Câu 1: Phân tích giá trị lịch sử tư tưởng chính trị ở phương tây thời kỳ cổ đại và cận đại. Những giá trị đó có tác dụng gì với việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay



tải về 63.98 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu02.09.2016
Kích63.98 Kb.
Câu 1: Phân tích giá trị lịch sử tư tưởng chính trị ở phương tây thời kỳ cổ đại và cận đại. Những giá trị đó có tác dụng gì với việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay.

Bài làm

Thời cổ đại ở phương Tây, với những cuộc đấu tranh một mất một còn giữa chủ nô dân chủ và chủ nô quý tộc mà biểu hiện của nó là những cuộc cải cách dân chủ ở các thành bang là đặc trưng cơ bản nổi bật của hệ tư tưởng lúc bấy giờ. Thời trung cổ là sự kết hợp và xuyên thấu lẫn nhau giữa thần quyền và thế quyền để thống trị thần dân mà biểu hiện cơ bản là sự thống trị của thiên chúa giáo đối với tinh thần của nông nô. Sang thời cận đại, đặc trưng cơ bản là sự phát triển mạnh mẽ của triết học khai sáng và là thời kỳ của các cuộc cách mạng dân chủ tư sản với sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân lao động đấu tranh cho các quyền cơ bản của con người. Đó là những nét tổng thể dệt nên nội dung cơ bản của lịch sử phát triển tư tưởng chính trị ở các nước phương Tây thời kỳ trước Mác.

Việc làm rõ những giá trị phổ biến trong sự phát triển chính trị của nhân loại qua sự phát triển tư tưởng chính trị phương tây từ cổ đại đến cận đại sẽ có ý nghĩa rất quan trọng trong tổ chức thực thi quyền lực chính trị của nhân dân lao động ở nước ta.

I. Giá trị lịch sử tư tưởng chính trị ở phương tây thời kỳ cổ đại và cận đại

1. Thời cổ đại mà đặc trưng là các tư tưởng và học thuyết chính trị Hy Lạp - La Mã. Họ đề cập về những vấn đề như nguồn gốc, bản chất của nhà nước, các hình thức xã hội, thể chế nhà nước, thủ lĩnh chính trị

Trước nhất, bàn về thủ lĩnh chính trị, đã có rất nhiều quan điểm, ý kiến của các học giả về vấn đề này



SOCRAT cho rằng : thủ lĩnh chính trị phải là người có đạo đức. Nhưng đạo đức phụ thuộc vào trí tuệ. Tuy nhiên, do xuất thân từ tầng lớp chủ nô quý tộc nên ông cho rằng chỉ có thiểu số tầng lớp quý tộc mới là người có trí tuệ, mới là những người sáng tạo đúng đắn.

DEMOCRITE: yêu cầu thủ lĩnh chính trị phải là người có tài năng, đạo đức và do thuộc trường phái duy vật chủ nô dân chủ nên cho rằng tầng lớp bình dân cũng có tài năng, có thể làm được chính trị.

SENOPHONE : yêu cầu thủ lĩnh chính trị phải có kỷ thuật giỏi, phải có sức thuyết phục cao, người thủ lĩnh phải biết vì lợi ích chung nghĩa là phải biết chăm sóc cho người bị trị, biết hợp lại và nhân sức mạnh của mọi người. Ông là người đầu tiên đặt ra yêu cầu về thủ lĩnh chính trị khá toàn diện như : phải có chuyên môn giỏi, có uy tín, vì dân…

PLATON: yêu cầu thủ lĩnh chính trị phải thực sự có khoa học chính trị, có tính khí phù hợp với nhiệm vụ đảm đương. Ông xem tiêu chuẩn chính trị là tiêu chuẩn của mọi tiêu chuẩn. Ông quan niệm người lãnh đạo trong xã hội không được có quyền tư hữu (sở hữu về tài sản) bởi vì tư hữu sẽ làm mất công tâm. Lực lượng võ sĩ bảo vệ thì không được có gia đình riêng vì có gia đình riêng thì sẽ không thể chiến đấu dũng cảm được. Theo ông, thủ lĩnh chính trị phải biết hy sinh lợi ích cá nhân vì những giá trị chung. Tuy có những quan điểm tiến bộ nhưng ông vẫn còn sai lầm khi cho rằng một thủ lĩnh chính trị như vậy chỉ có ở tầng lớp chủ nô quý tộc.

ARISTOTE: xem thủ lĩnh chính trị là người sung túc, là người ở tầng lớp trung lưu không phải giàu cũng không phải nghèo, họ là người phải biết uốn mình theo lới khuyên của các bên (vì quan điểm của ông theo nhị nguyên luận).

CICÉRON: như là một sự tổng kết về của những tư tưởng về người thủ lĩnh chính trị trước đó. Oâng nêu ra rằng người thủ lĩnh chính trị phải có sự thông thái, có trách nhiệm, có sự cao thượng về phẩm hạnh, phải thống nhất trong minh giữa tài năng và quyền uy. Có uy thế tinh thần, có tinh thần cao thượng, biết hy sinh vì lợi ích chung, bỏ qua các lợi ích tiền bạc không chính đáng. Quan niệm của ông đến ngày nay cũng khó có người đạt được, đó là nhà chính trị phải có chính trị, có đạo đức…
Thứ hai, bàn về nguồn gốc của quyền lực nhà nước, một số quan điểm nổi bậc của các học giả như sau :

HERACLIT: là người thuộc tầng lớp chủ nô quý tộc, có lập trường duy tâm, ông xem trạng thái tự nhiên của con người tự nó đã hoàn hảo, không có vấn đề công bằng hay không công bằng ở đó. Công bằng do con người tạo ra xã hội con người là một trạng thái tự nhiên, tự nó, không ai sinh ra, không ai sắp đặt nó, tự nhiên sinh ra có kẻ trí và người ngu cho nên kẻ trí thống trị người ngu là lẽ tự nhiên, kẻ trí là người quí tộc, nô lệ là người ngu. Ông cho rằng quyền lực là quy luật vĩnh viễn. Không bao giờ trong xã hội lại không có quyền lực. Pháp luật nhằm thực hiện tính tất yếu của quyền lực, xã hội phải phục tùng ý chí của một cá nhân là điều tất yếu cho sự thống nhất. Theo ông bất bình đẳng là tự nhiên, một quý tộc phải được trị giá bằng một nghìn dân thường.

PLATON: xem quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước là quyền lực thống trị của kẻ trí đối với người ngu. Đó là đặc tính của trí tuệ. Chỉ có người có trí tuệ mới có quyền lực. Trí tuệ chỉ có ở quý tộc.

ARISTOTE: quan niệm quyền lực của xã hội cũng là một trạng thái tự nhiên. Nó xuất phát từ gia đình, quyền của cha đối với con, chồng đối với vợ, anh đối em; xuất phát từ quyền lực đối với xã hội. Trong xã hội có nhiều gia đình, gia đình này có sự xâm hại đối với gia đình khác. Do đó mỗi gia đình phải nhượng lại quyền lực của từng gia đình thành quyền lực chung. Người nắm quyền lực chung là nhà nước. Vì vậy, quyền lực nhà nước là tự nhiên, pháp luật là những nguyên tắc khách quan, vô tư, xuất phát vì lợi ích của xã hội, của từng công dân.

CICÉRON cho rằng quyền lực nhà nước hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài. Quyền lực bắt nguồn từ bản chất của con người chạy trốn sự cô đơn, tìm cuộc sống của cộng đồng. Cho nên quyền lực là của chung chứ không riêng của một ai, dù đó là người tài giỏi nhất cũng không sinh ra quyền lực được.
Thứ ba, bàn về thể chế nhà nước, các quan điểm lớn bao gồm :

HÉRODOT : là người đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã phân biệt và so sánh các thể chế của nhà nước khác nhau. Theo ông có 3 hình thức cơ bản:

+ Thể chế quân chủ: tức là thể chế cầm quyền của một người-đó là vua. Thể chế này có 2 mặt : Ưu điểm: là thể chế ra đời thường là do những người có công khai quốc, thường là vì lợi ích chung của nhân dân. Nó là một bàn tay sắt cần thiết khi chế độ dân chủ bị rối loạn. Nhược: thể chế này dễ rơi vào sự độc tài, chuyên quyền, dễ bị xu nịnh, luôn có xu hướng là lạm dụng quyền lực.

+ Thể chế quý tộc: thể chế của một số ít người thông thái và tiêu biểu về phẩm hạnh của quốc gia để cầm quyền. Ưu: đây chính là chính quyền của những người có trình độ cao nên mọi công việc, các quyết sách chính trị đều được bàn bạc giữa những người trí tuệ nên công việc có khoa học, ít sai lầm. Nhược: giữa các nhà thông thái làm việc bên nhau sớm muộn cũng sẽ tiêu diệt lẫn nhau, vì không ai chịu thua ai, các nhà thông thái đều muốn làm thầy của nhau.

+ Thể chế dân chủ: thể chế này là của đông đảo nhân dân nắm quyền và nó được thành lập bởi chế độ bỏ phiếu để bầu ra các pháp quan. Ưu: các quyết định quyết sách chính trị đều do tập thể bàn bạc một cách dân chủ. Nó có xu hướng công bằng vì lợi ích chung, chăm lo cho nhân dân. Nhược : số đông người ít học cầm quyền thì khó có khả năng chống độc tài, chuyên chế, dễ rơi vào tiểu tiết mà quên đi tầm chiến lược, thường thấy những chuyện trước mắt mà không thấy trước những chuyện lâu dài. Dễ bị kẻ xấu kích động lôi kéo. Từ đó ông kết luận loại thể chế tốt nhất là thể chế hỗn hợp những ưu của từng thể chế trên.



DEMOCRIT: ông ủng hộ chế độ dân chủ cộng hoà chủ nô.

SOCRAT: ông là người ủng hộ chế độ chuyên chế độc tài. Ông cho rằng dân chủ là sai lầm. Dân chủ là chính quyền của người ngu dốt, ông gọi đó là chính quyền “bình dân”.

ARISTOTE: ông cho rằng thể chế nhà nước dân chủ là thể chế người giàu, người nghèo không bên nào số lượng tuyệt đối. Ông cho rằng mọi thể chế đều có nguy cơ biến chất, thay đổi bằng cuộc cách mạng. Ông là người đầu tiên phân loại quyền lực nhà nước: lập pháp, hành pháp, tư pháp. Người đứng đầu nhà nước là giai cấp trung lưu, ông đề cao vai trò của pháp luật đối với việc ổn định xã hội. Nhà nước có chức năng bảo đảm cho xã hội được sống hạnh phúc. Ông quan niệm công bằng rất tiến bộ, phân phối công bằng có nghĩa là người đáng được hưởng nhiều hơn thì được nhiều hơn, người đáng được hưởng ít hơn thì được ít hơn. Ông cũng đề cập đến vấn đề hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội và cho rằng đạo đức phải phục vụ cho pháp luật

POLYBE : kế thừa tư tưởng trước đó vào thể chế nhà nước, ông cho rằng thể chế nhà nước là phải kết hợp những ưu điểm các thể chế chứ không theo một tiêu chí thuần túy nào bởi vì trong thuần túy đã chức đựng mầm mống sự yếu kém khi phát huy tối đa sẽ bộc lộ yếu kém.
2. Thời trung cổ (thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ 15) xã hội phương Tây chìm đắm trong xiềng xích nô lệ của hai thế lực thần quyền và thế quyền, đó là Thiên chúa giáo và chế độ phong kiến mà người ta gọi đêm trường Trung cổ. Thiên chúa giáo lấn át cả chế độ phong kiến và chi phối toàn bộ đời sống xã hội bằng những luật lệ hà khắc và người xuẩn. Chính vì vậy, thời kỳ này xã hội phương Tây hầu như không phát triển được về mọi mặt, kể cả hệ tư tưởng chính trị.
3. Thời cận đại là thời kỳ triết học khai sáng, những tư tưởng chính trị phát triển rất rực rỡ, phong phú và đa dạng, đặc biệt là ở Pháp.

- DIDEROT: theo ông nguồn gốc nhà nước ra đời do khế ước xã hội. Nhà nước phải bảo đảm bình đẳng và tự do. Nhà nước nào vi phạm điều đó thì không còn tư cách để tồn tại.Về luật pháp: bản chất con người phải phù hợp với trạng thái tự nhiên, luật pháp quán triệt điều đó, chứ không phải ngược lại. Người ta gọi ông là tác giả của tác phẩm cộng sản tuyệt vời và của18 “bộ luật tự nhiên”.Về tư cách lãnh đạo, ông cho rằng mọi chức vụ của người cầm quyền phải được thực hiện bằng thi cử. “dòng đầu tiên của một bộ luật là hạn chế quyền lực của người cầm quyền”. (Diderot). Về phương pháp thay đổi chế độ xã hội, ông không tán thành phương pháp cách mạng và cho tằng tiến bộ về lý trí sẽ làm thay đổi xã hội. Ông phủ nhận vai trò của tôn giáo: nhà thờ không thể dung hoà với chân lý được.

- VOLTAIRE: ) là lãnh tụ của phong trào khai sáng, ông chống chế độ chủ nô, đấu tranh cho sự bình đẳng của công dân nước Pháp. Ông phê phán nhà thờ và chuyên chế, mọi tội ác trong xã hội là do nhà thờ mà ra. Ông chủ trương tự do tín ngưỡng, báo chí, ngôn luận và sở hữu. Ông kịch liệt chống chiến tranh. Theo ông, chiến tranh còn kinh khủng hơn dịch hạch và điên khùng. Theo ông bất bình đẳng về tài sản là tất yếu.

- MONTESQUIEU: phê phán chế độ chuyên chế phong kiến và cho rằng chuyên chế về bản chất là đối lập với tự do. Theo ông chế độ chuyên chế là bạo chúa, vua pháp là một gã phù thuỷ. Bàn về nhà thờ, ông cho rằng nhà thờ là nguồn gốc của tội lỗi, ông giải thích sở dĩ La Mã cường thịnh là do ghét chuyên chế và yêu tự do. Sở dĩ La mã bị huỷ diệt cũng vì tự do bị huỷ diệt và đạo đức bị suy đồi; song ông cũng giành cho tôn giáo một vị trí nhất định trong việc duy trì đạo đức xã hội. Về nguồn gốc của nhà nước, theo ông, nhà nước xuất hiện trong một quá trình lịch sử lâu dài khi mà trong xã hội xuất hiện tình trạng mâu thuẫn không thể điều hoà nếu không có một cơ quan có quyền lực đủ mạnh để giữ gìn sự bình ổn của xã hội. Ông là người đã xây dựng học thuyết nhân quyền với mục đích tạo dựng các thể chế chính trị bảo đảm tự do chính trị cho các công dân. Tự do chính trị của công dân là quyền làm mọi cái mà pháp luật không cấm. Do vậy tự do chính trị chỉ có được ở các quốc gia mà tất cả các quan hệ đều được điều chỉnh bằng luật pháp. Pháp luật trở thành thước đo của tự do, mặt khác ông lại cho rằng kinh nghiệm lịch sử bao đời cho thấy người nắm quyền lực thường có khuynh hướng lạm quyền. Do vậy cách tốt nhất để chống lạm quyền là phải chống độc quyền, là phải phân chia sao cho quyền lực kiềm chế quyền lực, từ đó ông đưa ra học thuyết tam quyền phân lập một cách có hệ thống (lập pháp hành pháp và tư pháp) và là đối thủ đáng sợ nhất của chế độ chuyên chế phong kiến. Đặt vấn đề xây dựng đạo đức chính trị: ông cho rằng đạo đức chính trị là phải đặt lợi ích công cộng cao hơn lợi ích cá nhân người cầm quyền. Ông đề ra thuyết địa lý: cho rằng cái đạo đức, cái tính cách của một dân tộc chịu sự chi phối bởi những điều kiện địa lí nhất định (địa hình, khí hậu…) nhà cầm quyền khi ban hành chính sách pháp luật phải xét đến những điều kiện địa lí cụ thể đó. Về thể chế nhà nước: ông phân ra bản chất và nguyên tắc hoạt động của các loại chính phủ đó là chính phủ cộng hoà dân chủ, cộng hoà quý tộc, quân chủ.

- ROUSSEAU: là đại biểu của tầng lớp dân chủ thị dân, ông phê phán gay gắt quan hệ đẳng cấp phong kiến và chế độ chuyên chế. Về chính trị: quan điềm về chính trị của ông cấp tiến hơn Montesquieu (vì Montesquieu bảo vệ tư tưởng quân chủ lập hiến), quan điểm của ông tiến xa hơn ở chỗ đề cao tư tưởng chủ quyền nhân dân, ông không chỉ phê phán chế độ phong kiến mà đòi bác bỏ hoàn toàn chế độ đó. Ông cho rằng trong xã hội mọi người phải được tự do bình đẳng đó là trạng thái tự nhiên vốn có, là phúc lợi cao nhất của con người, quyền lực trong xã hội phải thuộc về nhân dân. Nhà nước lập ra qua các khế ước xã hội phải thể hiện ý chí quyền lực của nhân dân nếu không thể hiện được điều đó thì bộ phận cầm quyền phải bị đào thải, thay thế. Ông chủ trương quyền lực phải tập trung cao nhất, ông chống lại tư tưởng phân quyền của Montesquieu, theo ông nếu quyền lực phân chia ra các cơ quan nắm giữ các nhiệm vụ khác nhau thì phải coi các cơ quan đó là công cụ của chủ thể nhân dân và lệ thuộc vào chủ quyền nhân dân. Ông cho rằng ý chí chung phải được rút ra từ đa số và chính trị là chính trị của đa số, được xây dựng trên nguyên tắc đa số, chỉ qua quyết định của đa số thì chính trị mới không phạm sai lầm.



- LỐC CƠ: Ông cho rằng bản chất của con người là tự do, xã hội loài người là tự do, cho nên tự do là giá trị cao quý nhất của xã hội, của con người. Nhà nước phải bảo đảm sự tự do của con người, mới bảo đảm tồn tại sự hợp lí của nhà nước. Luật của tư nhiên bắt buộc phải tự do nên con người phải tự do. Ông đã luận giải về nguồn gốc và bản chất của nhà nước xuất phát từ quyền lực tự nhiên của con người là tối cao và bất khả xâm phạm. Do quy luật tự nhiên của xã hội mà nảy sinh ra bất công về kinh tế xã hội, mất an ninh và quyền tự nhiên của con người bị xâm phạm. Để bảo vệ quyền tự nhiên của con người thì mọi thành viên trong xã hội mới “ký kết”, hình thành một chính quyền có quyền lực chung. Như vậy quyền lực xuất hiện từ các thành viên của xã hội. Từ đó ông đưa ra 3 kết luận quan trọng như sau :

- Quyền lực nhà nước về bản chất là quyền lực của dân. Quyền lực của dân là cơ sở, nguồn gốc, nền tảng của quyền lực nhà nước. Trong quan hệ với dân, nhà nước không có quyền mà chỉ thực hiện sự ủy quyền của nhân dân . Nhà nước có quyền trong “khế ước xã hội”, đó là hiến pháp những đạo luật cơ bản…

- Nhà nước thực chất là khế ước của xã hội, trong đó công dân nhường một phần quyền của mình mà hình thành quyền lực chung, quyền lực nhà nước điều hành và quản lý XH để bảo vệ quyền tự nhiên của con người.

- Bảo toàn quyền tự nhiên của mỗi cá nhân con người, đó cũng là tiêu chí căn bản nhất để xem xét tính hợp lý hay không hợp lý của nhà nước, đó là giới hạn căn bản của nhà nước. Đi quá giới hạn này, chính quyền sẽ là chuyên chế , thành kẻ thù của quyền lực tự nhiên và là đối tượng cách mạng.

Ba kết luận trên đặt nền móng cho chế độ dân chủ hiện đại. Lốccơ chia nhà nước làm 3 cơ quan với 3 quyền khác nhau:

- Quyền lập pháp : là sự biểu hiện ý chí chung của quốc gia và thuộc về toàn dân. Nếu những quốc gia lớn thì cử ra đại biểu nhân dân (nghị viện) do nhân dân bầu ra và phải là những người hiểu rõ về luật.

- Quyền hành pháp : là quyền thực hiện pháp luật đã được lập ra bởi cơ quan lập pháp, phải có cơ cơ quan riêng và tách ra khỏi quốc hội.

- Quyền tư pháp : là quyền xét xử tội phạm và giải quyết tranh chaá©p giữa cá nhân được thực hiện bởi thẩm phán do nhân dân bầu ra.

Theo ông, phân quyền là một tất yếu kĩ thuật, là một tiêu chuẩn không thể thiếu được của một xã hội dân chủ. Yêu cầu phân quyền sao cho cân bằng, công bằng nghĩa là dùng quyền lực này để chế ngự quyền lực khác.

Như vậy, tư tưởng chính trị ở phương tây thường gắn liền với pháp luật trong khi tư tưởng chính trị phương đông thường gắn liền với đạo đức. Tư tưởng chính trị phương tây thường xuất phát từ “trạng thái tự nhiên” của con người thường đề cao động lực “quyền lợi” của con người. Chính trị học của giai cấp tư sản phương tây thường dựa trên cơ sở của chủ nghĩa cá nhân, tuyết đối hoá quyền lợi cá nhân. Tư tưởng chính trị của giai cấp tư sản so với tư tưởng chính trị của giai cấp phong kiến là một bước tiến bộ trong việc giải phóng con người nhưng vẫn chưa đặt con người như là mục đích, tức là vẫn chưa thể giải phóng đại đa số nhân dân lao động.

Sự ra đời của tư tưởng chính trị Macxit là một cuộc cách mạng vĩ đại, lần đầu tiên trong lịch sử xã hội loài người, một giai cấp bị áp bức bóc lột, giai cấp công nhân đã có một hệ tư tưởng cách mạng và khoa học là kim chỉ nam cho hành động của mình. Trên thực tế Mác-Ănggghen đã xây dựng tư tưởng chính trị của mình khác về chất so với những tư tưởng chính trị duy tâm trước đó. Sự ra đời của tư tưởng chính trị của 2 ông là bước ngoặc cách mạng trong lịch sử tư tưởng chính trị nhân loại. Với 2 ông chính trị lớn nhất là giải phóng con người mà muốn giải phóng con người thì phải giải quyết vấn đề giai cấp, phải giành lấy các nguồn lực chính trị, đó là con đường giải phóng một cách khoa học và như vậy chủ nghĩa Mác chính là chủ nghĩa nhân đạo hiện thực chứ không phải là chủ nghĩa nhân đạo trừu tượng chỉ dựa vào đạo đức và lòng thương người. Trong quá trình đấu tranh, giai cấp công nhân và nông dân, các dân tộc bị áp bức, tư tưởng chính trị Macxit đã trở thành ngọn cờ chủ đạo.

Ngày nay, CNXH đang đứng trước những thử thách to lớn nhưng chúng ta tin vào bản chất cách mạng và khoa học vốn có của nó, CNXH khoa học nói riêng và tư tưởng chính trị Macxit nói chung sẽ tiếp thu được những tri thức mới của thời đại, tiếp tục làm kim chỉ nam cho phong trào cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới.


II. Giá trị của nó đối với việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay:
Khi nghiên cứu tư tưởng chính trị của các thời đại lịch sử Tây, chúng ta không được quên tính giai cấp của nó, mặt khác không vì thế mà phủ nhận toàn bộ nội dung, tri thức khách quan trong các học thuyết chính trị mà phải biết chọn lọc, rút ra những cái giá trị để kế thừa, làm giàu tri thức của mình, kể cả đối với tư tưởng chính trị tư sản hiện đại.

Qua những giá trị tư tưởng chính trị Phương Tây đã trình bày, chúng ta nhận thấy rằng bất cứ hệ thống chính trị nào, nhà nước cũng mang bản chất giai cấp, nhưng đồng thời phải thực hiện chức năng xã hội. Mặt khác, hệ thống chính trị nào, nhà nước nào mà quyền lực thuộc về nhân dân lao động thì đó là xu hướng tiến bộ. Nhà nước pháp quyền là một thành tựu của văn minh chính trị cần phải được ứng dụng. Hệ thống chính trị cần phải có cơ chế tự điều chỉnh và cơ chế cân bằng kiểm soát quyền lực để thích ứng với điều kiện thay đổi và cần phát huy sáng tạo cá nhân.

Trên đây là những vấn đề cơ bản của các học thuyết chính trị thường đề cập đến và cũng là những bài học kinh nghiệm mà chúng ta cần xét đến trong quá trình xây dựng hệ thống chính trị của đất nước hiện nay

Ở Việt Nam ta, do chịu ảnh hưởng của tư tưởng chính trị phương Đông nên gắn liền với đạo đức (Nho giáo, Phật giáo), ý thức tuân thủ pháp luật của công dân chưa cao. Việc vận dụng những tri thức về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội công dân vào công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật của nhà nước pháp quyền XHCN là rất cần thiết và bổ ích. Đó chính là quan điểm kết hợp hài hoà những giá trị đạo đức tiến bộ của nhân loại với giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc.

- Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, để tiếp tục hoàn thiện nhà nước, phát huy dân chủ và tăng cường pháp chế XHCN, phải xây dựng nhà nước CH XHCN VN thực sự là trụ cột của hệ thống chính trị và là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Đó là nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân, nhà nước ta dưa trên nền tảng khối đại đoàn kết toàn dân thể hiện ý chí, lợi ích và nguyện vọng của nhân dân. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp (không phân quyền). Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công dân có nghĩa vụ chấp hành hiến pháp và pháp luật. Cán bộ, công chức nhà nước phải là đầy tớ trung thành của dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân.

- Sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước thể hiện ở việc đề ra đường lối, chủ trương và các chính sách định hướng cho sự phát triển trong từng thời kì, lãnh đạo nhà nước định ra và thực thi hiến pháp và pháp luật. Các cơ quan nhà nước phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và lắng nghe ý kiến nhân dân; phát huy vai trò và trách nhiệm của Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể, các tổ chức xã hội và nhân dân trong việc tham gia xây dựng, kiểm tra, giám sát và bảo vệ nhà nước.

- Quyền làm chủ của nhân dân được thể hiện trên mọi lĩnh vực và được thể chế hoá bằng pháp luật, được hòan thiện trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội, nâng cao dân trí. Nhà nước tạo điều kiện để nhân dân thực sự tham gia quản lí xã hội thảo luận và quyết định những vấn đề quan trọng, liên quan đến lợi ích đông đảo của nhân dân. Phát huy dân chủ kết hợp chặt chẽ với tăng cường pháp chế, thực hiện quản lí xã hội bằng pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho toàn dân tuyên tuyền, giáo dục pháp luật gắn với trách nhiệm, lợi ích và nghĩa vụ của công dân, tôn trọng và giữ vững kỷ luật, kỉ cương, trật tự xã hội.

- Những nhà thủ lĩnh chính trị hoặc Cán bộ Đảng viên, ở bất cứ cương vị nào đều phải chấp hành nghiêm chỉnh cương lĩnh, điều lệ, nghị quyết của Đảng và pháp luật của nhà nước. Kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện coi thường và buông lỏng kỷ luật. Xây dựng đội ngũ cán bộ trước hết là cán bộ lãnh đạo và quản lí ở các cấp thật sự vững vàng và kiên định về chính trị gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lói sống, có trí tuệ kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn sáng tạo, gắn bó với nhân dân. Đảng và nhà nước có cơ chế và chính sách phát hiện tuyển chọn, giáo dục, rèn luyện, đào tạo và bồi dưỡng, trọng dụng những người có đức, có tài ở trong và ngoài Đảng.



Tóm lại: việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCNVN thực sự vững mạnh đồng thời nâng cao hiệu quả và chất lượng lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước đã trở một đòi hỏi bức thiết của cuộc sống, của sự nghiệp đổi mới, sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta vì chỉ có xây dựng nhà nước pháp quyền đủ mạnh mới có thể bảo vệ và phát huy những thành quả trong quá trình đổi mới về mọi mặt (chính trị, kinh tế,văn hoá, quan hệ quốc tế…), mới có đủ khả năng giải quyết vấn đề mới nảy sinh do mặt trái của cơ chế thị trường, của kinh tế nhiều thành phần mang lại, và mới có khả năng đương đầu và đập tan chiến lược “diễn biến hoà bình” mà các thế lực chống đối đang ráo riết tiến hành . Để làm được điều đó nhà nước phải thực hiện đồng thời các giải pháp sau :

- Tiến hành cải cách, hoàn thiện các cơ quan lập pháp, hành pháp vàtư pháp mà trước mắt là cải cách một bước nền hành chính.

- Tiếp tục bổ sung và hoàn thiện pháp luật để đáp ứng đòi hỏi quản lí đất nước với kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế.

- Thể chế hoá nền dân chủ của nhân dân thành pháp luật, thành cơ chế, thành chính sách, làm cho dân chủ đi liền với kỷ cương trật tự, dân chủ và chuyên chính không tách rời nhau.



Nếu quán triệt đầy đủ và thực hiện tốt những phương hướng nêu trên nhà nước pháp quyền XHCNVN sẽ được thiết định vững chắc và ngày càng phát triển.




: tailieucuaan
tailieucuaan -> Wikipedia luôn có mặt mỗi khi bạn cần giờ đây Wikipedia cần bạn giúp
tailieucuaan -> THỦ TƯỚng chính phủ Số: 1001
tailieucuaan -> Căn cứ Luật Ngân sách nhà nước số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002 và Nghị định số 60/2003/NĐ-cp ngày 06/6/2003 của Chính phủ qui định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân sách nhà nước
tailieucuaan -> Nghị định số 148/2007/NĐ-cp ngày 25/9/2007 của Chính phủ về tổ chức, hoạt động của quỹ xã hội, quỹ từ thiện
tailieucuaan -> Câu: Quá trình nhận thức của Đảng về cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân 1930-1954
tailieucuaan -> CHÍnh sách ngoại thưƠng của việt nam
tailieucuaan -> Vấn đề 1 : Nguồn gốc và quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh
tailieucuaan -> Third United Nations Conference on the Law of the Sea
tailieucuaan -> Đề Ở một ngành có 3 hãng a b c, chúng cạnh tranh tự do với nhau. Lượng sản phẩm sx ra của các hãng lần lượt là 100,150,200 sản phẩm, với giá trị các biệt tương ứng là : 3, 2




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương