợi, đồng thời tạo ra một không gian kinh tế tương tác thể hiện trong cách thu xếp để các nghiệp vụ chuyển hoá theo một logic cộng sinh. 

Trong quá trình thực hiện các chính sách xã hội như vậy, nhà nước đóng vai trò là tác nhân bảo kê cao nhất, những người đi vay là diện hưởng lợi từ chính sách. Nhưng không đơn thuần chỉ có hai nhân vật chính này. Nhà nước, chỉ với uy tín của mình đã có thể tạo ra một trung gian thu hút vốn và hình thành thêm một kênh đầu tư hấp dẫn, thuận tiện và an toàn cao, lại hợp khẩu vị của thị trường. 

Chính những thứ này làm cho những người có tiền sẽ thực hiện đầu tư theo đường lối bảo thủ với lãi suất không cần cao lắm vào các chứng khoán diện nhà nước. Điều đó mặc nhiên nuôi dưỡng và phục vụ cho chính sách của nhà nước, cụ thể hoá các chính sách thành một hiện thực đầy tính thuyết phục. Nhà nước không cần trực tiếp bỏ tiền hoặc nhảy vào sự vụ. Quá trình đó còn có sự tham gia của nhiều công ty hoặc định chế công ích, tài chính, ngân hàng, và tạo được sự tương tác loang rộng, tồn tại theo nhịp độ của thị trường.

Trái phiếu đô thị

Có thể đã hơn một lần ta được nghe nhắc đến trái phiếu đô thị, hoặc đâu đó người ta đề cập đến loại trái phiếu công trình, ... Điều này cho thấy rằng đây là một công cụ huy động tài chính không xa lạ lắm, hoặc có thể nói sẽ không còn xa lạ nữa đối với đời sống kinh tế Việt Nam. Để có một sự hiểu biết đầy đủ và không bị sai lệch, làm cơ sở tham khảo về trái phiếu đô thị, ta sẽ chọn nguồn tiếp cận có gốc gác khai sinh và đã phát triển hiệu quả thành khuôn mẫu chuyên nghiệp, được khái quát và đúc kết thành những quy chuẩn chung có ý nghĩa ngành, chứ không còn là của riêng nước Mỹ. 

Về mặt chất lượng, trái phiếu đô thị municipal bonds thuộc loại có niềm tin cao nhất. Ở Mỹ, chứng chỉ đứng sau trái phiếu chính phủ và trái phiếu trung gian chính phủ các agencies. Chứng khoán đô thị chủ yếu được các cấp chính quyền trực thuộc chính phủ phát hành và quản lý với sự cho phép bằng những khung quy định cụ thể của chính phủ. Ở Mỹ, đó là các lãnh thổ, tiểu bang và các cơ quan thuế được phân quyền hợp pháp. Những nội dung phải làm rõ trong một đợt phát hành gồm có:

- Xác định các điều kiện về món nợ của trái phiếu và lịch hoàn trả.

- Chứng minh năng lực phát hành hợp pháp của cấp chính quyền phát hành trái phiếu.

- Liệt kê những đặc điểm cụ thể của đợt phát hành.

- Trình bày dự trù sử dụng tiền vay.

- Cung cấp thông tin tài chính về tình hình sức khoẻ kinh tế đối với địa phương và cộng đồng.  



CÁC THỦ TỤC ĐĂNG KÝ CHỨNG KHOÁN ĐÔ THỊ  

  • Hợp đồng trái phiếu bond contract:

Đây là hợp đồng mà một địa phương phát hành sẽ tham gia ký kết với những người bảo lãnh bao tiêu hoặc những người đầu tư vào trái phiếu đó thường là những nhà đầu tư lớn thương lượng mua trực tiếp. 

  • Nghị quyết phát hành trái phiếu bond resolution:

Các chính quyền địa phương phát hành và bán trái phiếu đô thị dựa trên cơ sở một quyết định thừa nhận công khai đợt phát hành của mình. Nghị quyết phát hành trái phiếu thể hiện ý chí và trách nhiệm của địa phương đối với nghĩa vụ vay nợ thông qua hình thức trái phiếu đô thị. 

  • Hợp đồng trách nhiệm:

Tất cả các đợt phát hành trái phiếu nói chung đều phải có một đại diện đứng ra bảo vệ quyền lợi cho người mua trái phiếu. Các đại diện được uỷ nhiệm đó, được gọi là các "trustee", sẽ thay mặt người đầu tư trái phiếu ký với chủ thể phát hành issuer một giao ước trách nhiệm trust indenture để theo dõi một đợt trái phiếu trong suốt thời gian chúng còn hiệu lực. 

  • Báo cáo phát hành OS - Offlcial Statement:

Báo cáo phát hành được sử dụng trong hoạt động chứng khoán đô thị để thông tin công khai một cách chính thức và đầy đủ các chi tiết liên quan đến một đợt phát hành trái phiếu mà chính quyền địa

phương đang muốn huy động và sẽ chịu trách nhiệm trực tiếp. Một báo cáo phát hành như vậy có giá trị tương đương với một bản cáo bạch prospectus dùng trong phát hành chứng khoán doanh nghiệp.



  • Báo cáo phát hành thăm dò preliminary OS:

Giống như một cáo bạch thăm dò preliminary prospectus, báo cáo phát hành thăm dò cũng công khai nội dung các thông tin về đợt phát hành giống như trong báo cáo phát hành chính thức để đo

lường mức độ đón nhận của quần chúng và thị trường đối với đợt phát hành đó, ngoại trừ yếu tố lãi suất và giá của trái phiếu được chào bán là chưa có. 



  • Ý kiến về pháp lý legal opinion:

Ý kiến này xác định trái phiếu phát hành là phù hợp với các luật lệ hiệu lực hiện hành, quy định về quyền hạn của địa phương và các thủ tục nền tảng. Ý kiến về pháp lý được một hãng tư vấn pháp luật có chuyên môn về trái phiếu xác nhận và có giá trị tương tự như một xác nhận về kiểm toán đối với doanh nghiệp. 

: books -> ke-toan-tai-chinh-thue
ke-toan-tai-chinh-thue -> Bài tập Kiểm toán căn bản  gv : ncs. ThS phan Thanh Hải LỜi ngõ
ke-toan-tai-chinh-thue -> GIẢI ĐỀ kiểm tra: KẾ toán thưƠng mạI ĐỀ SỐ 1: (đvt: 000đ) ok
ke-toan-tai-chinh-thue -> TÀi liệU 138 câu trắc nghiệm môn Thanh toán quốc tế (Kèm lời giải) MỤc lụC
ke-toan-tai-chinh-thue -> SƠ ĐỒ ĐỊnh khoản kế toán sơ ĐỒ KẾ toán sản xuất-giá thành sản phẩM
ke-toan-tai-chinh-thue -> A, b, c, d và đánh dấu X vào bảng trả lời Câu 1
ke-toan-tai-chinh-thue -> TRƯỜng đẠi học kinh tế luật tphcm bộ MÔn kinh tế ĐỐi ngoại môn quản trị TÀi chính công ty đa quốc gia
ke-toan-tai-chinh-thue -> Câu hỏi lý thuyết và vấn đáp môn tín dụng ngân hàng


1   ...   15   16   17   18   19   20   21   22   ...   32


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương