Giải thích thuật ngữ: Chứng khoán? Môi giới? Đầu tư?



tải về 2.23 Mb.
trang13/32
Chuyển đổi dữ liệu18.08.2016
Kích2.23 Mb.
1   ...   9   10   11   12   13   14   15   16   ...   32

Thứ hai, dù giá có xuống thì các công ty phát hành cũng không phải chịu một mối đe doạ nào từ bên ngoài. Trong tổng số cổ đông của các công ty niêm yết thì số nắm chặt chứng khoán chiếm đa số. Họ là "đa số thầm lặng". Chỉ có khoảng vài ngàn người giao dịch trên TTCK để kiếm chênh lệch. Bao lâu "đa số thầm lặng" vẫn nắm chắc cổ phiếu thì già chứng khoán của công ty liên quan sẽ xuống chậm, chưa kể đến biên độ giá đã được ấn định. Chỉ khi nào giá trên thị trường xuống đến mức xấp xỉ giá bán lúc phát hành lần đầu thì bấy giờ các công ty phát hành mới bị ảnh hưởng. Họ phải xem lại hiệu quả kinh doanh của mình. Môi hở rồi, răng sắp lạnh đấy.

Ở các nước khác khi giá chứng khoán của một công ty xuống nhiều thì có những người gọi là "săn mồi" predator - là những tài phiệt – đi vay tiền để mua chứng khoán của công ty ấy ngay. Nếu người sau nắm khoảng 30% vốn thì theo bản điều lệ công ty họ sẽ tổ chức đại hội cổ đông, vào nắm hội đồng quản trị và thay đổi ban giám đốc, tức là công ty kia bị rơi vào tay người khác và có khi bị "xả thịt". Tay săn mồi có thể đi vay tiền nữa để mua chứng khoán của các cổ đông còn lại với giá đang xuống trên thị trường, và những người này sẵn sàng bán vì không biết ban giám đốc mới ra sao. Chuyện mua này có thể diễn ra trước hay sau khi mở đại hội cổ đông. Khi chiếm đa số phiếu bầu, người chủ mới rút công ty ra khỏi TTCK. Họ đổi nó từ một đơn vị huy động vốn từ công chúng thành huy động riêng tư; sau đó họ bèn chia công ty theo các bộ phận, cái nào bán được giá, cái lỗ và bán từng bộ phận đi. Trả nợ vay, lấy lời đậm. Y như người đồ tể mỗ con lợn chạy dịch bán nó vậy. Công ty một thời oanh liệt nay nát tan.

Tất nhiên trước nguy cơ đó ban giám đốc hiện thời cũng có cách đối phó. Thành ra có cách vay tiền để mua công ty leveraged buyout - hay LBO của tài phiệt và có cách đối phó của ban giám đốc hiện thời gọi là người quản lý mua lại management buyout - hay MBO. Ở ta chắc chắn chuyện LBO không xảy ra vì không có ai là tài phiệt, thị trường tiền tệ không có khả năng tài trợ, và chính quyền sẽ không cho phép. Vì thế, công ty có chứng khoán xuống giá sẽ chẳng bị trầy trụa gì. Chúng ta thường nghe nói TTCK sẽ thúc đẩy hiệu quả hoạt động của công ty; ở ta chưa hoàn toàn có việc đó. 

Giá chứng khoán xuống mãi, không ai còn tiền mua vào sẽ làm thị trường tài chính sụp đổ. Tiền bạc cho đầu tư lâu dài bị thiếu. Nhiều người giàu mất tiền. Nhiều cơ sở xã hội mất tài trợ. Mối nguy là thế. Ở ta, kinh tế phát triển đều đều mỗi năm, chính trị ổn định, giá cả chứng khoán có lên hay xuống như hiện nay chưa ảnh hưởng đến nền kinh tế. Không lo là vì vậy. Còn buồn thì có và cho những nhà đầu tư mà bây giờ có người phải học lại bài học ngàn xưa "chọn mặt gửi vàng". Như là nhân tố chính của TTCK, họ sẽ tác động lên công ty niêm yết, nơi đây tác động lại vào CQTQ, từ từ ta có TTCK đúng nghĩa. Người đầu tư đang trả giá cho sự hình thành TTCK thật sự.



TTCK suy giảm: Xin đừng đổ lỗi cho các nhà đầu tư

Tiến sỹ Vũ Bằng, Phó Chủ tịch Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước UBCKNN, cho rằng Giá trị nội tại của các doanh nghiệp niêm yết hiện tại tương đương với giá trên thị trường. Một số cổ phiếu có mức giá tương đối hấp dẫn để có thể đầu tư mua vào.


      Tuy nhiên, trong phiên giao dịch ngày 24/9 tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh TTGDCK Thành phố Hồ Chí Minh, chỉ số chứng khoán VN-Index đã giảm xuống còn 179,93 điểm. Đây là mức thấp nhất của VN-Index trong vòng 18 tháng qua. Giải thích về sự sụt giảm trên, ông Vũ Bằng cho rằng, nguyên nhân khiến giá chứng khoán giảm trong thời gian qua là do tâm lý của nhà đầu tư.
      Nhưng nhiều nhà đầu tư cho rằng, cũng như mối quan hệ giữa 2 phạm trù vật chất và ý thức, tâm lý của nhà đầu tư là cái hình thành sau và chịu tác động bởi nhiều yếu tố, trong đó có các chính sách của UBCKNN đối với thị trường. Việc giảm giá cổ phiếu trong thời gian qua là do các nhà đầu tư mất niềm tin vào thị trường, mà cụ thể ở đây là việc không minh bạch trong việc công bố thông tin của các công ty niêm yết và của bản thân cơ quan quản lý Nhà nước đối với thị trường chứng khoán.
      Kinh doanh chưa có hiệu quả
      Theo thống kê của UBCKNN, trong 4 phiên đầu tháng 9, giá trị giao dịch bình quân của toàn thị trường chỉ đạt hơn 2 tỷ đồng/phiên, giảm 55,81% so với tuần giao dịch trước đó, riêng phiên thứ 370, tổng giá trị giao dịch trên sàn chỉ đạt 1,912 tỷ đồng. Trong khi đó, 2 năm qua, giá trị giao dịch chứng khoán bình quân lên tới khoảng 5,2 tỷ đồng/phiên.
      Cùng với tình trạng giá trị giao dịch giảm, hiện tượng nhà đầu tư rút vốn ra khỏi thị trường đang có xu hướng gia tăng. Đây là hiện tượng đã từng xảy ra trong các tháng giữa năm khi cơn sốt bất động sản lên đến đỉnh điểm.
      Theo các chuyên gia phân tích chứng khoán, nguyên nhân dẫn đến tình trạng các nhà đầu tư rút vốn là vì họ không biết làm thế nào để kinh doanh có hiệu quả tại thời điểm này.
      Số liệu thống kê của một số loại cổ phiếu đang được nhà đầu tư đánh giá cao trong 8 tháng đầu năm cho thấy, REE chỉ có 3 tháng chênh lệch giữa giá mở cửa phiên đầu tháng với giá đóng cửa phiên cuối tháng là số dương, SAM có 4 tháng chênh lệch số dương. Nhưng số cổ phiếu có chênh lệch dương như SAM và REE không nhiều. Nhiều cổ phiếu khác như BBC, SGH đã liên tục giảm giá, thậm chí còn giảm xuống thấp hơn giá giao dịch trong phiên đầu.
      Riêng tháng 7, tháng mà lượng giao dịch của các nhà đầu tư nước ngoài và giao dịch thoả thuận tăng đột biến do các công ty niêm yết công bố những thông tin khả quan, chỉ có cổ phiếu SAM và GMD tăng giá, còn lại 15 cổ phiếu khác đều đồng loạt giảm giá. Trong 23 phiên giao dịch của tháng 7, chỉ có duy nhất phiên giao dịch ngày 30/7 không có cổ phiếu nào sụt giá. Các cổ phiếu có mức giảm giá mạnh trong tháng 7 gồm SAV giảm 12,7%, BT6 giảm 9,9%, DPC giảm 8%, HAP giảm 6,4%Ă
      Một hiệu ứng tiêu cực của tình trạng giảm giá cổ phiếu là tính thanh khoản của nhiều cổ phiếu suy giảm đáng kể. Số lượng cổ phiếu bổ sung vào danh sách các cổ phiếu có tính thanh khoản kém trên thị trường theo đánh giá của các công ty chứng khoán ngày càng tăng lên.
      Trong điều kiện như vậy, nhà đầu tư phải gánh chịu một khoản thua lỗ khá lớn do giá cổ phiếu giảm và chi phí cơ hội tăng.
      Một số nhân viên tư vấn chứng khoán cho rằng, điều họ có thể cho các nhà đầu tư hiện nay là giảm thiểu số lỗ cho khách hàng, chứ khó có thể tạo ra lợi nhuận.
      Nhà đầu tư mất niềm tin
      Đến tháng 7, số tài khoản giao dịch chứng khoán cả khách hàng được mở tại các công ty chứng khoán là gần 12.000, trong đó có 91 tài khoản của nhà đầu tư có tổ chức và 33 tài khoản của nhà đầu tư nước ngoài. Trong 20 ngày khủng hoảng trong tháng 9, mặc dù giá chứng khoán giảm nhưng số lượng tài khoản tăng thêm 10% so với năm 2001.
      Nếu đơn thuần chỉ nhìn con số thống kê, có thể thấy, số lượng nhà đầu tư tham gia vào thị trường đã tăng mạnh trong 1 năm qua. Tuy nhiên, số tài khoản tăng phần lớn nhờ việc tăng số lượng các công ty niêm yết tại TTGDCK Thành phố Hồ Chí Minh. Nhiều cổ đông của các công ty niêm yết này chưa sẵn sàng hoặc không muốn tham gia vào thị trường. Họ chỉ giao dịch một vài phiên đầu hoặc thậm chí, không có giao dịch.
      Nguyên nhân sâu xa của việc nhà đầu tư tham gia hạn chế vào thị trường đó chính là sự suy giảm lòng tin của công chúng đầu tư vào thị trường. Sự suy giảm lòng tin này bắt nguồn từ những can thiệp không đúng thời điểm bằng các giải pháp hành chính vào thị trường của các nhà quản lý như thay đổi biên độ dao động giá chứng khoán, thay đổi giới hạn khối lượng cổ phiếu đặt mua trong một phiên, không được đặt mua, đặt bán một loại cổ phiếu trong một phiên..., và nhất là kế hoạch yêu cầu nhà đầu tư nắm giữ cổ phiếu trong thời gian tối thiểu 90 ngày.
      Theo các nhà đầu tư, việc UBCKNN, TTGDCK Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều công ty niêm yết không minh bạch trong việc công bố thông tin cũng gây ảnh hưởng không tốt tới tâm lý nhà đầu tư. Trong nhiều trường hợp, UBCKNN và TTGDCK Thành phố Hồ Chí Minh vẫn tỏ ra nương tay với các công ty niêm yết không thực hiện đúng quy chế công bố thông tin, bởi ngay UBCKNN và TTGDCK Thành phố Hồ Chí Minh cũng vi phạm quy chế này.
      Mặt khác, theo giấy phép kinh doanh do UBCKNN cấp, hầu hết các công ty chứng khoán hiện đều có nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán. Tuy nhiên, đến nay, các công ty chứng khoán vẫn chưa coi trọng nghiệp vụ tư vấn nhằm định hướng cho các nhà đầu tư.
      Thời điểm đầu tư tốt nhất
      Mặc dù giá nhiều cổ phiếu liên tục giảm và hiện tượng nhà đầu tư rút vốn ra khỏi thị trường đang có xu hướng gia tăng nhưng một số nhà đầu tư cho rằng, đây là thời điểm tốt nhất để đầu tư.
      Theo ông Trần Thanh Tân, Giám đốc phụ trách đầu tư của Dragon Capital, có 3 lý do để mua cổ phiếu tại thời điểm hiện nay. Thứ nhất, các công ty niêm yết trên thị trường là những đơn vị có tình hình kinh doanh và quản trị tốt. Thứ hai, giá cổ phiếu đang xuống ở mức an toàn và hấp dẫn. Thứ ba, mức cổ tức được đa số các công ty cam kết trả cho cổ đông trong năm nay cao hơn lãi suất ngân hàng. Đó là chưa kể đầu tư chứng khoán thì không bị trượt giá như gửi tiết kiệm, cổ đông được hưởng chênh lệch giá và các giá trị khác tăng lên từ quá trình đầu tư hoặc tái cấu trúc công ty.
      Xuất phát từ quan điểm trên, trong khi các nhà đầu tư trong nước đang chùng lại, các giao dịch của nhà đầu tư nước ngoài lại diễn ra khá sôi động. Chỉ tính riêng tháng 7, tổng khối lượng chứng khoán được các nhà đầu tư nước ngoài mua vào lên tới 784.100 chứng khoán, với tổng giá trị 22 tỷ đồng.
      Nhiều chuyên gia phân tích chứng khoán cho rằng, những động thái của nhà đầu tư nước ngoài trong thời gian qua là điều đáng để các nhà đầu tư trong nước có cái nhìn sâu hơn về giá trị thực của các cổ phiếu cũng như tổng quan tình hình thị trường, bởi không phải ngẫu nhiên khi trong lúc thị trường đang đi theo chiều hướng giảm giao dịch, các nhà đầu tư lại tăng dần khối lượng chứng khoán sở hữu.
      Các chuyên gia chứng khoán cho rằng thị trường hiện tại chỉ phù hợp với các nhà đầu tư dài hạn hoặc các nhà đầu tư có tổ chức. Các nhà đầu tư khác vẫn có khả năng thu lời trong ngắn hạn nếu chọn đúng thời điểm mua, bán cổ phiếu.

Cân bằng tự động

Sau một thời gian hăm hở ban đầu, hiện nay số lượng người quan tâm đến thị trường chứng khoán Việt Nam ngày càng ít dần đi. Một trong nhiều nguyên nhân là diễn biến thị trường không theo tình hình kinh doanh của các công ty niêm yết mà dựa nhiều vào yếu tố tâm lý và sự can thiệp hành chính của những người điều hành thị trường. Giá cả cổ phiếu trên thị trường từng có lúc tăng vọt trong thời gian dài vì nhu cầu người mua nhiều trong khi lượng cổ phiếu bán ra ít ỏi. Sau khi có những biện pháp can thiệp mạnh, chỉ số VN-Index tuột dài, tuần trước chạm mức thấp kỷ lục dưới 180 điểm vì không ai muốn mua cổ phiếu nữa khi thấy giá cả cứ giảm như cỗ xe không thắng. 

Có cách nào vận dụng quy luật cung cầu để ổn định giá cả thị trường chứng khoán, dần dần hình thành xu hướng định giá cổ phiếu theo sức khoẻ của công ty phát hành cổ phiếu? 

Giả thử chúng ta biết rõ ngày mai giá vàng giảm còn một nửa so với hôm nay nhưng trong tay chúng ta không có lượng vàng nào, có cách gì làm lợi từ chuyện biết trước này không? Câu trả lời khá hiển nhiên - tìm cách vay vàng bán ngay, rồi ngày mai mua vàng giá rẻ để trả, khoản tiền chênh lệch là lợi nhuận. 

Chính vì ai cũng biết cơ chế này nên nếu ai cũng tìm cách hưởng lợi từ chuyện tiên đoán vàng giảm giá, nhu cầu vay vàng tăng vọt có thể kìm lại chuyện vàng giảm giá. 

Quay trở lại thị trường chứng khoán - nhìn vào diễn tiến thị trường, giả định mọi người đều đoán giá cổ phiếu còn giảm nữa, có cách nào hưởng lợi từ dự báo này? Với luật lệ mua bán hiện nay, câu trả lời là không? 

Thị trường chứng khoán Việt Nam cấm "tổ chức kinh doanh chứng khoán, người hành nghề kinh doanh chứng khoán không được hoạt động tín dụng và cho vay chứng khoán". Lúc thị trường mới ra đời, ít ai nghĩ đến điều cấm này, hoặc cho rằng đây là biện pháp tốt để ngăn ngừa nạn đầu cơ chứng khoán. 

Tuy nhiên, qua thực tế hơn hai năm vận hành thị trường, có lẽ đã đến lúc chúng ta phải xem lại điều khoản này, nhằm tạo cho thị trường một cơ chế cân bằng tự động để giá cả không biến động theo chiều lên mạnh, xuống mạnh như hiện nay. 

Lại giả thử người tham gia thị trường chứng khoán được quyền vay cổ phiếu từ công ty chứng khoán, nếu họ dự đoán giá cả sẽ xuống, họ vay rồi bán ngay. Sau khi đợi cho giá xuống đến mức họ dự đoán, nhà đầu tư sẽ mua cổ phiếu với giá rẻ hơn để trả cho công ty chứng khoán. Mới nhìn qua, tưởng đâu cách làm này sẽ tạo áp lực lên giá, làm nó giảm thêm. Thế nhưng chính nhu cầu vay chứng khoán tăng sẽ kìm giá lại. Ở đây quy luật cung cầu sẽ phát huy hết tác dụng của nó vì số lượng cổ phiếu giao dịch sẽ tăng lên nhiều lần. Ở chiều ngược lại, nếu xu hướng giá đang đi lên, sẽ có người vay tiền để mua chứng khoán, đợi giá lên để bán kiếm lời. Chính vì khả năng có thể kiếm lời bất kỳ lúc thị trường lên giá hay xuống giá, người đầu tư sẽ giúp ổn định giá một cách căn bản vì chính họ ở giữa hai xu hướng sẽ kéo giá về thế cân bằng. 

Đây là hoạt động rất cơ bản của bất kỳ thị trường chứng khoán nào trên thế giới. Chính nhờ cơ chế này, có lúc tưởng chừng thị trường chứng khoán một nơi nào đó sẽ sụp đổ vì nhiều nguyên nhân nhưng cuối cùng, giá cả dao động ít dần để trở về thế cân bằng. 

Đã đến lúc những người quản lý thị trường chứng khoán Việt Nam nghĩ đến biện pháp này để tạo mối quan tâm mới cho thị trường còn quá non trẻ của chúng ta.  

Hệ thống các phương pháp chọn lựa chứng khoán

Mười sáu nguyên tắc chọn lựa những cổ phiếu ưu tú nhất

William J. O’Neil đã tạo ra một hệ thống các phương pháp chọn lựa cổ phiếu, các phương pháp này hoàn toàn tới từ việc nghiên cứu rộng rãi các công ty thành công của thị trường từ năm 1953 tới nay.

Đa số các nguyên tắc chọn lựa của ông được dành cho sự phân tích cơ bản. Khi bạn cần cổ phiếu của một công ty trong tay bạn chính là một trong những chủ nhân của công ty. Do đó chỉ tìm những công ty thực sự tuyệt vời, những công ty có những sản phẩm độc đáo riêng biệt hay có những dịch vụ cao cấp. Hãy chỉ tìm những công ty hàng đầu đang là những người dẫn đường của thị trường, những công ty là số một trong lĩnh vực của nó đồng thời đứng trên những công ty khác trong sự cạnh tranh hoặc chịu rất ít sự cạnh tranh. Một khi bạn đã xác định được mình đang hoạt động trong một thị trường đi lên, đây là vài dấu hiệu bạn nên xem xét khi tìm kiếm cổ phiếu.

1. Doanh lợi mỗi cổ phần của công ty trong quý hiện tại tăng ít nhất 25%. Các quý gần đây phải có tỷ lệ tăng trưởng mạnh đồng thời tỷ lệ đăng trưởng của các quý cũng cần liên tục phát triển. Một dấu hiệu rất tốt nếu có khoảng từ sáu tới mười hai quý doanh lợi tăng đáng kể khoảng 50%, 100% thậm chí 200% hay hơn. Dự báo về doanh lợi quý tới cần tăng một số lượng đáng kể. Hãy xem xét doanh lợi trong vài quý qua có cao hơn dự đoán hay không. Nếu cổ phiếu bạn chọn là một loại cổ phiếu tăng trưởng, tỷ lệ tăng trưởng mỗi năm trong vòng ba năm qua phải trên 25%. Đồng thời lịch sử thị trường cho thấy các cổ phiếu thường có mức "tỷ lệ lợi nhuận mỗi cổ phần" Earning Per Share Rating xếp hạng 80 hoặc hơn trước khi nó đi vào những mức giá mới.

2. Nếu nó là một cổ phiếu đã xoay vòng turnaround stock, một cổ phiếu đã phát triển nhưng bị chậm lại và sau đó lại tiếp tục phát triển nó cần có hai quý tăng mạnh mẽ trong doanh lợi, hoặc một quý tăng với một khối lượng lớn để doanh lợi một năm của nó trở lại đỉnh cao cũ. Nếu doanh lợi hai hay nhiều quý gần đây đã đi lên, hãy xem xét liệu doanh lợi một năm của nó đã gần hoặc trên mức đỉnh của hai năm trước hay chưa. Cũng quan trọng khi cần xem xét sự thống nhất trong doanh lợi ước tính của hai năm tới có tăng hay không.

3. Xem xét liệu công ty có doanh số bán tăng mạnh trong sáu tới mười hai quý gần đây hay không? Và rất tốt nếu việc tăng ấy luôn phát triển hình thành một gia tốc.

4. Lợi nhuận biên trước thuế của quý vừa rồi có gần mức đỉnh của nó chưa? Có một xu hướng tăng trong tỷ suất lợi nhuận biên vài quý vừa qua hay không? Và tỷ suất lợi nhuận của nó đã là tốt nhất trong các công ty cùng lĩnh vực hay không?

5. Tìm kiếm những công ty có lợi nhuận biên trước thuế trên 18%.

6. Tìm kiếm những công ty có tỷ suất lợi nhuận trên vốn cổ đông từ 20% tới 50% hoặc hơn thế nữa. Hãy xem xét tỷ suất này đã thuộc dạng tốt nhất trong những ngành cùng lĩnh vực đó hay chưa.

7. Xem xét mức Doanh số + Lợi nhuận + Lợi nhuận vốn cổ đông có sắp hạng A hoặc B? Tốt nhất nên tìm kiếm nhưng công ty thuộc tốp 40% có mức phát triển doanh số, lợi nhuận, và lợi nhuận vốn cổ đông tốt nhất.

8. Khối lượng cổ phiếu mà hội đồng quản trị cũng như các viên chức cao cấp của công ty sở hữu cũng là một khía cạnh tế nhị cần xem xét. Khối lượng này càng nhiều càng tốt. Chúng sẽ là bằng chứng bảo đảm sự tận tâm của ban giám đốc.

9. Cổ phiếu cần nằm trong những mức giá có "chất lượng". Mức giá có chất lượng thường từ khoảng $16 tới $150 đối với thị trường Nasdaq và trên $20 đối với cổ phiếu của NYSE. Nên nhớ rằng những công ty hàng đầu của thị trường như Cisco Systems, WalMart, Microsoft, PeopleSoft, Amgen, trước khi phá vỡ những mức giá cơ bản đi vào một nền giá với với những sự tăng giá khổng lồ thường có giá nằm giữa $30 và $50 mỗi cổ phiếu. Giá cả chính là sự phản ánh chất lượng của cổ phiếu, và chất lượng không thể tới với những loại cổ phiếu rẻ tiền

10. Xem xét cổ phiếu có thuộc những ngành đang phát triển như bán lẻ, máy tính, thuốc, giải trí... hay không? Nó có thuộc một trong năm nhóm ngành đang phát triển nhất không. Các nhóm ngành được coi là đang phát triển tuỳ thuộc vào tình hình kinh tế thế giới và đặc thù riêng của mỗi quốc gia.

11. Dòng tiền của thị trường đang chảy vào đâu, những công ty có thị vốn lớn hay những công ty có thị vốn nhỏ hơn. Hãy đi theo những dòng chảy ấy, không nên kháng cự lại xu hướng của thị trường trong trường hợp này.

12. Thị trường đang quan tâm tới những khu vực kinh tế nào nhất? Tiêu dùng hay công nghệ cao? Cổ phiếu tăng trưởng growth stock, hay chu kỳ cyclical stock: cổ phiếu tăng hay giảm theo chu kỳ kinh tế như xây dựng, xe hơi, giấy, thép, hay người ta đang đầu tư vào những loại cổ phiếu an toàn defensive stock: thực phẩm, những ngành phục vụ công cộng, hay những ngành mà người ta luôn phải sử dụng trong mọi hoàn cảnh. Có thêm nhiều đợt phát hành, có nhiều công ty mới được thành lập hay không.

13. Phải chăng những sản phẩm của công ty giúp tiết kiệm tiền bạc, giải quyết những khó khăn hay tiết kiệm thời gian với những kỹ thuật mới? Hoặc phải chăng nó là những loại thuốc hay những phương tiện y học mới? Hãy tìm các công ty có các sản phẩm thực sự cần thiết và được ưa thích một cách rộng rãi. Đồng thời cũng xem xét xem các sản phẩm của công ty được sử dụng lâu dài hay nhanh chóng được thay đổi để bảo đảm sự duy trì và phát triển doanh số bán của công ty.

14. Những đơn đặt hàng của công ty có thể phát triển không? Tỷ lệ thị phần của công ty là bao nhiêu? Khả năng phát triển thị phần của công ty được trông chờ ở mức nào?

15. Cổ phiếu cũng cần có một, hai quỹ đầu tư lớn hoạt động tốt mua vào trong thời gian gần đây. Đây là một sự kiểm tra gián tiếp bởi vì các quỹ đầu tư hoạt động tốt sẽ làm những cuộc nghiên cứu kỹ càng trước khi mua một loại cổ phiếu.

16. Bạn có thực sự hiểu rõ ràng và tin cậy vào công cuộc kinh doanh của công ty? Bạn đã từng thấy hay sử dụng những sản phẩm hoặc dịch vụ của nó chưa? Bạn càng hiểu biết về công ty bao nhiêu, bạn càng có niềm tin về nó bấy nhiêu.

Nếu bạn tuân thủ những nguyên tắc trên tức là bạn đang mua những loại cổ phiếu thực sự ưu tú, những loại cổ phiếu có cơ hội phát triển về các chỉ số cơ bản nhất. Những nguyên tắc còn lại thuộc về phạm vi kỹ thuật. Bạn phải cần cả hài chứ không phải chỉ một phương pháp phân tích trong việc lựa chọn chứng khoán. 



Sáu nguyên tắc chọn thời điểm mua cổ phiếu

Việc chọn lựa chứng khoán đúng thời điểm cũng không hề kém quan trọng so với việc chọn lựa những chứng khoán ưu tú. Những nguyên tắc dưới đây sẽ giúp bạn chọn lựa chứng khoán đúng thời điểm thích hợp nhất:

1. Kiểm tra đồ thị mỗi ngày để nhận ra những loại cổ phiếu đang hình thành những mô hình kiểu mẫu, và đang được đặt dưới sự tích luỹ những vụ mua chuyên nghiệp, mức giá của chúng cũng cần phải gần điểm mua thích hợp.

Phân tích giá cả và khối lượng giao dịch của các loại cổ phiếu đáng quan tâm từ tuần này qua tuần khấc. Hãy nhận dạng mức giá mà bạn sẽ mua tại đó. Sau đợt mua đầu tiên của bạn, hãy xác định những khu vực mà bạn sẽ tiếp tục mua thêm trong chiến lược "tăng giá mua trung bình". Người ta thường tiếp tục mua thêm khi giá tăng khoảng 2% tới 3% so với điểm mua ban đầu.

Nếu giá cổ phiếu rớt dưới giá mua 8%, hãy bảo vệ bản thân khỏi những thua lỗ lớn hơn bằng cách bán cổ phiếu ngay lập tức. Kỷ luật cắt giảm thua lỗ này trong đường dài sẽ giúp bạn thoát khỏi những rắc rối trầm trọng. Cắt giảm thua lỗ là một trong những công cụ quan trọng của các nhà đầu tư thành công.

2. Bạn cần phải nhìn thấy một khối lượng giao dịch tăng hờn 50% trong ngày bạn bắt đầu mua, khi giá chứng khoán phá vỡ những mức giá cũ trong một mô hình cơ bản.

3. Những mô hình cơ bản là "tách và tay cầm", "đụng đáy hai lần", "đáy bằng". Nếu mô hình không phải bất cứ cái nào trong ba mô hình trên, thông thường nó hay có thiếu sót và có khuynh hướng thất bại.

4. Chỉ nên mua những loại cổ phiếu có chỉ số sức mạnh tương đối trên 80. Hãy tránh xa những cổ phiếu có sức mạnh tương đối dưới 70. Đồng thời hãy xem xét chỉ số sức mạnh tương đối có hình thành một xu thế đi lên rõ ràng hay không.

5. Cố gắng thêm vào danh mục đầu tư của bạn những loại cổ phiếu đang hoạt động tốt nhất, đồng thời giảm bớt, hay bán hẳn những cổ phiếu đang hoạt động tồi. Nên nhớ rằng cổ phiếu trong những mô hình cơ bản và gần mức giá cao của nó thì tốt hơn những cổ phiếu đang gần những mức giá thấp gần đây

6. Kiểm tra những đồ thị hàng tháng để tìm xem liệu cổ phiếu có hình thành những mô hình cơ bản dài hạn trong khoảng thời gian vài năm hay không.



Đầu tư tăng trưởng và đầu tư trị giá

Điểm khác biệt giữa đầu tư tăng trưởng và đầu tư trị giá

Những nhà đầu tư tăng trưởng là những người tìm kiếm những công ty có sự phát triển doanh số và lợi nhuận nhất quán, thông thường khoảng 20% hay hơn trong vòng 3 tới 5 năm vừa qua. Những công ty như Schering Pough, Paychex, Cisco Systems, hay Microsoft được xem như những cổ phiếu tăng trưởng vào thập niên 90. Cổ phiếu tăng trưởng thường ít được chi trả cổ tức hoặc chi trả cổ tức thấp bởi vì chúng thường cần lượng tiền mặt lớn để tái đầu tư phát triển thêm thị phần. Tỷ số P/E của cổ phiếu tăng trưởng thường cao hơn những loại cổ phiếu khác. Chỉ đơn giản là vì nó có những bản báo cáo tài chính tốt hơn nhiều so với các công ty khác, các nhà đầu tư thường mua đón đầu chúng.

Một trong những đặc trưng của cổ phiếu tăng trưởng là chúng có những sản phẩm hoặc dịch vụ có chất lượng cao, thông thường là không vĩnh cửu được thay bằng những sản phẩm khác tương tự trong một khoảng thời gian không lâu. Chúng cũng có những lợi nhuận biên và lợi nhuận trên vốn cổ đông cao, thường khoảng từ 17% tới 50%. Đồng thời các nhà phân tích thường nhất trí trong việc dự đoán doanh lợi của chúng tăng một khối lượng đáng kể, một hoặc hai năm nữa.

Những nhà đầu tư tăng trưởng cần chú ý, không có một loại cổ phiếu nào là cổ phiếu tăng trường vĩnh cửu, qua một thời gian dài cổ phiếu tăng trưởng sẽ có chiều hướng phát triển chậm dần và sau đó phát triển thị phần tới mức bão hoà không phát triển thêm nữa. Nhà đầu tư cần cân đối lại danh mục đầu tư tại những thời điểm này.

Những nhà đầu tư giá trị thì khác, họ tìm kiếm những công ty mà họ tin rằng nằm dưới giá trị thật. Họ nghiên cứu kỹ các bản cân đối tài khoản và báo cáo lời lỗ, tìm kiếm những dấu hiệu cho thấy những giá trị ẩn náu của công ty, như là một khối lượng tiền mặt lớn chưa sử dụng hay là những tài sản trong sổ sách của công ty nằm dưới giá trị thực, ...

Họ chờ đợi cơ hội mua được cổ phiếu ở những mức giá hời, và mong muốn mua những cổ phiếu có chỉ số P/E thấp, hoặc những công ty có giá thị trường nằm dưới giá trị sổ sách. Những nhà đầu tư giá trị thường được nhận một số cổ tức chiếm một tỷ lệ lớn trong lợi nhuận kiếm được của công ty do công ty thường không còn khả năng phát triển thêm thị phần.

Họ tìm cách mua cổ phiếu tại một mức giá thấp hơn giá trị thực. Những nhà đầu tư giá trị phải chờ thị trường thừa nhận giá trị cổ phiếu của họ, để cổ phiếu tăng giá.

Điều này thường mất một khoảng thời gian khá lâu và đôi khi không bao giờ xảy ra cả. 



: books -> ke-toan-tai-chinh-thue
ke-toan-tai-chinh-thue -> Bài tập Kiểm toán căn bản  gv : ncs. ThS phan Thanh Hải LỜi ngõ
ke-toan-tai-chinh-thue -> GIẢI ĐỀ kiểm tra: KẾ toán thưƠng mạI ĐỀ SỐ 1: (đvt: 000đ) ok
ke-toan-tai-chinh-thue -> TÀi liệU 138 câu trắc nghiệm môn Thanh toán quốc tế (Kèm lời giải) MỤc lụC
ke-toan-tai-chinh-thue -> SƠ ĐỒ ĐỊnh khoản kế toán sơ ĐỒ KẾ toán sản xuất-giá thành sản phẩM
ke-toan-tai-chinh-thue -> A, b, c, d và đánh dấu X vào bảng trả lời Câu 1
ke-toan-tai-chinh-thue -> TRƯỜng đẠi học kinh tế luật tphcm bộ MÔn kinh tế ĐỐi ngoại môn quản trị TÀi chính công ty đa quốc gia
ke-toan-tai-chinh-thue -> Câu hỏi lý thuyết và vấn đáp môn tín dụng ngân hàng


1   ...   9   10   11   12   13   14   15   16   ...   32


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương