Dapandethi. Blogspot. Com đẠi học quốc gia hà NỘi trưỜng đẠi học khoa học xã HỘi và nhân văn khoa báo chí



tải về 460.84 Kb.
trang1/4
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích460.84 Kb.
  1   2   3   4


DAPANDETHI.BLOGSPOT.COM
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA BÁO CHÍ



BÀI TẬP CUỐI KỲ

MÔN: LỊCH SỬ BÁO CHÍ THẾ GIỚI

Đề bài: Các xu hướng phát triển của báo chí thế giới
Giảng viên : Th.S Bùi Tiến Dũng

Lớp: K50 Báo chí (hệ chính quy)

Nhóm: 6


MỤC LỤC

KHÁI QUÁT CHUNG 3

CHƯƠNG II – XU HƯỚNG CỤ THỂ VỚI TỪNG LOẠI HÌNH 30

TÀI LIỆU THAM KHẢO 94

DANH SÁCH NHÓM 6 LỚP K50 BÁO CHÍ – ĐH KHXHNV 95


KHÁI QUÁT CHUNG

Theo từ điển tiếng Việt (Viện khoa học xã hội Việt Nam năm 1992 - trang 1135), “Xu hướng” có nghĩa là xu thế thiên về một chiều nào đó. Sự thiên về những hoạt động nào đó nhằm một mục tiêu có ý nghĩa đối với bản thân trong một thời gian lâu dài.

Từ định nghĩa đó, ta có thể hiểu Xu hướng báo chí đó là xu thế thiên về một chiều hướng nào đó của báo chí, có mục tiêu, ý nghĩa và ảnh hưởng trong thời gian dài. Tác động đến hệ thống báo chí của thế giới.

Báo chí từ ngày đầu ra đời đã liên tục có những thay đổi để tiến xa hơn. Từ tờ báo chỉ là những bản chép tay rồi đến những bản báo in đầu tiên và phát triển cho tới đa phương tiện như ngày nay, tất cả điều đó đều là kết quả của quá trình phát triển lâu dài với nhiều thách thức. Tùy theo điều kiện lịch sử và xu hướng của công chúng, hệ thống báo chí có những bước đi riêng của mình để đáp ứng lại những điều đó. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, báo chí cũng chịu phần nào ảnh hưởng.

Việc nghiên cứu các xu hướng của báo chí thế giới sẽ góp phần hiểu rõ hơn đặc điểm, thực trạng của nền báo chí toàn cầu hiện nay. Qua đó có cách thức, giải pháp cho phù hợp với tình hình chung.

Được giao tìm hiểu về các xu hướng phát triển của báo chí thế giới, nhóm 6 phát triển đề tài theo hướng tìm hiểu chung về các xu hướng đang diễn ra trên thế giới, rồi đi cụ thể vào từng loại hình báo chí. Trong quá trình tìm hiểu, nhóm cố gắng lý giải nguyên nhân và điều kiện dẫn tới các xu hướng đó và dự đoán hướng phát triển trong tương lai. So sánh các xu hướng đó với thực tại nền báo chí Việt Nam.

Trong quá trình tìm hiểu sẽ không tránh khỏi những thiếu xót, mong nhận được sự góp ý của thầy và các bạn.

CHƯƠNG I – XU HƯỚNG CHUNG CỦA BÁO CHÍ THẾ GIỚI


  1. Toàn cầu hóa thông tin

Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hoá, kinh tế, v.v. trên quy mô toàn cầu.

Toàn cầu hóa thông tin đó là quá trình thông tin ở khắp mọi nơi trên thế giới được truyền tải liên tục, nhiều chiều và dễ dàng tới cho công chúng.

Ngày nay, ở bất kì đâu bạn cũng đều có thể nắm bắt được toàn bộ thông tin của thế giới trong ngày qua. Đó là kết quả của quá trình toàn cầu hóa thông tin. Thông tin tại mọi ngóc ngách của trái đất được các hãng truyền thông cung cấp một cách nhanh chóng và chính xác tới cho mỗi công dân. Bạn đang ngồi ở nhà và có thể theo dõi tình hình đang diễn ra ở Iraq hay ở Mĩ, hay như tình hình giá xăng dầu trên thế giới hiện nay… điều sẽ ảnh hưởng tới cuộc sống của bạn



1.1 Điều kiện hình thành toàn cầu hóa thông tin

Những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học kĩ thuật trong các lĩnh vực đăng tải, in ấn tạp chí, báo, sự phát triển các công nghệ phát thanh truyền hình và đặc biệt là internet đã cho phép những thông tin từ một quốc gia có thể được biết đến trên toàn thế giới. Quá trình toàn cầu hóa thông tin được gắn với những thành tựu mới nhất trong kỹ thuật thông tin liên lạc và điện tử. Thông tin trong khoảnh khắc được truyền tải tức thời tới cho người xem và người đọc. Điều đó cho phép hàng triệu người được chứng kiến và tham gia vào các sự kiện.

Mạng internet bao phủ toàn cầu, nhờ đó mà người sử dụng có khả năng nhận được thông tin cần thiết từ các hãng tin một cách dễ dàng. Sự xâm nhập của tiến bộ khoa học kĩ thuật vào các hoạt động báo chí là điều rõ ràng và dễ nhận thấy. Việc áp dụng rộng rãi kỹ thuật điện tử, truyền tải dữ liệu xuyên biên giới, việc hình thành mạng lưới thông tin toàn cầu đã góp phần đưa tin tức nhanh chóng tới công chúng. Điều đó là cần thiết cho một xã hội đang phát triển nhanh.

Một điều kiện thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa nữa là nhu cầu thông tin của công chúng ngày một gia tăng. Các cơ quan báo chí muốn đáp ứng nhu cầu đó thì cần phải đẩy mạnh việc khai thác sự đa dạng của thông tin, không thể bó hẹp thông tin trong phạm vi một quốc gia hay một khu vực.



1.2 Biểu hiện của toàn cầu hóa thông tin

Biểu hiện rõ nhất là việc hình thành rất nhiều hãng thông tấn, hãng tin chuyên khai thác tin tức trên khắp thế giới rồi bán lại cho các cơ quan thông tấn trên thế giới. Với sự chuyên biệt này, các cơ quan báo chí chỉ cần mua lại tin từ các hãng thông tấn đó là có thể có đủ tin tức trên thế giới cung cấp cho công chúng của mình.

Biểu hiện thứ hai đó là thông tin ở mọi nơi được cập nhật liên tục và nhiều chiều. Nếu như trước kia, chỉ những thông tin quan trọng và có ảnh hưởng lớn mới được đề cập, thì ngày nay những thông tin về những con người bình thường ở mọi nơi đều có thể được nhắc tới. Thông tin về những nhân vật nổi tiếng không còn chỉ là thông tin riêng của một quốc gia mà đã trở nên nguồn tin nóng cho những người quan tâm trên thế giới.

Tuy nhiên một vấn đề đặt ra là liệu các thông tin được toàn cầu hóa đó liệu có trung thực? Các chuyên gia đã nhận xét, quốc gia nào làm chủ được thông tin thì quốc gia đó sẽ giành chiến thắng. Không ai dám chắc những thông tin mà các hãng tin đưa ra không mang màu sắc chính trị, phục vụ cho một đảng phái, một nền chính trị nào đó. Điều đó là dễ hiểu trong thời đại thông tin có vai trò quan trọng như ngày nay. Các chính phủ phải điều tiết các dòng thông tin trong tầm kiểm soát của họ, đưa ra những tin tức có lợi và theo những mưu đồ chính trị được tính toán kĩ.

Không thể phủ nhận những thành tựu của công cuộc toàn cầu hóa thông tin đem lại. Truyền hình, phát thanh, internet, báo chí đã và đang tác động về tình cảm, tư tưởng của công chúng tiếp nhận thông tin, bất kể khoảng cách từ họ tới nguồn thông tin là bao nhiêu. Sự kết hợp giữa thông tin toàn cầu và lợi ích khu vực làm cho hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng trở nên hữu hiệu hơn nếu xét từ góc độc hình thành và thao túng công luận.


  1. Quốc tế hóa báo chí

Trong bối cảnh thông tin toàn cầu đang phát triển, các tập đoàn truyền thông, các cơ quan báo chí đều muốn đẩy mạnh ảnh hưởng của mình tở các quốc gia khác. Chính vì vậy mà họ cố gắng đưa tờ báo của mình ra khỏi khuôn khổ của một quốc gia.

Quốc tế hóa báo chí là hình thức mà một tờ báo, ấn phẩm báo chí được phát hành ở nhiều quốc gia, hoặc phát hành ở quốc gia này nhưng được bán ở quốc gia khác.

2.1 Biểu hiện của quốc tế hóa trong lĩnh vực báo in

  • Báo chí in ấn ở nước này, nhưng lại được phát hành ở nhiều nước trên thế giới.

  • Báo chí in ấn ở nhiều nước cùng một lúc (thí dụ Nhân dân Nhật báo của Trung quốc, tạp chí Tuyển tập (Readers Digest)

  • Hai nước liên kết với nhau xuất bản một số báo

  • Cơ quan báo chí mở nhiều chi nhánh ở nước ngoài

  • Các tập đoàn báo chí phát triển những tờ báo cho khu vực riêng với ngôn ngữ của khu vực đó.

    1. Biểu hiện của quốc tế hóa báo chí trong lĩnh vực phát thanh

  • Biểu hiện lớn nhất trong lĩnh vực phát thanh đó là xu hướng phát sóng ra nước ngoài của các tổ hợp truyền thông.

  • Có tổng số: 80 đài phát thanh ra nước ngoài, phát thanh tới 20.000 giờ trong tuần, bằng 48 thứ tiếng, phủ sóng toàn cầu.

  • Một số đài tiêu biểu như :

- VOA của Mỹ phát 2001 giờ/ tuần với 40 thứ tiếng

- BBC của Anh phát khoảng 120 giờ/ ngày với 38 thứ tiếng

- Làn sóng Đức phát 100 giờ/ ngày, với 40 thứ tiếng

- Đài CRI (Trung quốc) phát sóng 680 giờ/ngày với 43 thứ tiếng



  • Những điểm cần chú ý về nội dung:

- Đài phát thanh ra nước ngoài của các nước không có lợi cho nước chủ nhà về mặt kinh tế nhưng quan trọng về mặt chính trị nên được nhà nước quan tâm

- Về cơ cấu tổ chức có nét đặc biệt (có phòng PR - nghiên cứu nhu cầu công chúng, ban dạy tiếng nước ngoài)

- Những nội dung cần chú ý trong thông tin của các nước tư bản qua đài phát thanh:


  • Mô tả các nước tư bản giàu có thanh bình, là mô hình của nhiều nước vươn tới.

  • Không đưa ra đầy đủ những mặt trái, mặt tiêu cực của xh TBCN để công chúng phê phán

  • Đồng nhất mục tiêu chế độ tư bản chủ nghĩa với chủ nghĩa cộng sản

  • Phê phán chủ nghĩa Mác , chống phá các nước XHCN, tăng cường các chiến lược diễn biến hòa bình

    1. Biểu hiện quốc tế hóa báo chí trong lĩnh vực truyền hình

  • Lợi thế của thông tin trong lĩnh vực truyền hình đó là sử dụng hình ảnh

  • Xu thế nhiều đài truyền hình trên thế giới phát các chương trình truyền hình đối ngoại

  • Tăng cường các chương trình phát hình gắn với lồng tiếng hoặc có chữ dịch hiện trên màn hình

  • Hình thành nhiều đài truyền hình của khu vực, đài truyền hình cho châu lục, hoăc đài của các tập đoàn báo chí dành riêng cho khu vực.

    1. Biểu hiện của quốc tế hóa báo chí trong lĩnh vực thông tấn

  • Thu thập thông tin nước ngoài đầy đủ, chính xác là nghĩa vụ và trách nhiệm của các hãng thông tấn

  • Đa dạng hóa các loại hình thông tin: hình ảnh, âm thanh, các văn bản...

  • Số lượng ấn phẩm báo ảnh càng ngày càng phát triển

  • Liên kết các hãng thông tấn quốc tế

    1. Biểu hiện của quốc tế hóa báo chí trong lĩnh vực báo mạng

  • Hình thành những trang web của các cơ quan báo chí.

  • Các phiên bản của báo in được cập nhật thông tin nhanh chóng

  • Hình thành những dịch vụ thông tin mới như chat, thư điện tử, điện thoại qua mạng

  • Thông tin nhanh chóng, vượt qua mọi trở ngại về không gian và thời gian,

  • Cần có trình độ cao để có thể loại bỏ thông tin nhiễu, thông tin không có độ tin cậy, thông tin rác rưởi.

  1. Thương mại hóa báo chí

Khái niệm thương mại hóa báo chí hiện nay vẫn còn có nhiều tranh cãi. Có nhiều người cho rằng không nên dùng từ thương mại hóa đối với báo chí, vì điều đó có thể gây hiểu sai là các tờ báo đang “lá cải hóa”

Tuy nhiên nhóm cũng xin tự đưa ra cách hiểu của mình về “thương mại hóa báo chí”. Đó là một quá trình mà các cơ quan báo chí tìm cách tăng thu nhập cho mình bằng các hoạt động kinh tế khác bên cạnh việc kinh doanh các loại hình báo chí thông thường. Đó có thể là các hoạt động quảng cáo cho các sản phẩm, thâu tóm các khâu trong quá trình làm báo: in ấn, phát hành… phát triển thêm các dịch vụ giá trị gia tăng trên tờ báo hoặc cũng có thể tham gia và các lĩnh vực kinh tế khác.



3.1 Điều kiện hình thành thương mại hóa báo chí

Sau cuộc “cách mạng thương mại” những năm 1830 – 1840, các phương tiện thông tin đại chúng trở thành những doanh nghiệp tư bản sinh lời, vì vậy bản thân chúng cũng chịu sự tác động của tất cả các quy luật của hoạt động kinh doanh: cạnh tranh và hạn chế cạnh tranh, tập trung hóa, độc quyền hóa và những luật lệ khác. Tất cả những điều đó để lại dấu ấn trong hoạt động báo chí hằng ngày và hoạt động của những tổ chức hữu quan. Chính vì sau “cuộc cách mạng thương mại”, những nguồn thu của báo chí định kỳ chủ yếu đến từ quảng cáo chứ không phải từ số lượng phát hành nên những tổ chức đặt in quảng cáo bắt đầu hướng đến những ấn phẩm có số lượng phát hành cao nhất. Điều đó làm cho các nhà báo phải thay đổi nội dung và cách trình bày ấn phẩm.

Trong lĩnh vực kinh tế thị trường và trong bối cảnh tương mại hóa toàn cầu, hầu như mọi lĩnh vực nghề nghiệp đều chịu ảnh hưởng của lợi ích về quảng cáo và thương mại. Họ nhận ra vai trò của quảng cáo trên báo chí đối với tư duy của khách hàng. Báo chí cũng nhận ra điều đó. Nhà tài phiệt truyền thông như Rupert Murdoch đã cho chúng ta thấy kinh doanh từ các loại hình truyền thông đem lại lợi nhuận khổng lồ như thế nào. Hoạt động tổ chức của mọi phương tiện thông tin đại chúng đều nhằm đạt được hiệu quả cao về phương diện kinh tế - tài chính, cũng như các phương diện tư tưởng. Nếu chỉ xét về phương diện kinh tế của vấn đề thì cần nêu rõ rằng để đạt được mức sinh lời cao khâu quản lý ở các báo và tạp chí, các đài phát thanh truyền hình cũng phải được xây dựng theo những nguyên tắc giống như những nguyên tắc trong điều hành các doanh nghiệp.

3.2 Biểu hiện của thương mại hóa báo chí

Hiện nay những nguồn thu chủ yếu của mọi ấn phẩm đều gồm:


  • Những khoản thu tài chính từ quảng cáo

  • Những khoản thu nhờ bán báo, phát sóng…

  • Những khoản thu từ các hoạt động thương mại dưới các hình thức khác

  • Những khoản tiền đóng góp từ bên ngoài.

Và nền tảng cho những khoản thu bằng tiền này là khoản thu từ quảng cáo đem lại.

Từ khi khai sinh, mục đích thương mại của báo in đã rất rõ rằng. Tờ Anzeiger (người quảng cáo) xuất bản ở Dresden (Đức) năm 1730, theo nhà nghiên cứu Anthony Smith, đã tự cho mình là phục vụ tất cả những ai trong hay ngoài thành phố muốn mua bán, cho thuê hay đi thuê, cho vay hay đi vay. Ở Mỹ, trong thời gian thuộc địa, thương mại đó là một yếu tố tiên quyết của báo chí. Nhu cầu về buôn bán hàng hóa tiêu dùng, đặc biệt thông tin về những tuyến tàu chở hàng từ bên kia đại dương đã để lại kết quả là các tờ báo ban đầu hầu hết gắn với từ “người quảng cáo” (Advertiser) trên vi-nhét.

Bất kì một tờ báo nào, một tạp chí hoặc một ấn phẩm niên giám nào cũng dành một vài trang cho quảng cáo. Hiện chính quảng cáo là nguồn thu chủ yếu của ấn phẩm. Tùy thuộc vào điều kiện phát hành, truyền thống dân tộc và tình hình kinh tế, ở từng nước các khoản thu từ quảng cáo của các phương tiện thông tin đại chúng có khác nhau. Ở Tây Ban Nha là khoảng 80%, ở Mỹ là 75% và ở Pháp là khoảng 60%

Sức ép về kinh tế đã buộc các cơ quan báo chí bước vào cuộc cạnh tranh dữ dội để thu hút độc giả, thay đổi trong cách thu hút quảng cáo. Nhiều cơ quan đã tiến hành hàng loạt chiến lược để thương mại hóa sâu xa hơn ngành công nghiệp này, khiến cho các mối quan tâm thương mại ngang với hoặc quan trọng hơn chất lượng của xã luận hay trách nhiệm với xã hội. Riêng ngành công nghiệp báo in Mỹ: thu nhập tăng từ 12,2 tủy đô la Mỹ vào năm 1975 lên 54,4 tỷ đô la năm 2000. Nói cách khác, báo in đã thu nhập tăng gấp 2,5 lần từ quảng cáo năm 2000 so với năm 1950. Trong vòng 30 năm qua, lượng nội dung quảng cáo trong báo in Mỹ vượt trên 60% (Báo chí & tuyên truyền 6/2006 trang 43)

Việc các tờ báo hiện nay coi trọng tin tức thương mại hơn và phụ thuộc vào quảng cáo để tăng thu nhập đã khiến cho độ tin cậy vào các tin bài bị giảm xuống, sự tin cậy của công chúng với các nhà báo bị tổn hại nhiều.

Thủ tướng Vajpayee của Ấn Độ, trong cuộc phỏng vấn với BBC năm 2003 đã nói lên mối lo ngại về sự gia tăng tính thương mại và tính giật gân trong báo chí. Ông nhấn mạnh các loại hình báo chí phải thể vai trò quan trọng của mình bằng tính có tư tưởng và giá trị: “Nếu không có lý tưởng, báo chí sẽ trở thành hàng hóa và không thể tác động đến suy nghĩ của độc giả nữa”. Ở Đài Loan, giáo sư báo chí Kuan Chung-Hsiang, Đại học Shih Hsin đã tiên đoán rằng trong tương lai gần các loại hình báo chí Đài Loan sẽ tiếp tục xuống cấp vì ảnh hưởng của các nhóm lợi ích chính trị và thương mại. Ở Úc, khi các nhà báo mới bị coi là “người kinh doanh nhỏ hiệu quả” đang cung cấp sản phẩm của họ cho người dân, nhà nghiên cứu Katrina Mandy Oakham tin vào sự đổi thay lớn mà các nhà báo không còn là người giám sát xã hội hay các thành viên ưu tiên của “quyền lực thứ tư” nữa mà “họ là những doanh nhân sản xuất hàng hóa phục vụ thị trường”. Nhà báo Michelle Grattan thậm chí cho rằng “tính thương mại” đã nổi lên như là “giá trị cốt lõi” của báo chí. Như vậy, điều mọi người lo ngại có thể đã thành hiện thực: báo chí được xem như là hàng hóa.

Vai trò của nhà báo đã thay đổi sâu sắc nếu chúng ta đồng ý với ý tưởng của Simon Canning trên tờ The Autrailian: “Mọi thứ có thể sẽ thay đổi và nhà báo sẽ sớm thấy công việc của họ không chỉ là phản ánh sự kiện, mà chính là phương tiện mà các nhà quảng cáo phát tán thông điệp của mình”. Thậm chí báo chí và thương mại luôn sát cánh kề vai, Canning cũng chỉ ra rằng quảng cáo đã kiếm được rất nhiều lợi nhuận bằng cách đặt các thông điệp quảng cáo của họ cạnh tin tức. Như thế, các nhà báo đã “bị ép” để cho ra những tin tức thương mại giống như thế trở thành tin tức”.

Internet cung cấp một môi trường tuyệt vời cho ngành quảng cáo và do đó báo chí điện tử dù muốn hay không cũng bị ảnh hưởng. Một ví dụ mà Canning đưa ra là phần mềm quảng cáo có tên là IntelliTXT của công ty quảng cáo trực tuyến Vibrant Media ở Mỹ. Khi các nhà quảng cáo sử dụng hệ thống này, họ có thể biến hàng trăm từ trong bài báo có tiềm năng gây thu hút về sản phẩm của họ mà bạn đọc có thể đọc sang dạng có kết nối đến quảng cáo. Và chỉ cần di con chuột tới vị trí từ đó, một màn hình nhỏ sẽ hiện ngay ra mời gọi người đọc nhấn vào trang quảng cáo chính thức. Ứng dụng này khiến các chuyên gia báo chí Mỹ lo ngại về việc nhà báo chọn từ khi viết, bởi họ sẽ hướng tới những từ dễ được chuyển sang kết nối tới trang quảng cáo. Sự can thiệp khá sâu cả về nội dung và hình thức này rõ ràng đã ảnh hưởng đến tính chính xác, sự công bằng và đạo đức báo chí.



3.3 Ảnh hưởng của thương mại hóa với báo chí

Trong bối cảnh thương mại hóa báo chí, Lynette Sheridan Burns cho rằng các nhà báo ngày nay luôn phải tìm cách dung hòa giữa cạnh tranh nghề nghiệp, quan tâm thương mại và trách nhiệm đạo đức liên quan đến việc khai thác thông tin và thể hiện thông tin. Bà cho rằng “báo chí là một công việc phức tạp – cố gắng làm hài lòng tổng biên tập – ông chủ của bạn, bản thân bạn và toàn bộ độc giả”

Vì các cơ quan báo chí là các doanh nghiệp, các nhà báo phải làm hài lòng ông chủ mình và để làm điều đó, họ phải tuân thủ những nguyên tắc riêng của phòng tin”. Quy tắc này có thể là nhà báo phải hiểu cơ quan mình sẽ chọn cái gì đưa tin và cái gì không. Những yếu tố này không thể nói là không làm khó xử cho họ và họ sẽ quen với việc được bảo là làm gì, hơn là làm điều mình muốn.

Tuy nhiên ở các nước phương Tây họ có một giải pháp, đó là tách biệt các hoạt động quảng cáo với phần hoạt động báo chí đích thực. Điều đó giúp cho bản chất của tin tức sẽ không bị ảnh hưởng, thông tin vẫn chính xác và đảm bảo sự trung thực. Ở đa số các quốc gia, người ta nghiêm cấm hình thức quảng cáo lén lút, núp dưới các bản tin, tin tức. Một vài nước còn đưa ra cả luật lệ cho việc đó.

Trong báo chí, cũng như những ngành nghề khác, thời gian là tiền. Các tổng biên tập luôn muốn có nhiều tin hơn trong thời gian ngắn hơn, áp lực đặt lên nhà báo. Hậu quả là họ có thể trở thành những cỗ máy được lập trình để hoạt động. Họ thiếu thời gian để nghiên cứu, điều tra, để tìm hết các ngóc ngách, phương diện của vấn đề. Nhiều khi các ông tổng biên tập muốn mọi phương diện của một câu chuyện tội phạm đi quá cả phạm vi giá trị thông tin câu chuyện bởi họ có thể in nhiều bản hơn để bán. Ngược lại cũng có những câu chuyện không bao giờ được khám phá bởi chi phí lớn về việc đi lại hoặc chúng không giúp bán được nhiều báo

Vấn đề khác của báo chí hiện nay liên quan đến tính thương mại là báo chí trả tiền cho nguồn tin bằng các tấm séc (chequebook journalism). Tuy nhiên vấn đề này vẫn con tranh cãi, nhưng cho thấy báo chí dùng tiền để mua tin là chuyện bình thường. Theo Hargreaves, checkbook journalism nghĩa là báo chí trả tiền cho nguồn tin, thậm chí là tội phạm đang chờ xét xử, để khai thác các câu chuyện, không quan tâm tới hiệu quả của sự can thiệp của đồng tiền có thể có đối với tính tin cậy của thông tin. Câu hỏi đặt ra là: liệu nhà báo sẽ có những thông tin trung thực từ nguồn tin hay không? Nếu nguồn tin đòi tiền thì động cơ của họ là gì?

Nhưng đối với McClellan, một cựu chuyên gia các vấn đề thời sự của kênh truyền hình số 9 và số 7 của Úc, các tấm séc là việc việc cần thiết cho việc thực hành nghề báo. McClellan cũng cho biết tiền được chi ở Úc chỉ bằng phần nhỏ so với Anh, Mỹ và hầu hết tiền được trả là nhỏ hơn 10.000 đô là và số tiền lớn nhất được trả cũng không khác mấy so với 20 năm trước. Hầu hết chi phí séc ở Úc là cho những câu chuyện cá nhân nổi bật như Delta Goodrem và Belinda Emmett. Ở Anh hay Mỹ, phí séc ngày càng cao hơn và nhiều hơn. Monica Lewinsky được cho là đã bỏ túi khoảng 400.000 bảng cho một cuộc phỏng vấn năm 1999 sau vụ scandal với cựu tổng thống Mỹ.

Bối cảnh của các nước tư bản là trong nền kinh tế thị trường, khi mỗi cơ quan báo chí là một doanh nghiệp, nó phải nghĩ trước tiên đến việc làm sao để sống còn, rồi mới nghĩ đến việc truyền tải thông tin đến cho độc giả của mình. Nghịch lý là nhu cầu cao về thắng lợi kinh tế khó có thể đảm bảo một nền báo chí công bằng và trách nhiệm. Điều đáng lo ngại là quan tâm đến lợi ích kinh tế đã không chỉ là do sức ép bên ngoài, mà nó có thể phát sinh từ bên trong, ngay ở “tim” của mỗi cơ quan báo chí. Vậy cái hứa hẹn nền báo chí tốt, vì lợi ích xã hội thực sự lại đặt lên vai các nhà báo, với hệ thống chính trị nhân bản và nhận thức riêng, nằm trong phạm vi đạo đức nghề nghiệp. Điều 6, quy định đạo đức nghề nghiệp của Hiệp hội báo chí Úc nói: “Đừng để quảng cáo hay quan tâm thương mại làm tổn hại đến tính chính xác, công bằng hay độc lập của báo chí”. Quy định này còn có thể coi là lời kêu gọi rất có ý nghĩa với người làm báo hiện nay.



  1. Tập trung và độc quyền hóa báo chí

4.1 Khái niệm

Tập trung hóa báo chí là quá trình sáp nhập giữa các cơ quan báo chí, hoặc thôn tính, thâu tóm, bành trướng lẫn nhau giữa các cơ quan báo chí để hình thành nên các tập đoàn báo chí.

Độc quyền, trong kinh tế học, độc quyền là trạng thái thị trường chỉ có duy nhất một người bán và sản xuất ra sản phẩm, không có sản phẩm thay thế gần gũi. Tiếng Anh: monopoly có nguồn gốc từ tiếng Hy lạp monos (nghĩa là một) và polein (nghĩa là bán). Đây là một trong những dạng của thất bại thị trường, là trường hợp cực đoan của thị trường thiếu tính cạnh tranh. (vi.wikipedia.org)

Độc quyền hóa báo chí đó là tình trạng mà các các tập đoàn báo chí đã thâu tóm toàn bộ các cơ quan báo chí, biến mình trở thành duy nhất trên thị trường nhằm phục vụ mục đích riêng của mình.

4.2 Quá trình hình thành

Quá trình tập trung và độc quyền báo chí bắt đầu được hình thành từ năm 1892 khi mà Scripps cùng với người bạn là Macrê thành lập một mối liên kết giữa 5 tờ báo của họ. Ở Mỹ người ta đã tính toán rằng kề từ năm 1962 “các tập đoàn tài chính hữu quan” hàng năm đã mua lại khoảng 68 tờ báo độc lập. Năm 1979, số lượng bản phát hành của các tờ báo hằng ngày thuộc sở hữu của các tổ chức độc quyền chiếm đến 71% tổng số lượng bản phát hành của tất cả các báo. Đồng thời, trong số 38 tờ báo hằng ngày đã truyển về tay người chủ khác thì trong 7 tháng của năm 1979 đã có 34 tờ báo trở thành sở hữu của chính các tổ chức độc quyền.

Có một điều đáng lưu ý là chính những tập đoàn báo chí hùng mạnh thì lại càng tăng cường sự ảnh hưởng của mình về cả số lượng ấn phẩm và cả số lượng bản phát hành. Năm 1979 ở Mỹ, số lượng các tổ chức độc quyền từ con số 11 đã tăng lên 13 với tổng số lượng bản phát hành mỗi lần của các tờ báo đều vượt quá 1 triệu bản. Kết quả là 13 tổ chức độc quyền đó kiểm soát 42% tổng số các tờ báo hằng ngày và 50% tổng số các tờ báo chủ nhật. Ở Mỹ tồn tại 165 tập đoàn báo chí, chiếm 60% tổng số báo ra hằng ngày ở trong nước.

Ở Thụy Điển, xu hướng tập trung và độc quyền hóa báo chí thể hiện qua những chỉ số phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng – loại hình ấn phẩm – chuyển sang hệ thống “một thành phố - một tờ báo”, bởi vì số lượng các điểm dân cư có những tờ báo cạnh tranh nhau thì không ngừng giảm sút.




Sự phân bố các báo ở Thụy Điển

Năm

Các điểm dân cư có 2 tờ báo hoặc nhiều hơn

Các điểm dân cư chỉ có một tờ báo

1945

1950


1955

1960


1965

1970


1975

1980


1985

1990


1995

51

51

39



32

23

21



20

21

24



20

20


42

42

53



56

59

65



64

62

60



63

58


Chú thích: Những số liệu dẫn trên liên quan đến tờ báo xuát bản 3-7 lần trong một tuần.

Sự độc quyền thông tin quyết định rất nhiều về nội dung thông tin. Báo chí ngày nay là công cụ mạnh mẽ, nhiều nhánh và linh hoạt trong tay giai cấp thống trị và báo chí được giai cấp thống trị sử dụng một cách khéo léo nhằm mục đích “tẩy não” quần chúng, nhằm luận chứng và biện minh cho hành động gây tâm lý quân phiệt, nhằm bảo đảm sự ủng hộ đối với đường lối chính trị đang được thi hành.

Ví dụ, đại công ty “Gannett company”. Năm 1966 sở hữu 26 tờ báo hằng ngày và 6 tờ báo chủ nhật. Trong những năm 1980, nó có ảnh hưởng tới 88 tờ báo hằng ngày và 23 tờ báo tuần, 13 đài phát thanh và 17 đài truyền hình.

Theo sự tính toán của các chuyên gia Mỹ: 20 tập đoàn nắm trong tay hơn một nửa tổng số các tờ báo trong nước, 4 tập đoàn kiểm soát ngành truyền hình, 10 tập đoàn kiểm soát ngành phát thanh, 12 tập đoàn thống trị trong ngành xuất bản sách, 4 tập đoàn ngự trị trong ngành điện ảnh. Đầu những năm 1980 nếu như tất cả các thành phố Mỹ đều có những tờ báo ngày, thì 98% trong số đó đặt dưới quyền kiểm soát của một trung tâm, trong tổng số 1700 tờ báo hằng ngày ở Mỹ có hơn 1000 báo thuộc sở hữu “các mạng lưới”.




4.3 Biểu hiện của tập trung hóa, độc quyền hóa

- Quá trình giảm bớt số lượng của những tờ báo độc lập

Chẳng khó khăn gì để các ông trùm báo chí đóng cửa bất kỳ một ấn phẩm báo chí nào có hại cho lợi ích của họ. Sự tập trung và độc quyền hóa lĩnh vực báo chí dẫn tới một hệ quả là thông tin khi được đưa ra đã chịu một sự chi phối từ các ông trùm truyền thông khiến cho thông tin không còn chân thực và khách quan. Có nhiều cách khác nhau để tác động lên các cơ quan báo chí:


  • Thông qua việc tham gia tài chính trong cơ quan báo chí.

  • Thông quan việc kiểm soát các cơ quan tuyên truyền của chính phủ.

  • Thông qua việc lãnh đạo trực tiếp các tổ chức thông tin – tuyên truyền của các tổ chức kinh doanh lớn và trong việc lãnh đạo nhiều tổ chức xã hội.

  • Chiếm lĩnh các vị trí lãnh đạo trong các tổ chức báo chí lớn.

  • Thông qua quảng cáo có trả tiền là hoạt động không thể thiếu đối với sự tồn tại của các tờ báo, tạp chí, các đài phát thanh và truyền hình về phương diện tài chính.

Năm 1999, ở Mỹ trong tổng số 1489 tờ báo hằng ngày thì chỉ có 269 tờ nghĩa là 18% là những tờ báo độc lập còn lại thì đều thuộc quyền ở hữu của các tập đoàn báo chí. Tổng số các tờ báo hàng ngày cũng tiếp tục giảm. Năm 1998 đã có 20 tờ báo hằng ngày đóng cửa, tính đến tháng 2/1999 chỉ còn 1489 tờ báo. Trong 10 năm trở lại đây đã có 153 tờ báo hằng ngày chấm dứt tồn tại.Một trong những nguyên nhân dẫn đến việc này cũng phải kể đến sự thâu tóm của các tập đoàn báo chí đối với các tờ báo độc lập.

Quá trình tập trung và độc quyền hóa diễn ra một cách nhanh chóng, nhiều quốc gia đã nới lỏng luật pháp tạo điều kiện cho các tập đoàn truyền thông phát triển và tập trung hóa. Việc tập trung hóa và độc quyền hóa giờ đây không còn chỉ diễn ra trong một quốc gia nữa mà nó đã có sự tập trung xuyên quốc gia. Các tập đoàn truyền thông lớn muốn nâng cao ảnh hưởng của mình đã vươn xa tới các quốc gia khác và thâu tóm các cơ quan báo chí để phục vụ cho lợi ích của họ. Quá trình đó dẫn tới hình thành một mạng lưới tập đoàn báo chí Đa quốc gia.

Ngày nay quá trình tích tụ tư bản và độc quyền hóa các phương tiện thông tin đại chúng vẫn tiếp diễn. Không phụ thuộc vào các hình thức sở hữu và các phương pháp điều hành doanh nghiệp. Trong điều kiện hiện nay sự tập trung và độc quyền hóa các phương tiện thông tin đại chúng đang diễn ra theo một loạt định hướng. Những tổ chức độc quyền đang tồn tại thì gia tăng sự hùng mạnh của mình bằng cách không ngừng giảm số lượng các phương tiện thông tin đại chúng “độc lập”, các phương tiện thông tin đại chúng tăng cường quan hệ với các tập đoàn xuyên quốc gia, các cơ quan chính phủ đóng vai trò ngày càng lớn trong định hướng và thao túng các phương tiện thông tin đại chúng. Đã xuất hiện những doanh nghiệp thông tin đại chúng xuyên quốc gia với số tư bản “phân tán”, khi mà trên thực tế không thể xác định được chúng thuộc sở hữu quốc gia nào.


  • Sự ra đời của hàng loạt các tập đoàn báo chí lớn

Các công ty báo chí truyền thông ngày càng bành trướng mạnh mẽ bằng cách mua lại, sáp nhập, thôn tính các công ty nhỏ hơn không đủ sức cạnh tranh để thành lập nên các tập đoàn báo chí. Với việc bỏ ra hàng tỷ đô la, các ông chủ này đã đẩy nhanh những sự tập hợp mới trong lĩnh vực báo chí, truyền thông đại chúng, tạo ra quy mô hoạt động, sức mạnh ảnh hưởng vượt ra ngoài biên giới quốc gia, phạm vi khu vực. Điều này dẫn đến sự ra đời của hàng loạt các tập đoàn báo chí lớn trên toàn thế giới đặc biệt là ở các nước TBCN phát triển. Theo số liệu của Công ty nghiên cứu thị trường Dialogic, trong 5 tháng đầu năm 2007, trên toàn thế giới đã ghi nhận 372 bản hợp đồng sáp nhập, mua lại giữa các công ty, tập đoàn báo chí truyền thông với tổng giá trị lên đến 93,8 tỷ USD. Đáng chú ý nhất là hợp đồng sáp nhập giữa Google và Double Click, trị giá 3,1 tỷ USD hồi tháng 4-2007, hợp đồng sáp nhập giữa Yahoo với Right Media trị giá 680 triệu USD. (nhóm 3)

Thế giới đa dạng, các quá trình tập trung tư bản và độc quyền nắm giữ các phương tiện thông tin đại chúng ở các nước khác nhau đang diễn ra theo những cách khác nhau, tuy nhiên đó đều đang là xu hướng chung của nền báo chí truyền thông thế giới.



  1. Quá trình phân hóa và chuyên môn hóa

Qúa trình phân hóa và chuyên môn hóa cũng là một phần không kém quan trọng của báo chí. Đó là một phương thức trong đó một ấn phẩm báo chí chỉ tập trung vào một lĩnh vực cụ thể của đời sống, nhằm vào một lượng đối tượng công chúng xác định. cụ thể. Trong điều kiện toàn cầu hóa thông tin, các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng thực hiện mạnh hơn quá trình phân hóa và chuyên môn hóa, tạo cơ hội cho những tổ chức ấy tìm được vị trí xã hội của mình, hướng đến một tầng lớp dân cư hoàn toàn xác định, tác động có hiệu quả đến người đọc, người nghe và người xem.

Thông thường chúng ta phân các tờ báo căn cứ theo quy mô phát hành thành các tờ báo quốc gia, khu vực, địa phương. Xét theo tính chất định kỳ và thời gian ấn hành thì người ta phân các tờ báo thành báo hằng ngày và không ra hằng ngày, báo buổi sáng, báo buổi chiều. Xét theo tính chất và ý nghĩa xã hội thì các tờ báo được phân ra thành các tờ báo địa chúng, có chất lượng, các báo hỗn hợp.

Có thể phân chia các tạp chí thành hai nhóm lớn:

- Các tạp chí chuyên ngành và các tạp chí đáp ứng được “lợi ích chung”. Nhưng các tạp chí “lợi ích chung”, hay các tạp chí đại chúng lại phân thành các tạp chí thông tin, tạp chí giải trí…



  • Một số nhà nghiên cứu lại phân chia toàn bộ báo chỉ ở phương Tây ra làm 4 nhóm ấn phẩm. Đó là các ấn phẩm nông nghiệp, thương mại, chuyên ngành và các ấn phẩm đại chúng.

Những ấn phẩm chuyên ngành bao gồm nhiều ấn phẩm phục vụ tầng lớp dân chúng, có chung nghề nghiệp và có chung hình thức lao động. Mỗi loại ấn phẩm đều có những đặc điểm riêng và những dấu hiệu phân biệt. Tuy nhiên giữa chúng cũng có rất nhiều điểm giống nhau. Trước hết đó là khả năng tác động một cách có phân biệt đến những nhóm độc giả khác nhau.

Những ấn phẩm chuyên ngành chủ yếu tập trung vào những vấn đề khoa học và kỹ thuật – tập trung vào một lĩnh vực cụ thể. Các tạp chí chuyên ngành không chỉ phát hành ở trong nước mà còn phát ra nước ngoài. Nhiều ấn phẩm còn có chi nhánh ở nước ngoài. Nội dung của các ấn phẩm chuyên ngành này được tập trung vào một ngành nghề cụ thể do đó khu biệt được đối tượng khán giả.



Lợi ích của quá trình phân hóa và chuyên môn hóa: Đó là nó cho phép nâng cao hiệu quả của các bài vở của báo chí, đài phát thanh và truyền hình, sử dụng phương tiện sẵn có với hiệu quả cao nhất. Quá trình phân hóa giúp thiết lập ra được các ấn phẩm chuyên sâu vào một lĩnh vực, giúp cho công chúng có thể lựa chọn dễ dàng ấn phẩm phù hợp. Trong tương lai, việc khu biệt đối tượng và lựa chọn cho mình một lĩnh vực để kinh doanh truyền thông là một xu hướng tất yếu.

  1. Gia tăng mối quan hệ giữa báo chí và kỹ thuật

Kỹ thuật có một ảnh hưởng to lớn đối với sự phát triển chung của xã hội, truyền thông cũng là một lĩnh vực chịu sự tác động lớn của khoa học kỹ thuật. Trong quá trình phát triển của các phương tiện thông tin đại chúng, kỹ thuật đã và đang sẽ luôn giữ vai trò hàng đầu. Từ các hình thức truyền thống là thông tin truyền miệng từ một người này sang người khác cho đến những chữ viết cổ đầu tiên đã góp phần trao đổi thông tin giữa người với người. Thời kì đánh dấu bước ngoặt của sự phát triển báo chí đó là sự ra đời của máy in. Với sự ra đời của máy in vào vào năm 1455 do Johan Gutenberg phát minh. Đó được xem là châm ngòi cho nền công nghiệp giấy bùng nổ. Sự ra đời của máy in đã đơn giản hóa đi rất nhiều trong công đoạn làm báo, góp phần tăng lượng xuất bản, tăng chất lượng và hình thành một nền công nghiệp báo chí. Phát thanh – truyền hình ra đời cũng phải phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố kĩ thuật và để phát triển chất lượng tin bài phát thanh truyền hình thì cũng đồng nghĩa với việc nâng cao cơ sở vật chất kĩ thuật. Máy tính cùng với mạng internet ra đời đã đánh dấu sự đột phá với lĩnh vực truyền thông. Một loại hình phương tiện mới ra đời có thể truyền tải thông tin nhanh chóng kéo theo sự bùng nổ thông tin, điều này đã dẫn đến sự thay đổi hết sức triệt để trong các phương tiện thông tin đại chúng.

Việc áp dụng khoa học kĩ thuật, các công nghệ mới vào các phương tiện thông tin đại chúng đã dẫn đến những hệ quả xã hội quan trọng. Một trong những hệ quả ấy được giáo sư G.V.Giêccốp nêu ra trong báo cáo khoa học của mình đó là hình thành nên “Kỷ nguyên thông tin” (Information Era). Các quá trình thông tin hiện đại của xã hội có một trình độ trang bị kỹ thuật cho phép con người ngoài cái thế giới bao quanh mình – còn kiến tạo cho cái cá nhân mình một phạm vi thế giới ảo đặc biệt, sống trong thế giới ấy theo cách mà con người ưa thích và có được một sự tự do lựa chọn gần như tuyệt đối, điều mà con người chưa thực hiện được.

Để đáp ứng kịp nhu cầu thông tin của công chúng, cũng như thay đổi chính bản thân mình, báo chí cần phải biết phát huy những thành quả của khoa học công nghệ, đồng thời cũng phải tự nghiên cứu các kĩ thuật mới phục vụ cho quá trình cung cấp thông tin.

Ta có thể nhận thấy điều đó qua các loại hình báo chí đòi hỏi công nghệ cao: như truyền hình, các thiết bị để sản xuất ra một chương trình truyền hình phải đồng bộ, hiện đại… nếu như muốn có một chương trình chất lượng. Công nghệ sản xuất máy quay phim cho phép ghi lại những hình ảnh chân thực và rõ nét nhất. Công nghệ phát sóng giúp truyền tải hình ảnh đi nhanh và giữ được chất lượng.

Báo chí và kỹ thuật có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, sự phát triển của báo chí đòi hỏi kỹ thuật phải không ngừng phát triển để đáp ứng, còn sự phát triển của kỹ thuật sẽ giúp cho truyền thông phục vụ công chúng tốt hơn.


  1. Xu hướng đa phương tiện

7.1 Khái quát chung

Trong khoảng 10 năm trở lại đây, sự bùng nổ của internet đã tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội của con nguời và ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của báo chí thế giới.

Trước đó, các loại hình báo chí truyền thống (báo in, phát thanh, truyền hình) phát triển tương đối độc lập, mỗi loại hình có những ưu thế riêng không bị lấn át. Nhưng internet ra đời kéo theo sự ra đời của báo mạng, thông tin được cung cấp cho công chúng theo hình thức đa phương tiện sinh động, hấp dẫn hơn và đang là sự lựa chọn số 1 của lớp công chúng trẻ và tiếp tục ảnh hưởng tới lớp công chúng kế cận  Tương lai báo chí thuộc về truyền thông đa phương tiện (đi cùng sự phát triển của internet)

Có thể hiểu, “multimedia” hay “truyền thông đa phương tiện” là sự kết hợp của ngôn ngữ viết, ảnh, video, âm thanh, thiết kế đồ họa và các phương thức tương tác khác trên trang web nhằm truyền tải một câu chuyện, một vấn đề một cách đa diện, mỗi hình thức thể hiện góp phần tạo nên câu chuyện thuyết phục nhất và đầy đủ thông tin nhất. Đối với ngành báo chí nói riêng, đặc biệt là báo điện tử và các kênh truyền hình trực tuyến, phóng sự đa phương tiện chính là tương lai của sự phát triển.

Theo hình thức truyền thông thông thường (media), thông tin được truyền – phát đi bằng cách nghe, nhìn. Ví dụ một bản tin được đăng trên báo in, công chúng đọc tờ báo và tiếp nhận thông tin ấy. Nhưng cũng cùng thông tin ấy, khi thể hiện chúng trên Wedsite, ngoài bản text còn đính kèm hình ảnh, đoạn video có liên quan,… Công chúng tiếp nhận thông tin bằng nhiều giác quan khác nhau, với những hình thức thông tin khác nhau, đó là truyền thông đa phương tiện.



Multimedia = văn bản + hình ảnh + giọng nói + âm nhạc + video…= hiệu quả truyền thông - www.thecommunicationsgroup.com



7.2 Nguyên nhân báo chí phát triển theo hướng đa phương tiện.

  1. Sự phát triển của công nghệ truyền thông

Công nghệ truyền thông (Media Technology) là ngành bao gồm các lĩnh vực nghiên cứu công nghệ, kỹ thuật, loại hình thông tin (báo chí - truyền hình, radio; truyền số liệu; internet; di động; vệ tinh...); đánh giá và xây dựng các xu hướng, chiến lược phát triển hệ thống thông tin.

Trong khoảng những năm gần đây, công nghệ truyền thông phát triển mạnh mẽ với những bước đột phá bất ngờ: internet xóa nhòa khoảng cách thời gian – không gian trong việc tiếp cận thông tin trên toàn thế giới, hệ thống dịch vụ mạng di động tăng nhanh chóng, Phương tiện truyền thông kỹ thuật số đã bắt đầu phát triển và lan rộng ra toàn cầu,…

Sự phát triển của công nghệ truyền thông chính là một mặt sự phát triển của báo chí thế giới. Khi chưa có sự ra đời của internet, các loại hình báo chí truyền thống (báo in, phát thanh, truyền hình) phát triển tương đối độc lập, mỗi loại hình có những ưu thế riêng không bị lấn át. Khi internet ra đời và phát triển cùng một loạt tiện ích và sản phẩm công nghệ truyền thông đi kèm tạo nên một sức mạnh mới mà các loại hình truyền thông truyền thống khó cạnh tranh nổi.

Công nghệ đã cho phép báo điện tử ra đời và ngược lại, chính báo điện tử cũng thúc đẩy sự phát triển của các công nghệ mới. Những trình duyệt phiên bản mới liên tục được cải tiến để có thể tích hợp các tính năng truyền thông đa phương tiện. Điện thoại và những thiết bị di động hỗ trợ cá nhân như PDA cũng được nâng cấp để có thể truy cập web tiện lợi hơn và khai thác thông tin trực tuyến.

Sự phát triển của công nghệ truyền thông đã tạo cho báo chí một hướng đi mới: Tích hợp các phương tiện truyền thông. Cái mà các nhà truyền thông đang hướng tới là Công nghệ Truyền thông Hợp nhất (một quá trình mà trong đó tất cả các phương tiện truyền thông, các thiết bị truyền thông và các kênh thông tin đại chúng được tích hợp lại với nhau, cho phép người sử dụng có thể liên lạc với bất cứ ai, khi họ ở bất cứ nơi đâu, và theo thời gian thực)


  1. Nhu cầu thông tin của lớp công chúng mới.

Trong một xã hội hiện đại với sự bùng nổ thông tin, công chúng ngày càng có những yêu cầu cao hơn đối với nội dung cũng như chất lượng thông tin. Một tờ báo in toàn chữ với những bài viết dài, những chương trình phát thanh – truyền hình buộc khán - thính giả phải ngồi chờ đợi… nay đã không còn phù hợp. Một hình thức truyền thông mới cho phép công chúng thu nhận thông tin bằng cả hình ảnh, âm thanh, văn bản là sự lựa chọn của lớp công chúng mới.

Người đọc báo hôm nay đang ngày càng bị phân tâm bởi nhiều hình thức cung cấp thông tin động, hấp dẫn, tiếp cận trên toàn bộ các giác quan, cảm quan: đọc, nghe, nhìn, đối thoại, tham gia trực tiếp... tương lai của báo chí đang thay đổi dữ dội bởi các khả năng khác nhau để chuyển tải thông tin nóng đến người đọc

Xu hướng tiêu thụ thông tin của người dân đã và đang thay đổi nhanh chóng do khả năng kết nối dễ dàng vào mạng Internet toàn cầu với thông tin tràn ngập hằng ngày, hàng trăm kênh truyền hình quốc tế qua cáp, hàng loạt kênh truyền thanh tiếp cận người đọc mỗi ngày, mỗi giờ… Xu hướng rõ ràng là phù hợp với xã hội, do vậy đi theo sự phát triển này là sự lựa chọn đúng đắn của các nhà truyền thông.

Đa phương tiện sẽ giúp cho công chúng dễ dàng lựa chọn hơn.



7.3 Biểu hiện của báo chí phát triển theo hướng đa phương tiện

a. Sự phát triển của các tổ chức truyền thông đa phương tiện

Các công ty truyền thông như viễn thông, truyền hình cáp và các khối giải trí đang tranh giành nhau để có chân trong “thị trường” tích hợp các phương tiện truyền thông mới. Ví dụ:

- Hãng Time Warner sát nhập với hãng American Online - Sự liên doanh đó minh họa sinh động cho sự kết hợp các phương tiện truyền thông cũ và mới: báo mạng và báo giấy

- Những công ty phát hành báo lớn bao gồm New York Times Co. (www.nyt.com) và Tribune Co., nhà xuất bản của tờ Chicago Tribune (www.tribune.com), chuyển tin chủ yếu qua mạng Internet.

- NBC (www.home.nbci.com) có một trong nhiều trang đầy tham vọng trên Internet, và có những dự án chung về truyền hình và Internet với hãng máy tính khổng lồ Microsoft (www.msnbc.com). Các hãng khác như CBS, ESPN, FOX va CNN đều có những trang chính trên Internet.

"Truyền hình trên nền Internet sẽ trở nên phổ cập - bằng cớ là nhiều hãng viễn thông lớn đang gia cố cơ sở hạ tầng cho viễn cảnh đó. Bạn sẽ được thưởng thức tất cả các dịch vụ trên một nền duy nhất" - Bill Gates

Rõ ràng các tổ chức truyền thông đã có chung một tầm nhìn về tương lai – kết hợp các phương tiện truyền thông và giải trí vào một phương thức truyền thông mới có khả năng cung cấp sự lựa chọn tin tức bằng văn bản hay bằng các đoạn phim và những bộ phim mới nhất bất kì khi nào được yêu cầu.



b. Những biểu hiện cụ thể về sản phẩm báo chí đa phương tiện

- Báo giấy không thể thiếu sản phẩm báo điện tử đi kèm.

- Các tờ báo còn có thể làm đài phát thanh, kênh truyền hình và đặc biệt là báo mobile (gửi các bản tin cho bạn đọc qua điện thoại di động)

- Dùng giao thức Internet để phát chương trình phát thanh, truyền hình (số hóa)

Nhà báo thời truyền thông đa phương tiện (multimedia journalist) phải có kĩ năng của nhiều loại hình báo chí, có thể tác nghiệp nhanh nhạy và sử dụng thành thạo các sản phẩm công nghệ hỗ trợ như laptop, điện thoại di động có định vị vệ tinh, máy ảnh, Camera…

7.4 Truyền thông đa phương tiện tại Việt Nam

Trong khi multimedia ở các nước Châu Âu và Mỹ đang phát triển mạnh mẽ thì ở Việt Nam, khái niệm về truyền thông đa phương tiện còn khá mới mẻ. Ngoài báo in, phần lớn các tòa báo ở Việt Nam đã mở thêm trang web để cập nhật thông tin nhanh chóng và phục vụ một số lượng đông đảo người dùng internet. Họ cũng đã bắt đầu biết khai thác lợi thế của internet bằng việc phát trực tuyến hoặc phát lại các các chương trình TV, phim, radio, hay các đoạn video clip. Tiêu biểu trong số đó có trang phimanh.net thuộc VNExpress; www.vnntv.vn; www3.tuoitre.com.vn/Media; hay www.vtc.com.vn. Tuy nhiên tất cả đều ở hình thức phát lại và chủ yếu mang tính giải trí.



  1. Báo chí công dân

Không có một định nghĩa rõ ràng nào về báo chí công dân. Ta có thể hiểu báo chí công dân là loại hình báo chí mà thông tin được thu thập, phân tích và phổ biến bởi những người dân bình thường.

8.1. Sự ra đời của “báo chí công dân”

Trào lưu "báo chí công dân" (Citizen Journalism) nảy sinh từ nước Mỹ sau cuộc bầu cử tổng thống 1988 như một phản ứng từ niềm tin vào các phương tiện truyền thông đã bị xói mòn. Jay Rosen, giáo sư báo chí ở Đại học New York là một trong những người tiên phong cổ xuý trào lưu này. 

Năm 1999, những nhà hoạt động xã hội ở Seattle (Mỹ) sáng lập Trung tâm Truyền thông độc lập (Independent Media Center - IMC) đầu tiên để bày tỏ phản ứng trước việc tổ chức hội nghị WTO tại đây trong khi các kênh truyền thông chính thống không hề đại diện cho tiếng nói và nguyện vọng của họ. Từ đó, IMC đã được thiết lập ở hơn 2.000 thành phố khắp thế giới. 

Cùng lúc với sự phát triển của các trung tâm IMC, những kênh thông tin của các "nhà báo công dân" bắt đầu bùng nổ trên internet dưới các hình thức weblog, chat room, forum, wikis… Ở Hàn Quốc, website OhMyNews.com ra đời năm 2000 trở thành tờ báo trực tuyến nổi tiếng và thành công về mặt thương mại với khẩu hiệu: "Mỗi công dân là một nhà báo". 80% tin bài trên website này là do các thường dân cộng tác. 

Năm 2001, website ThemeParkInsider.com của Mỹ là tờ báo trực tuyến đầu tiên giành được một giải thưởng báo chí quan trọng của Hiệp hội Báo chí trực tuyến Mỹ và khoa báo chí Đại học.

Ý tưởng cốt lõi trong triết lý và hệ thống giá trị của báo chí công dân (civic journalism) là niềm tin cho rằng báo chí có một nghĩa vụ đối với đời sống công cộng.



8.2 Sức mạnh của báo chí công dân

Có khả năng thông tin nhanh chóng những sự việc vừa xảy ra. Đưa ra cái nhìn khách quan và không bị chi phối bởi bất kì cơ quan nào. Bắt nguồn từ sự phát triển của khoa học kĩ thuật và nhu cầu được nói lên chính kiến cũng hay bày tỏ quan điểm của mình.

Báo chí công dân (Citizen Journalism) - loại hình báo chí mới sinh ra trong kỷ nguyên Internet, đang trở thành trào lưu mạnh mẽ trên toàn thế giới. Đại diện chính cho báo chí công dân chính là những tờ báo mạng, trang tin tức và cộng đồng web-blog khổng lồ. Một số trang "báo chí công dân" khá nổi tiếng là NowPublic.com, với 99.214 "phóng viên" ở 3651 thành phố, OhmyNews.com, một trong những trang tin điện tử có ảnh hưởng nhất Hàn Quốc hiện nay thu hút hơn 1 triệu độc giả mỗi ngày với 50.000 "nhà báo công dân", YouWitnessNews của Yahoo! chuyên đăng tải nội dung do người dùng gửi về, sau khi đã qua màn chỉnh trang của các biên tập viên chuyên nghiệp, YouTube chuyên đăng tải các đoạn video cá nhân "hút" hàng triệu lượt truy cập mỗi ngày..., trang tin bách khoa trực tuyến WikiPedia (wikipedia.org) hiện có tới hơn chục ngàn cộng tác viên tích cực, với hàng triệu bài viết dưới nhiều ngôn ngữ khác nhau (cả tiếng Việt). Nói đến báo chí công dân là phải nhắc tới cộng đồng web - blog. Theo thống kê của hãng nghiên cứu Technorati (Mỹ), hiện tại trên toàn thế giới có khoảng 55 triệu blog (2006) đến nay đã lên tới 72 triệu blog. Cứ 0.5 giây 1 blog ra đời, mỗi ngày trên Internet lại có thêm khoảng 100 nghìn blog mới và khoảng 1,3 triệu đề mục được đăng tải.

Vụ khủng bố 11/9 ở Mỹ năm 2001, vụ đánh bom tàu điện ngầm ở London năm 2005 và hàng loạt các thiên tai ở Đông Nam Á đều được những thường dân chụp ảnh, quay phim bằng máy điện thoại di động và nhanh chóng truyền tin đi khắp thế giới. Vai trò của “nhà báo công dân” đã được thiết lập.

Với sự phổ biến của các phương tiện kỹ thuật số, việc truyền dữ liệu - hình ảnh, âm thanh và video - từ ĐTDĐ đến ĐTDĐ hay đưa lên các website ngày càng đơn giản, các nhà báo công dân hoàn toàn có thể phát huy năng lực của mình.

Sự phát triển như vũ bão của mô hình này khiến giới truyền thông toàn cầu phải tự đặt câu hỏi, liệu đây có phải là tương lai của báo chí? Báo chí công dân biến mọi điểm yếu của báo in truyền thống là tốc độ, "đất" đăng tin, nguồn tin và phản hồi của độc giả trở thành những thế mạnh của mình dựa vào sức mạnh của công nghệ. Nó khiến tin tức đã đăng trên báo không có nghĩa là kết thúc, mà thực sự bắt đầu khi công chúng thảo luận về câu chuyện, bổ sung và sửa chữa nó.



    1. Những hạn chế của báo chí công dân

Mặc dù báo chí công dân có khả năng đem đến những thông tin độc, hấp dẫn và khách quan ở một góc độ nào đó, nhưng bên cạnh đó báo chí công dân cũng có những hạn chế và điểm yếu. Điều đáng nói đầu tiên đó là độ tin cậy báo chí của các “nhà báo công dân” rất khó kiểm chứng, đặc biệt là yếu tố chủ quan của người thông tin rất cao. Vì thế, việc xã hội hoá báo chí theo kiểu này đôi khi là “con dao 2 lưỡi” đối với các tờ báo thiếu biên tập viên và tỉnh táo có tay nghề cao và nhạy cảm với “thời tiết thông tin”. Cuối năm 2006 vừa qua có một tờ báo ở bị “rút phép Thông Công” vì đã quá lạm dụng ý kiến người dân như vậy. Không phải công dân nào cũng đưa ra được những thông tin chính xác, có thể đó chỉ là những nhận định chủ quan vô căn cứ của họ, hay như vì một mục đích cá nhân họ sẵn sàng gửi đến các tòa soạn những thông tin sai lệch… điều đó sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng khi thông tin được đăng và thông tin tới cho toàn bộ công chúng.

Để giải quyết vấn đề này, các cơ quan báo chí cần thiết phải có một bộ phận biên tập viên có đủ năng lực để xác nhận và kiểm chứng các thông tin do độc giả mang tới.



Ở Việt Nam, blog phát triển muộn nhưng tốc độ phát triển cực nhanh đặc biệt trong năm 2006 và lôi kéo được 80% thanh niên sử dụng mạng Internet tham gia và nó cũng đã đặt ra những vấn đề đáng lưu tâm ở khía cạnh quản lý, dư luận xã hội, văn hóa mạng…

Ngày nay, công chúng không chỉ đóng vai trò là người tiếp nhận sản phẩm báo chí mà còn có thể tham gia vào quá trình sản xuất thông tin. Trào lưu “báo chí công dân” đã thể hiện rằng báo chí và nền dân chủ phải kết hợp với nhau để cùng tồn tại. Trong tương lai, các cơ quan báo chí và các nhà báo công dân sẽ sự liên kết với nhau để tạo nên một xã hội thông tin đa chiều



9. Tiểu kết

Qua một vài đặc điểm của báo chí thế giới trên đây ta thấy rằng toàn cầu hóa thông tin đã buộc người ta phải xét lại và hiện đại hóa các chiến lược của cộng đồng thế giới trong lĩnh vực phổ biến thông tin. Việc kết hợp thông tin toàn cầu và “lợi ích khu vực” sẽ làm cho hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng có hiệu quả hơn và có hiệu lực hơn, xét trên góc độ hình thành công luận và điều khiển công luận. Vẫn tiếp tục trở nên sâu hơn hố ngăn cách giữa các quốc gia “giàu” và những quốc gia “nghèo”, tạo ra mối đe dọa thực tế đối với các quyền cơ bản và quyền tự do của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí.

Đang xuất hiện mối quan hệ ngày càng chặt chẽ giữa báo chí và kinh tế. Trong những năm gần đây đã có sự thay đổi trong cấu trúc. Vai trò ngày càng lớn thuộc về quảng cáo – nguồn thu tài chính chủ yếu của các cơ quan báo chí. Ở nhiều quốc gia, nhà nước tài trợ cho các phương tiện thông tin đại chúng một cách trực tiếp và gián tiếp: dành cho những ưu đãi khác nhau, các khoản trợ cấp, các đơn đặt hàng về quảng cáo cho chính phủ… quá trình các phương tiện thông tin đại chúng sáp nhập vào các tập đoàn công nghiệp – tài chính đã cho phép đạt được sự ổn định về tài chính cho các phương tiện thông tin đại chúng.

Quá trình phân định và chuyên môn hóa báo chí tạo điều kiện nâng cao năng lực hiệu quả của hoạt động báo chí, đài phát thanh, truyền hình, sử dụng có hiệu quả cao nhất các phương tiện hiện có.

Trong số những thay đổi trong hoạt động báo chí ở nước ngoài, có thể kể ra một số khuynh hướng báo chí, trong đó có các khuynh hướng báo chí “nhân dân”, báo chí tiêu dùng, báo chí nghiên cứu, báo chí điều tra… các khuynh hướng ấy nhằm nâng cao chất lượng bài vở, các chương trình phát thanh truyền hình. Đồng thời những khuynh hướng đó cũng phản ánh các đòi hỏi của thị trường. Thị trường ngày càng ảnh hưởng đến báo chí.

Sự phát triển của khoa học kỹ thuật có ảnh hưởng căn bản đến các phương tiện thông tin đại chúng ngày nay, đến các hình thức và phương pháp hoạt động của các nhà báo. Nhà nước tăng cường vai trò của mình. Chính sách của nhà nước cũng có ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển của các loại hình thông tin đại chúng.





  1   2   3   4


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương