Giải thích thuật ngữ: Chứng khoán? Môi giới? Đầu tư?


Phân tích kỹ thuật khác phân tích cơ bản như thế nào?



tải về 2.23 Mb.
trang12/32
Chuyển đổi dữ liệu18.08.2016
Kích2.23 Mb.
1   ...   8   9   10   11   12   13   14   15   ...   32

Phân tích kỹ thuật khác phân tích cơ bản như thế nào?

Phân tích kỹ thuật là việc nghiên cứu  những chuyển động của thị trường, chủ yếu dựa vào việc sử dụng các đồ thị. Phân tích kỹ thuật sứ dụng sự thay đổi của giá và khối lượng chứng khoán như một công cụ chính cho phép bạn kiểm tra, theo dõi, nhận định về mức cung và cầu của chứng khoán.

Bạn nên sử dụng các đồ thị biểu diễn giá chứng khoán trong ngày hoặc trong tuần kết hợp khối lượng giao dịch của nó, thông thường việc phân tích kỹ thuật từ những thời điểm quá xa thường không chính xác. Bằng cách sử dụng đồ thị bạn có thể xem xét liệu chứng khoán đang hoạt động bình thường hay bất thường, nó có đang được các tổ chức tài chính giao dịch hay không, và đâu là thời điểm để mua hay bán chứng khoán, …

Ngoài giá cả và khối lượng giao dịch, nhà phân tích kỹ thuật còn sử dụng các số liệu đường biểu diễn giá trung bình 50 ngày, 200 ngày để phát hiện chiều hướng chung của thị trường, chỉ số sức mạnh tương đối relative price strength rating để xem xét cổ phiếu có hoạt động tốt hay không, tỷ số thăng giáng advance-decline để đánh giá tình hình thị trường.

Những nhà phân tích kỹ thuật giỏi có thể tiên đoán giá cổ phiếu trong thời gian gần dựa vào các dấu hiệu hiện tại của thị trường. Và bạn hoàn toàn có thể làm được điều ấy.

Tại sao cần dùng phân tích kỹ thuật?

Một số người quá chú trọng phân tích cơ bản và coi thường phân tích kỹ thuật cho rằng phân tích kỹ thuật là không cần thiết, chỉ cần chọn những công ty ưu tú là đủ, thực ra đây là một quan niệm sai lầm. Mục tiêu của bạn khi đầu tư là để tìm kiếm lợi nhuận, bạn cần phải chọn mua vào những thời điểm mà cơ hội tăng giá là lớn nhất, mua một loại cổ phiếu tốt thì có ích gì khi sau đó giá của chúng lại xuống, vả lại giá cả và số lượng mua bán trên thị trường sẽ báo cho bạn biết những rủi ro tiềm tàng hoặc những cơ hội nhanh hơn sự thay đổi số liệu trong phân tích cơ bản. Ví dụ như khi công ty của bạn mua hoặc bị mua lại bởi một công ty khác chẳng hạn.

Khối lượng giao dịch của cổ phiếu mỗi ngày hay mỗi tuần là một trong những công cụ quan trọng để hiểu sức ép cung cầu một cách chính xác. Thật sự rất quan trọng và cần thiết để hiểu, giá cổ phiếu của bạn đang đi lên hoặc đi xuống trong điều kiện khối lượng giao dịch lớn hơn hay nhỏ hơn mức thông thường. Chính vì vậy trong các báo cáo hàng ngày về giá của thị trường luôn đi kèm với khối lượng giao dịch. Nếu cổ phiếu của bạn đang tăng giá với một sự gia tăng khối lượng giao dịch đây là một dấu hiệu đáng mừng, cổ phiếu sẽ tiếp tục tăng giá, nếu cổ phiếu tăng giá lại đi kèm với một khối lượng giao dịch yếu đi, cổ phiếu sẽ không tiếp tục tăng giá nữa, nếu cổ phiếu giảm giá mà khối lượng giao dịch cũng giảm theo, đây là một dấu hiệu cho thấy không có sự bán ra nữa, cổ phiếu sẽ ngưng giảm giá. Tuy không phải luôn đúng, nhưng những nguyên tắc này khá hợp lý nếu được xem xét trong những khoảng thời gian thật ngắn, từng giờ, từng ngày, nếu xem xét chúng trong khoảng thời gian dài sẽ không được chính xác lắm, và lại chứng chỉ chính xác trong những thị trường lệnh thị mua bán tức thời.

Ngoài ra khối lượng giao dịch còn là một dấu hiệu cho thấy các tổ chức lớn đang mua hay bán, điều này có thể ảnh hưởng mạnh tới giá chứng khoán theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực. Sẽ có một ngày trong tương lai, những điều đơn giản này sẽ giúp bạn trở thành một nhà đầu tư thành công.

Nếu bạn là tín đồ của trường phái phân tích cơ bản bạn sẽ hỏi tại sao phải sử dụng phân tích kỹ thuật và ngược lại? câu trả lời là các tổ chức đầu tư lớn, những nhà đầu tư thành công đều phải sử dụng cả hai loại phân tích cho quyết định mua bán của mình. Thế thôi.   

Điểm quan trọng nhất trong phân tích cơ bản: Doanh số và lợi nhuận

Điểm khác biệt giữa những nhà đầu tư thành công với những người còn lại là gì?

Mục tiêu của chúng ta không phải là luôn đúng trong mọi quyết định của mình. Thực sự không ai có thể làm được điều đó. Bạn sẽ kiếm được tiền khi bạn hành động đúng và thua lỗ nếu bạn hành động sai. Điều phân biệt những nhà đầu tư thành công giữa các nhà đầu tư khác là số tiền họ kiếm được luôn nhiều hơn số tiền mất đi, điều này đòi hỏi bạn phải luôn thắng lớn khi thành công, và rút ra nhanh, thua lỗ ít khi thất bại. Đây thực ra không phải là một điều thần kỳ gì nếu chúng ta chịu nghiên cứu những mô hình cũng như những con người đã thành công trên thị trường. Trong những bài trước chúng ta đã nghiên cứu về cách cắt giảm thua lỗ, trong những phần sau chúng ta sẽ thảo luận những con đường để tìm kiếm lợi nhuận. Để kiếm được tiền, bạn cần phải chọn mua những công ty tốt nhất, những công ty sẽ trở thành nhưng người dẫn đường trong tương lai.



Làm thế nào để tìm ra những người dẫn đường?

Lịch sử thị trường đã chứng minh rằng lợi nhuận và doanh số tăng nhanh là dấu hiệu quan trọng của những loại cổ phiếu sẽ phát triển trong tương lai. Điều này trở nên rõ ràng hơn khi chúng ta sẽ thấy những công ty lớn thực sự giống nhau làm sao về tốc độ tăng doanh số và lợi nhuận trước khi chúng tăng giá từ 200% tới 1000% hoặc hơn thế nữa.

Mua một cổ phần nghĩa là bạn đang góp vốn vào một công ty. Điều đơn giản là giá trị phần vốn của bạn sẽ giảm đi nếu công ty làm ăn thua lỗ. Và nếu công ty phát triển thì giá trị phần vốn của bạn sẽ tăng lên, những người đầu tư tăng trưởng thường ít quan tâm đến giá trị phần hùn mà chú ý tới khả năng sinh lợi của phần hùn ấy trong hiện tại hoặc tương lai. Dó chính là lý do tại sao một cổ phiếu của một công ty đang làm ăn tốt có thể có giá tới $100 trong khi giá trị sổ sách của chúng giá trị tài sản thực của một cổ phiếu có thể chỉ là $20.

Hãy tìm kiếm những công ty tăng mạnh về doanh số và lợi nhuận quý so với quý cùng kỳ năm ngoái, bạn cũng xem xét sự tăng tỷ lệ phần trăm so với quý vừa qua. Số liệu này được tìm thấy ở những bản báo cáo cuối quý của công ty với sở giao dịch.



Những phân tích cơ bản ngoài lợi nhuận và doanh thu quý

Một dấu hiệu dài hạn khác cần xem xét đó là số liệu về sự tăng trưởng lợi nhuận hàng năm. Việc tăng trưởng lợi nhuận hàng năm là một dấu hiệu cho thấy sự phát triển chắc chắn của công ty. Lợi nhuận hàng năm của Microsoft tăng tới 99% vào năm 1986, của Cisco Systems là 57% vào năm 1990, của Price Co. là 90%. Ngoài ra những công ty hàng đầu này cũng có được những con số khả quan về lợi nhuận vốn cổ đông và tỷ suất lợi nhuận biên trước thuế. Lợi nhuận vốn cổ đông của Microsoft, Home Depot và Cisco System lần lượt là 40%, 28%, 36%, đồng thời cả Microsoft lẫn Cisco Systems đều có lợi nhuận biên trước thuế pre-tax profit margin là 33%.

Tất cả những điều này diễn ra trước khi chúng tăng giá đến phi thường trong thập niên 80, 90. Microsoft tăng tới 266% chỉ trong vòng 30 tuần vào năm 1986, Home Depot tăng tới 912% trong chưa đầy một năm rưỡi bắt đầu từ 1982, Cisco System và Price Co tăng tương ứng 2000% và 750% từ 1990 và 1982. Như vậy một quy luật bạn nên tham khảo khi chọn lựa cổ phiếu là tìm những loại cổ phiếu có tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận hàng năm trên 30%, và tỷ lệ lợi nhuận trên vốn cổ đông trên 17%.

Chỉ số lợi nhuận mỗi cổ phần, một công cụ quan trọng khi xem xét doanh lợi. Chỉ số doanh lợi mỗi cổ phần Earnings per share Rating là một chỉ số độc quyền của tờ Investor’s Business Daily. Chỉ số này so sánh mức phát triển doanh lợi giữa các công ty với nhau. Cổ phiếu được sắp trên các mức từ 1 tới 99 với 99 là tốt nhất. Mức doanh lợi được xem xét bao gồm mức phát triển doanh lợi trong vòng hai quý và ba tới 5 năm gần đây nhất. Một cổ phiếu có chỉ số doanh lợi mỗi cổ phần là 80 nghĩa là chúng có mức phát triển doanh lợi tốt hơn 80% số công ty ngoài thị trường. Những công ty bạn cần tìm là những công ty có chỉ số doanh lợi mỗi cổ phần cao nhất trong lĩnh vực của nó. Những công ty trước khi có những sự tăng giá khổng lồ có chỉ số doanh lợi mỗi cổ phần rất cao, cả Microsoft và Cisco Systems đều có chỉ số lợi nhuận mỗi cổ phần là 99 trước khi chúng có những đợt tăng giá kéo dài.

Và những dấu hiệu thác cần chú ý.

Điều cuối cùng chúng ta sẽ thảo luận ở đây cực kỳ quan trọng, nếu bạn thực sự hiểu chúng và có đủ sự can đảm thi hành, bạn có thể tìm thấy những công ty Microsoft mới.

Sự tăng giá của các loại cổ phiếu vừa trình bày đều được diễn ra theo sau một đợt điều chỉnh giá của thị trường, đồ thị của chúng đa số đều giống nhau do thị trường nói chung đang bị sụt giá. Trong mỗi trường hợp khi cuối cùng thị trường bắt đầu đổi chiều, những cổ phiếu này đều là những cổ phiếu đầu tiên của thị trường tăng giá.

Tháng mười năm 1990, ngay khi thị trường bắt đầu hồi phục Cisco Systems là một trong những loại cổ phiếu đầu tiên tăng giá với lợi nhuận là $7, từ $22 lên $29 chỉ trong một tuần.

Thực sự tiếp theo những đợt điều chỉnh giá là những cơ hội lớn, người đầu tư xem cổ phiếu như một món nợ bán tống bán tháo chúng đi, giá cả của chúng đa số nằm dưới giá trị thực. Ở đây cần lưu ý bạn đọc khái niệm giá trị thực không phải là giá trị sổ sách càng không phải giá thị trường, mà nó còn chứa đựng nhiều yếu tố như lợi nhuận của công ty, độ an toàn, khả năng phát triển,. .. như vậy giá trị thực không phải là một con số chính xác tuyệt đối, nó phụ thuộc vào độ nhạy cảm của nhà đầu tư. Những loại cổ phiếu hàng đầu được đặt ở những cái giá rất "mềm" và chúng sẽ nhanh chóng tạo thành những mô hình cơ bản chúng ta sẽ đề cập sau, bật lên trở lại, có thể là sáng mai hoặc ba tháng nữa, khi giới đầu tư đã thoát khỏi những cơn hoảng loạn điên rồ. Nó là một thời điểm hoàn toàn không nên bỏ lỡ.

Mức quan trọng của khối lượng giao dịch và những tổ chức đầu tư lớn

Khối lượng giao dịch là gì, và tại sao chúng quan trọng?

Những quy luật về cung và cầu đầy rẫy trên thị trường, tuy nhiên có một điều đơn giản giá chứng khoán không lên một cách tình cờ. Cần có một nhu cầu mua lớn. Hầu hết các nhu cầu này tới từ các tổ chức đầu tư lớn, những người mua hơn 75% những loại chứng khoán dẫn đầu tốt nhất của thị trường. Khi bạn chọn lựa chứng khoán, khối lượng giao dịch hàng ngày hoặc hàng tuần là phương tiện để bạn xem xét nhu cầu về loại chứng khoán đó.

Khối lượng giao dịch là khối lượng thực sự loại chứng khoán đó đã buôn bán trong ngày, số liệu này có thể dễ dàng tìm thấy ở các broker cũng như ở các tạp chí. Tuy nhiên trừ khi bạn theo dõi số liệu này liên tục từ ngày này qua ngày khác để nhận ra những khối lượng giao dịch thực sự bất thường điều này có lẽ sẽ chỉ cho bạn thấy có những vụ mua bán lớn, những số liệu hàng ngày chưa hẳn là hữu ích.

Bạn cần nghiên cứu "Tỷ lệ phần trăm thay đổi khối lượng giao dịch" Volume Percent Change của mỗi cổ phiếu. Chỉ số này giúp bạn theo dõi sự thay đổi phần trăm khối lượng giao dịch ngày hôm qua của mỗi loại cổ phiếu so với trung bình 50 ngày trước đó, nó sẽ chỉ ra cổ phiếu được buôn bán với khối lượng trên hay dưới khối lượng giao dịch trung bình. Ví dụ khi một cổ phiếu được ghi "+356" ở cột tỷ lệ phần trăm thay đổi khối lượng giao dịch điều này có nghĩa cổ phiếu có khối lượng giao dịch trong ngày tăng 356% so với khối lượng giao dịch trung bình 50 ngày trước đó.

Đồng thời hãy theo dõi những loại chứng khoán có tỷ lệ phần trăm thay đổi khối lượng giao dịch cao ngất các loại chứng khoán này thường xuyên được công bố trong mục "Nơi dòng tiền chảy nhiều nhất" "where the Big Moneys Flowing", đó chính là nơi dòng tiền đang chảy mạnh mẽ nhất.

Các tổ chức lớn không thể mua chứng khoán mà không có một sự thay đổi nào ở mục "Tỷ lệ phần trăm thay đổi khối lượng giao dịch" và mục "Nơi dòng tiền chảy nhiều nhất". Để đưa cho bạn đọc khái niệm về sự tác động của các tổ chức lớn đối với thị trường xin được sử dụng ví dụ sau: một quỹ đầu tư có $1 tỷ, họ chỉ muốn đầu tư 2% tài sản của quỹ vào một loại chứng khoán X. Chứng khoán X đang được giao dịch tại mức $40. Như vậy sẽ có khoảng 500.000 cổ phiếu được mua bán!

Việc mua bán của các quỹ đầu tư như hình ảnh các con voi lớn nhảy vào bồn tắm, nước sẽ trào lên và bắn tung toé khắp mọi nơi. Khối lượng giao dịch cho phép bạn theo dõi sự di chuyển của các chú voi này.

Không hề quá trễ để mua theo các quỹ

Hãy luôn luôn kiểm tra đồ thị hàng ngày hoặc hàng tuần của của cổ phiếu có để ý đến việc mua bán gần đây của những quỹ đầu tư hoạt động tốt. Những cổ phiếu này có thể đang ở thời điểm thích hợp để mua hay giá chúng đã quá cao và do đó cũng quá rủi ro để mua chúng. Những công ty thực sự tốt nhưng khi chúng đã bị thị trường định giá và kỳ vọng quá cao, chúng không phải là những đối tượng đầu tư thích hợp. Luôn luôn có một câu hỏi về thời điểm để mua, chúng ta cần phát hiện ra thời điểm tốt nhất để mua những loại chứng khoán mới được mua bán gần đây bởi các quỹ lớn.

Khá nhiều người cho rằng họ nên mua loại cổ phiếu chưa có bất cứ quỹ nào sở hữu và hy vọng khi nó được các quỹ lớn quan tâm tới. Giá của chúng sẽ tăng lên. Quan niệm này thật thiển cận. Trên nước Mỹ có hàng ngàn quỹ đầu tư không ít trong số ấy có nguồn vốn hàng tỷ đô la với hàng trăm nhân viên, những con người luôn thường xuyên phân tích tìm kiếm những loại cổ phiếu ưu việt. Nếu không có một quỹ đầu tư thành công nào quan tâm đến một loại cổ phiếu, hãy tránh xa nó. Hãy tự hỏi tại sao các quỹ đang rất thành công với các nhân viên ưu tú của mình lại không quan tâm tới loại chứng khoán ấy? Và phải chăng sức mua mạnh mẽ của các quỹ đầu tư có thể làm tăng giá cổ phiếu là một lý thuyết hợp lý? Tốt nhất nên mua những loại chứng khoán được một vài quỹ đầu tư xuất sắc mua vào gần đây.

Bằng cách theo dõi các vụ giao dịch của các quỹ đầu tư lớn, bạn sẽ nhận ra vài điều về các loại cổ phiếu mà các quỹ có những kết quả đầu tư xuất sắc mua và không mua. Họ không mua các loại chứng khoán rẻ tiền, và thích các công ty có chất lượng cao, thị vốn đủ lớn để có thể chứa đựng số tiền họ muốn đầu tư. Bạn cũng có thể xác định những ngành kinh doanh họ đổ tiền bạc vào nhiều nhất cũng như những khu vực họ đang rút lui. Một nhà đầu tư khôn ngoan luôn chú ý liệu tổng số các quỹ mua một loại cổ phiếu có tăng lên đều đặn trong những quý gần đây hay không, hay liệu có nhiều quỹ hàng đầu cùng tháo chạy ra khỏi một loại cổ phiếu hay không. Những kiến thức này rất hữu ích trong quá trình chọn mua cũng như bán chứng khoán.

Khối lượng giao dịch của chính công ty đặc biệt quan trọng

Việc mua lại của một công ty nhìn chung sẽ có ảnh hưởng tích cực đến các cổ phiếu. Các công ty thường mua lại ít nhất 10% số cổ phiếu đang lưu hành. Việc các công ty mua lại cổ phiếu sẽ làm giảm số cổ phiếu đang lưu hành, điều này nghĩa là doanh lợi mỗi cổ phần sẽ tăng lên nếu lợi nhuận của công ty không sút giảm. Giá chứng khoán sẽ tăng cao chỉ trong vài ngày kể từ lúc được thông báo, và nếu thực sự lợi nhuận của công ty vẫn giữ nguyên hoặc phát triển thì giá chứng khoán còn tăng nữa. Tháng 7 năm 1992, General Dynamics, một công ty về vũ khí, tàu ngầm, chiến xa, máy bay chiến đấu mua lại 30% số cổ phiếu của công ty, ngay lập tức giá cổ phiếu đã tăng từ $65 tới $73, và sau đó tới năm 93, giá cổ phiếu đã tăng tới $103.

Nhưng trong dài hạn không phải bất cứ vụ mua lại nào của công ty cũng đều làm cổ phiếu tăng giá. Trường hợp công ty bắt buộc phải vay mượn để chống lại sự thôn tính là một ví dụ. Việc này sẽ làm tăng nợ của công ty và có thể đẩy công ty đến những tình huống xấu. Cho dù công ty mượn tiền hay dùng tiền của chính mình mua cổ phiếu, trong dài hạn cổ phiếu chỉ tăng giá khi doanh lợi của công ty không bị giảm sút. Nhưng đó chỉ là những việc của tương lai, ngay khi có thông tin mua lại của công ty, giá sẽ tăng trong vài ngày, các nhà đầu tư vẫn có thể lợi dụng cơ hội này để kiếm lợi trong ngắn hạn.

Việc công ty phát hành thêm cổ phiếu thường được xem như một tin tức xấu. Thực ra cần phải quan tâm xem mục tiêu của đợt phát hành là gì, công ty dùng tiền để trả nợ, hay để bành trướng công ty. Nếu bạn là một cổ đông cũ của công ty bạn sẽ được nhận những chứng quyền rights, đảm bảo việc mua cổ phiếu mới với giá thấp để bù đắp vào những tổn thất mới do việc phát hành đem lại, và sau đợt điều chỉnh giá cho phù hợp với sự loãng giá, các cổ đông mới vẫn có thể xem như đây là một cơ hội. Suy cho cùng một công ty đang phát triển nghe vẫn hấp dẫn hơn một công ty không còn khả năng phát triển thừa tiền mặt để mua vào cổ phiếu của chính mình.

Quan tâm tới sự giao dịch của những người trong nội bộ

Những người trong nội bộ có thể hiểu như những thành viên hội đồng quản trị, những viên chức chủ chốt, hay người thân của họ. Mặc dù có những hạn chế họ vẫn được phép thực hiện một số giao dịch với cổ phiếu của công ty. Những thông tin về việc giao dịch này có thể tìm thấy ở bản báo cáo Vickers Weekly Insider Report. Nếu những nhân vật chủ chốt mua vào một số lượng lớn điều này cho thấy tiềm năng phát triển của công ty. Nếu công ty đã gom đủ những yêu cầu về các nguyên tắc chọn lựa còn gì thú vị hơn nếu bạn đầu tư vào một công ty mà các nhân vật chủ chốt tin chắc vào thành quả trong tương lai của công ty.

Nhưng nếu một hay một vài viên chức của công ty giảm vị thế của họ trong cổ phiếu thì cần phải dè chừng, cổ phiếu có thể có trục trặc hoặc họ muốn rút chân ra khỏi công ty. Việc bán nội bộ chỉ được xem xét nếu nó được giao dịch bằng những lô lớn trên 10.000 cổ phiếu, có một tỷ lệ tương đối lớn so với tổng số cổ phiếu người bán đang nắm giữ. Dù thế nào chăng nữa việc bán nội bộ cũng chỉ là một đặc điểm cho bạn phân tích lại cổ phiếu chứ hoàn toàn không phải là dấu hiệu bán của bạn.

Chú ý đến cả nhóm ngành khi lựa chọn những cổ phiếu đơn lẻ

Hãy lựa chọn những loại cổ phiếu trong những ngành kinh doanh hoặc trong những khu vực hàng đầu đang phát triển. 

Đầu tiên chúng ta cần biết khái niệm khu vực rộng lớn hơn khái niệm nhóm ngành kinh doanh. Ví dụ khu vực tiêu dùng bao gồm một số ngành kinh doanh như bán lẻ, xe ô tô, trang thiết bị gia đình. Phần lớn các cổ phiếu riêng lẻ, những loại cổ phiếu thực sự là người dẫn đường của thị trường cũng đều thuộc những nhóm ngành kinh doanh hàng đầu tại thời điểm đó. Những nhóm ngành đang được thị trường quan tâm nhất, cũng là những nhóm ngành kinh tế phát triển nhất, những công ty nằm trong những nhóm ngành đang phát triển có một cơ hội tăng trưởng lớn hơn so với những ngành đã phát triển và bão hoà. 

Một công ty đang là người dẫn đường của thị trường sẽ có ít nhất một công ty khác trong nhóm ngành cũng chỉ ra một sức mạnh tương tự. Không thể có một nhóm ngành phát triển mà chỉ chứa đựng trong nó một công ty phát triển. Trong những năm gần đây khi Microsoft nổi lên như một công ty kiệt xuất, PeopleSoft cũng rất phát triển công nghiệp phần mềm, khi Dell phát triển nhanh chóng thành một công ty hàng đầu, Compaq cũng vậy phần cứng máy tính, khi Hom Depot kinh doanh thành công điều tương tự cũng xảy ra với Wal-Mart và The Gap bán lẻ. Cùng trong khoảng thời gian ấy khi Schering-plough và Bristol Myers Squibb gia nhập vào những loại cổ phiếu ăn khách thì Warner Lambert và Pfizer cũng thế, tất cả chúng đều là những công ty dược phẩm. Rõ ràng cổ phiếu có khuynh hướng dịch chuyển theo từng nhóm. Như vậy trước khi chọn một loại cổ phiếu tốt nhất nên thấy một loại cổ phiếu khác cùng nhóm cũng chỉ ra được một sức mạnh đáng kể. 

Ngoài sự chú ý đúng mức tới những ngành công nghiệp riêng biệt mạnh nhất trên thị trường tại những khoảng thời gian đặc biệt, còn có một khu vực sẽ di chuyển mà bạn nên học cách phát hiện đó là những tổ chức lớn đầu tư chủ yếu vào những công ty lớn big-cap companies, những công ty có thị vốn lớn và khối lượng cổ phiếu nhiều hay thay đổi đầu tư vào những công ty nhỏ hơn small-cap companies, những công ty có thị vốn và khối lượng cổ phiếu nhỏ, thường dưới $1 tỷ. 

Cuối năm 1997 thị trường di chuyển sự quan tâm của nó từ những công ty nhỏ tới những công ty lớn có tính thanh khoản cao hơn. Với khối lượng cổ phiếu khổng lồ của những công ty này thông tin sẽ đầy đủ và chính xác hơn, vị thế mua và bán của cá nhân được hoán chuyển một cách đơn giản, bạn có thể đầu tư hoặc rút ra khỏi thị trường một cách dễ dàng. Các quỹ đầu tư lớn thường ít quan tâm tới những công ty có mức vốn nhỏ, do việc mua và bán của họ với số đô la lớn có thể ảnh hưởng mạnh tới giá cả và làm sụt giảm lợi nhuận của họ. Sẽ có những phần thưởng xứng đáng cho những con người nhanh nhẹn biết đầu tư vào những nơi dòng tiền sẽ chảy tới. 

Tóm lại khi bạn đã tìm thấy một loại cổ phiếu phù hợp với các tiêu chuẩn về thước đo cơ bản như sự phát triển doanh số, lợi nhuận, khả năng sinh lời, ... và bạn cũng tìm ra được đây là một thời điểm thích hợp về mặt kỹ thuật, hãy kiểm tra sức mạnh của cả nhóm ngành kinh doanh mà nó tham dự, đồng thời xem xét xu hướng dòng chảy tiền mặt của thị trường. Trong cuộc sống, sự nghiệp, hôn nhân, chúng ta luôn tìm kiếm những thứ tốt nhất, hoàn hảo nhất trong những cái tương đối tốt còn lại. Chứng khoán cũng thế thôi! 

Hãy chọn lựa những nhóm ngành có chỉ số sức mạnh tương đối cao. 

Bạn luôn muốn chọn những nhóm ngành kinh doanh phát triển nhất. Không phải khi một ngành kinh doanh phát triển là tất cả các nhóm nhỏ trong ngành đều phát triển, có lẽ trong ngành công nghiệp máy tính, phần dịch vụ thì đang rất phát triển trong khi phần đồ thị thì lại chậm hơn. Chúng ta luôn luôn chọn những nhóm tốt nhất trong một ngành kinh doanh. Tại thị trường chứng khoán Mỹ, chúng được chia ra làm 197 nhóm kinh doanh với các mức sức mạnh tương đối được sắp từ A tới E với A là mức cao nhất. Và chúng ta cũng nên biết trong quan niệm đầu tư hiện đại phong cách "mua thấp bán cao" đã được thay thế bằng "mua cao để bán cao hơn". Chính vì vậy các loại cổ phiếu loại A rất được ưa chuộng trong khi các nhà tư vấn thường khuyên chúng ta nên tránh xa các loại cổ phiếu loại E. 

Trong lịch sử các nhóm kinh doanh về dược phẩm và y học, máy tính, công nghệ phần mềm, kỹ thuật giao thông, bán lẻ các mặt hàng đặc biệt, giải trí đã cung cấp cho thị trường những công ty thành công lớn với những lợi nhuận cổ phiếu khổng lồ và chúng đều có chỉ số sức mạnh tương đối ở hạng A tại thời điểm phát triển ấy. 

Đồng thời thường xuyên kiểm tra mục "52-week Highs & Lows", chúng sẽ cho bạn biết những khu vực có nhiều loại cổ phiếu đang hoạt động tốt nhất, trong một thị trường rõ ràng, với một số đông các loại cổ phiếu cùng đạt những mức giá cao mới, năm hay sáu khu vực hàng đầu sẽ là những nơi bạn sẽ gửi gắm những cổ phiếu của mình. Việc phát hiện ra những nhóm ngành đang dẫn đầu trong danh sách này rất quan trọng. Chúng sẽ giúp cải thiện rất đáng kể kết quá đầu tư của bạn. 

Nhóm ngành bán lẻ bất chợt leo lên phần đầu danh sách này vào đầu năm 1998, lần đầu tiên trong nhiều năm và gặt hái được một số thành công nhất định. Bất cứ vào thời điểm nào bạn có khoảng mười ba hay mười bốn cổ phiếu trong một nhóm ngành cùng phá vỡ mức giá cao cũ trong 52 tuần thì bạn đều không nên bỏ lỡ cơ hội này. 

Một điều quan trọng khác cần biết những ngành mới phát triển, kỹ thuật cao thường tương đối dao động hơn thị trường, do đó có thể nó sẽ phải chịu rủi ro cao hơn bình thường và cũng có thể có những kết quả tốt hơn thị trường. Trong khi những ngành công nghiệp đã trải qua một thời gian phát triển như sản xuất ô tô, hàng không, giấy, thép thường ít biến động giá cả hơn. Và thông thường chúng chỉ làm những cuộc chạy ngắn ngủi khi tăng giá. 

Đồng thời chúng ta cũng cần theo dõi thị trường để nhanh chóng nhận ra rằng việc lên hay xuống giá của một nhóm kinh doanh là do tình hình kinh doanh của cả nhóm ngành hay đơn giản chỉ là sự thay đổi của một vài công ty. Do cách tính có tính đến quy mô của công ty hãy thận trọng với các biến động của từng nhóm ngành, có thể sự xuống giá của một công ty lớn như Microsoft sẽ ảnh hưởng đến giá cả của ngành công nghiệp phần mềm trong khi các công ty khá vẫn chưa có thay đổi gì đáng kể.



Lo chăng khi giá chứng khoán xuống?

Câu trả lời là không. Tôi xin giải trình.



Thứ nhất, thị trường chứng khoán TTCK của ta chưa là một cơ cấu, giống như răng với môi, để khi giá chứng khoán xuống nó sẽ tác động lên các công ty phát hành, và vì họ mà nền kinh tế bị xấu đi. 

Từ trước đến giờ sự lên giá của chứng khoán không phản ánh hiệu quả kinh doanh của các công ty niêm yết thì nay nó xuống cũng chẳng ảnh hưởng gì đến họ. Hai cái này đáng lẽ ra phải giống như "môi hở răng lạnh", nên được gọi là cơ cấu. Khi nói đến giá cả cửa chứng khoán, người có trách nhiệm quản lý nhìn nó theo cơ cấu. Giá xuống chỉ tạo nên lo âu khi do cơ cấu mà ra vì nó sẽ lâu dài, còn nếu do tâm lý thì không ngại vì nó ngắn và không tạo ra một sự tai hại cho nền kinh tế. Điều này giống như trong nhà của bạn có một hệ thống bơm nước mà nước rò rỉ từ một vết nứt của đoạn ống ngoài cùng chứ không phải từ một chỗ rạn của máy bơm, dẫu cả hai cùng là nước rò rỉ cả. 

Để lập luận, xin nêu lại rằng cơ cấu của TTCK là: i nơi huy động vốn của công ty khi họ có những dự án kinh doanh sinh lợi và thường làm ăn lời lãi; ii công ty báo cáo đầy đủ và kịp thời cho người đầu tư; iii người đầu tư biết là có rủi ro khi mua chứng khoản và bỏ tiền ra dựa theo sự đánh giá hiệu quả kinh doanh của công ty; và iv chính quyền canh chừng công ty trong việc họ thực hiện nghĩa vụ với nhà đầu tư. Khi những yếu tố này tương tác với nhau thì chúng tạo thành cơ cấu cho TTCK. Ta thiếu những yếu tố này nên chưa có một cơ cấu để giá chứng khoán tác động theo kiểu "môi hở răng lạnh". 

Nếu ta nhớ lại, các công ty niêm yết đầu tiên là do được khuyến khích chứ không phải vì họ cần thêm vốn. Các công ty tham gia sau là vì muốn tên tuổi mình được biết đến nhiều hơn là cần vốn. Vậy yếu tố i ở trên không có. Ở các nước khác, công ty quảng bá mình bằng thương hiệu chứ không bằng TTCK vì nơi này kiểm soát họ kỹ lắm. Ở ta mà dám quảng cáo kiểu kia là vì người đầu tư chưa kiểm soát nơi họ giao tiền. Vậy yếu tố iii không có. Điều này làm cho yếu tố ii trở thành tùy tiện. Giá chứng khoán đã lên vùn vụt một thời là vì trước khi niêm yết công ty đã bán gần hết chứng khoán trong thời kỳ cổ phần hoá rồi. Số chứng khoán bán ra thì ít mà số muốn mua vào nhiều nên giá tăng. Giá kia là giá tâm lý, tức là dựa trên sự ưa chuộng, sự nghe theo; chứ không phải trên giá trị của chứng khoán, tức là hiệu quả kinh doanh của công ty. Người đầu tư chen nhau mua từ tờ mờ sáng ở các công ty chứng khoán, chẳng xem xét gì đến công ty phát hành. Thậm chí vào thời kỳ đầu, các công ty phát hành chỉ nộp bản cáo bạch lên cho cơ quan thẩm quyền CQTQ trong quá trình xin niêm yết mà chẳng đoái hoài là bao đến nhà đầu tư khi phát hành. Ít người mua chứng khoán đi tìm bản cáo bạch, mà tìm cũng không ra. Khi giá lên cơn sốt thì CQTQ không còn canh chừng mà đã can thiệp. Và để biện minh việc phải can thiệp thì hồi đầu đã tuyên bố là thị trường có đầu cơ. Giá cả chứng khoán từ đó do CQTQ ấn định để các nhà đầu tư mua đi bán lại với nhau. Cho chắc ăn cơ quan này còn định ra số lượng chứng khoán được mua bán mỗi lần. Y như chế độ tem phiếu cho nhu yếu phẩm ngày xưa vậy. Từ một món hàng của niềm tin do công ty phát hành đưa ra, chứng khoán ở ta biến thành ... hộp sữa. Do cách quản lý "hộp sữa", các công ty niêm yết đã không còn can dự vào giá chứng khoán của họ nữa. Họ vô can, CQTQ định giá món hàng và để đề phòng giá thay đổi thì đã nói đến quỹ hỗ trợ chứng khoán y như cho hàng hoá xuất khẩu vậy. Tuỳ theo sự tiên đoán về các biện pháp của CQTQ mà nhà đầu tư mua vào hay bán chứng khoán ra. Sốt hay lạnh của giá chứng khoán trước kia là như thế. Từ ít lâu nay CQTQ ít can thiệp hơn, số công ty phát hành tăng thêm, hàng có nhiều hơn và do đó giá xuống. Nhiều nhà đầu tư đã mua với giá cao trước kia nay thấy tiền của mình mất đi từng ngày thì phải bán. Càng nhiều người bán thì giá càng xuống. Công ty phát hành vẫn vô tư vì số cổ phiếu họ đã bán cho công chúng trên TTCK không nhiều. Nếu có tốn kém về việc này thì họ có thể an ủi rằng chi phí quảng cáo có khi còn cao hơn. Người đầu tư bây giờ bán đi thì trách móc là công ty coi thường mình. Không ạ họ vẫn vậy! 



: books -> ke-toan-tai-chinh-thue
ke-toan-tai-chinh-thue -> Bài tập Kiểm toán căn bản  gv : ncs. ThS phan Thanh Hải LỜi ngõ
ke-toan-tai-chinh-thue -> GIẢI ĐỀ kiểm tra: KẾ toán thưƠng mạI ĐỀ SỐ 1: (đvt: 000đ) ok
ke-toan-tai-chinh-thue -> TÀi liệU 138 câu trắc nghiệm môn Thanh toán quốc tế (Kèm lời giải) MỤc lụC
ke-toan-tai-chinh-thue -> SƠ ĐỒ ĐỊnh khoản kế toán sơ ĐỒ KẾ toán sản xuất-giá thành sản phẩM
ke-toan-tai-chinh-thue -> A, b, c, d và đánh dấu X vào bảng trả lời Câu 1
ke-toan-tai-chinh-thue -> TRƯỜng đẠi học kinh tế luật tphcm bộ MÔn kinh tế ĐỐi ngoại môn quản trị TÀi chính công ty đa quốc gia
ke-toan-tai-chinh-thue -> Câu hỏi lý thuyết và vấn đáp môn tín dụng ngân hàng


1   ...   8   9   10   11   12   13   14   15   ...   32


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương