CÔng đỒng vatican II qua bốn thập niêN



tải về 246.55 Kb.
trang1/4
Chuyển đổi dữ liệu14.07.2016
Kích246.55 Kb.
  1   2   3   4
CÔNG ĐỒNG VATICAN II QUA BỐN THẬP NIÊN
MỤC LỤC

I.- Bốn mươi năm nhìn lại

II.- Hoài niệm của một hồng y nghị phụ người Canada

III.- Công Đồng Vatican II – hôm qua và hôm nay

IV.- Mười sáu văn kiện được Công Đồng Vatican II chuẩn nhận

V.- Công Đồng Chung và Thượng Hội Đồng Giám Mục

VI.- Đức Giáo Hoàng Phaolồ VI điều hướng và kiện toàn Công Đồng Vatican II

VII.- Những thay đổi về phụng vụ

VIII.- Sự chuyển hướng về phía giáo dân

IX.- Quan niệm hôn nhân thay đổi, kể cả với người không Công giáo

X.- Tự do tôn giáo - hiện đại hóa những quan hệ giữa Giáo Hội và nhà nước

XI.- Hồi tưởng những năm lịch sử Công Đồng của một số chuyên viên Hoa-Kỳ còn sống

XII.- Một linh mục chuyên viên Dòng Tên vẫn tiếp tục khảo sát sự thực thi Công Đồng Vatican II.

XIII.- Vai trò của Đức Thánh Cha Bênêđittô XVI




Tác giả Nhà Văn Hương Vĩnh
I - BỐN MƯƠI NĂM NHÌN LẠI
Ngày 8-12-2005 vừa qua – ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội – cũng là ngày kỷ niệm biến cố kết thúc Công Đồng Vatican II bốn mươi năm về trước.

Khi nhìn lại bốn thập niên qua, Công Đồng Vatican II đã ảnh hưởng Giáo Hội một cách vừa tích cực vừa tiêu cực. Do đó không tránh khỏi những lệch lạc xảy ra trong lòng Giáo Hội.

Nếu định hướng của Công Đồng Vatican II là “trở về nguồn”, trong thời điểm nầy, thiết tưởng cộng đồng dân Chúa cũng nên “trở về với Công Đồng Vatican II” đề nghiên cứu học hỏi một cách nghiêm túc, ngỏ hầu áp dụng đúng đắn những giáo huấn của Công Đồng trong đời sống Kitô hữu, bao gồm các lãnh vực mục vụ và phụng vụ, tông đồ giáo dân, vấn đề đại kết, tự do tôn giáo, cũng như đối thoại liên tôn và với thế giới.

Theo hãng thông tấn Zenit, vào ngày 22-12-2005, trong khi tiếp kiến các cộng sự viên tại Giáo Triều Roma để bày tỏ những lời chúc mầng Giáng Sinh, Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI đã cho biết: cuộc khủng hoảng nổi lên trong lòng Giáo Hội tiếp theo sau Công Đồng Vatican II không phải do các văn kiện Công Đồng, nhưng đúng hơn, do sự giải thích các văn kiện đó.

Để đánh dấu bốn mươi năm bế mạc Công Đồng Vatican II, tập san “The B.C. Catholic” thuộc Tổng Giáo Phận Vancouver B.C. Canada, số 45, quyển LXXV, phát hành ngày 12-12-2005, đã dành trọn 12 trang đặc biệt để đưa ra một cái nhìn có tính cách tổng kết, căn cứ trên một số bài viết của nhiều tác giả người Canada, Hoa-Kỳ cũng như vài quốc gia khác, đăng rải rác trên nhiều tạp chí.

Chúng tôi đã sắp xếp và đúc kết lại để cống hiến quý độc giả như là một cái nhìn lại quá khứ Công Đồng Vatican II, tuy không đầy đủ, nhưng cũng đưa ra vài nét chấm phá, ngỏ hầu nhận ra đường hướng của Giáo Hội trong bốn mươi năm qua và còn tiếp diễn trong nhiều thập niên tới.

Nhìn chung, đối với phụng vụ, Công Đồng Vatican II đã nhấn mạnh đến Thánh Kinh và Thánh Thể. Do đó, trong Thánh Lễ, hai phần nổi bật là “phụng vụ Lời Chúa” rồi tiếp theo là “phụng vụ Thánh Thể”. Giáo Hội đã dành trọn năm vừa qua (2005) để học hỏi Thánh Thể và năm nay (2006) dùng học hỏi Thánh Kinh.

Ngày nay có một số người kỳ vọng Công Đồng Vatican III sẽ được mở ra để canh tân Giáo Hội hơn nữa, ngỏ hầu theo kịp đà tiến của thế giới. Tuy nhiên, cha ông chúng ta đã nói: “dục tốc bất đạt”. Giáo Hội trong thời cận đại và hiện đại đã trài qua hai Công Đồng Chung: Công Đồng Vatican I (1869-1870) bị gián đoạn vì chiến tranh ở Âu châu và Công Đồng Vatican II (1962-1965) mà những giáo huấn chưa được thực thi thỏa đáng thì Công Đồng Vatican III, nếu xảy ra chưa đúng thời cơ, có thể bị rơi vào đại khuyết điểm “đốt giai đoạn” và kết quả là “lợi bất cập hại”.

Trong suốt chiều dài lịch sử Giáo Hội, các công đồng diễn ra là do công việc của Chúa Thánh Linh. Nhưng tác động của Ngài thì đột xuất, như Chúa Giêsu đã ngỏ lời với ông Ni-cô-đê-mô: “Gió muốn thổi đâu thì thổi; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu.” (Gioan 3, 8)
II - HOÀI NIỆM CỦA MỘT VỊ HỒNG Y NGHỊ PHỤ NGƯỜI CANADA
 Một người chịu ảnh hưởng sâu đậm bởi Công Đồng là Đức Hồng Y George Bernard Flahiff, sinh ở thành phố Paris, Ont. Canada. Là một linh mục xuất sắc thuộc Dòng Thánh Basile, đồng thời là giáo sư và bề trên tổng quyền, ngài đã được chọn làm Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Winnipeg Canada năm 1961 và được thăng chức Hồng Y năm 1969 bởi Đức Thánh Cha Phao-lồ VI. Đức Hồng Y Flahiff là một Nghị Phụ của Công Đồng Vatican II. Ngài đã giữ môt vai trò then chốt trong việc soạn thảo nhiều văn kiện Công Đồng. Ngài đã mời gọi Cộng Đồng Dân Chúa tuyên xưng chân lý của Đức Kitô về đức bác ái và công bình. Ngài đã ngỏ lời tại các Thượng Hội Đồng Giám Mục vào những năm 1967 và 1974 bằng cách nhắc nhở Giáo Hội về sự cam kết của Phúc Âm đối với tâm từ bi, đức công bình, sự bình đẳng và liêm chính đối với hết mọi người.Đức Hồng Y đã hồi hưu kể từ năm 1982 và qua đời năm 1989. Cha Thomas Rosica - người chịu trách nhiệm tổ chức Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới tại Toronto trước đây và cũng là thành viên của Dòng Thánh Basile – đã ghi lại biến cố xảy ra vào một đêm đông năm 1985 khi ngài và Đức Hồng Y được Đức Giám Mục Anh Giáo hồi hưu là Henry Hill mời tham dự một buổi Kinh Chiều trọng thể tại Tu Viện Thánh Gioan của Anh Giáo ở miền đông Toronto.

 Khi họ tới tu viện, Đức Giám Mục Anh giáo và Mẹ Bề Trên cầm đèn cầy thắp sáng đón tiếp, vì đèn điện bị tắt ngúm toàn vùng nên đèn cầy được thay thế! Họ đi lên nhà nguyện và căn phòng sáng rực bởi cả trăm ngọn đèn cầy mà bóng chập chờn đưa qua đưa lại trên các bức tường và trần nhà.  Một bữa ăn thú vị tiếp theo sau đó cũng được rực sáng bởi những ánh đèn cầy! Khi bữa ăn tối chấm dứt, Đức Giám Mục Hill ngỏ lời với các nữ tu về vai trò then chốt của Đức Hồng Y Flahiff tại Công Đồng Vatican II, đặc biệt ở trong những lãnh vực đại kết và sự đổi mới về đời sống tu trì. Kế đó Đức Hồng Y đã chia sẻ một vài kỷ niệm về Công Đồng. Ngài cho rằng chính chúng ta thường thích sống trong bóng tối cuộc đời và của lịch sử Giáo Hội: “Chúng ta thường sợ ánh sáng bởi vì ánh sáng sẽ phát hiện chúng ta.” Ngài kết luận: “Ước mong vẻ đẹp của những ánh đèn cầy tối nay sẽ nhắc nhở chúng ta về ánh sáng Chúa Kitô đang xé tan bóng tối …và về lời hứa của Chúa chẳng bao giờ lìa bỏ chúng ta là những Kitô hữu trong suốt cuộc hành trình tiến về thiên quốc.”

 Trong cuộc sống âm thầm của ngài, Đức Hồng Y đã đem ra thực hành một cách nghiêm túc những văn kiện Công Đồng, bằng cách đem Lời Chúa vào trong cuộc sống chứng nhân hằng ngày, trao ban một sứ điệp về vui mầng và hy vọng cũng như đối thoại với những người thuộc thời đại chúng ta. Linh mục P. Wallace Platt, cũng thuộc Dòng Thánh Basile, khi viết về tiểu sử Đức Hồng Y đã nhắc nhở với một tấm lòng biết ơn đối với những bài học mà Đức Hồng Y đã dạy dỗ, không những về “tinh thần Công Đồng Vatican II” mà còn bằng cuộc sống gương mẫu của một vị hoàng tử và đồng thời cũng là một công bộc lớn lao của Giáo Hội.

  (Phỏng theo LM Thomas Rosica Toronto Sun)


III - CÔNG ĐỒNG VATICAN II - HÔM QUA VÀ HÔM NAY
Bốn mươi năm sau khi Công Đồng Vatican II bế mạc, sự thay đổi sâu xa đang còn vang động trong lòng Giáo Hội từ những hành lang giáo đô Vatican cho đến những dãy ghế trong những giáo xứ địa phương. Bốn khóa họp của Công Đồng từ 1962 đến 1965 và 16 văn kiện hiện đại hóa về phụng vụ, đổi mới nếp sống linh mục và tu sĩ, đề cao vai trò giáo dân, việc mở ra những cuộc đối thoại với các giáo hội khác và với những người ngoài Kitô giáo, cùng sự nhận diện Giáo Hội như là “dân Chúa” đã hài hòa những vấn nạn và niềm hy vọng của thế giới.Mặc dù Công Đồng không đưa ra một tín lý mới, nhưng những tín hữu Công giáo sống qua thời đại Công Đồng Vatican II không bao giờ quên được những thay đổi, đôi khi đột xuất, đã xảy ra trong những cộng đoàn Giáo Hội vào thập niên 1960. Vào ngày 25-01-1959, Đức Thánh Cha Gioan XXIII công bố ý định triệu tập Công Đồng II. Đó là công đồng chung thứ 21 trong lịch sử Giáo Hội. Trong bốn khóa họp của Công Đồng từ 1962 đến 1965, có 147 biên bản và 2,212 diễn văn cũng như 4,361 bài can thiệp bằng viết. Vào năm 1962 có 2,908 nghị phụ hợp lệ. Số giám mục tham dự trung bình hằng ngày là 2,200 vị. Có 460 chuyên viên được chính thức bổ nhiệm, gồm 235 linh mục triều, 45 linh mục Dòng Tên, 42 linh mục Dòng Đa-Minh và 15 linh mục Dòng Phan-xi-cô.Công Đồng có 168 cuộc họp công khai với 10 cuộc họp khoáng đại.
 Diễn tiến của Công Đồng

 1958 :Đức Thánh Cha Gioan XXIII lên ngôi giáo hoàng ngày 28 tháng 10.

 1959: Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII công bố kế hoạch triệu tập Công Đồng. Khi ký văn kiện triệu tập, Đức Thánh Cha đã minh định: xã hội tân tiến đang có nhiều tiến bộ về khoa học và kỹ thuật, nhưng không có sự tiến bộ tương ứng về phong hóa. Vì vậy Ngài sẽ triệu tập Công Đồng để Giáo Hội có thể đóng góp một cách tích cực cho một giải pháp đối với những vấn nạn của thời đại tân tiến.

 1962: Đức Thánh Cha Gioan XXIII, khi khai mạc, đã tuyên bố mục tiêu của Công Đồng nhằm tiêu trừ những mầm mống bất hòa và cổ võ hòa bình cùng hợp nhất giữa cộng đồng nhân loại.

 KHÓA I kéo dài từ ngày 11 tháng 10 đến ngày 8 tháng 12, bao gồm 36 cuộc họp công khai.

 1963: Đức Thánh Cha Phao-lồ VI lên ngôi giáo hoàng ngày 21 tháng 6.

 KHÓA II kéo dài từ ngày 29 tháng 9 đến ngày 4 tháng 12, bao gồm 43 cuộc họp công khai và kết thúc với những văn kiện về phụng vụ và truyền thông xã hội.

 1964: KHÓA III kéo dài từ ngày 14 tháng 9 đến ngày 21 tháng 11 bao gồm 48 cuộc họp công khai và kết thúc với sự công bố Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội và tách rời những sắc lệnh về đại kết với các sắc lệnh về các Giáo Hội Công giáo Đông phương.

1965: KHÓA IV kéo dài từ ngày 14 tháng 9 đến ngày 8 tháng 12 bao gồm 41 cuộc họp công khai và kết thúc với những sắc lệnh về chức vụ giám mục, đào tạo linh mục, đời sống tu sĩ, mục vụ của linh mục, sinh hoạt truyền giáo và vai trò giáo dân. Ngoài ra còn có những tuyên cáo về giáo dục Kitô giáo, tự do tôn giáo và liên lạc với các tôn giáo ngoài Kitô giáo; Hiến Chế Mục vụ của Giáo Hội đối với Thế Giới Tân Tiến và Hiến Chế Tín Lý về Mạc Khải của Chúa.
 Những cải tiến của Công Đồng

 Trước hết bàn thờ được xoay lại để linh mục đối diện với giáo dân. Thánh Lễ bằng La ngữ được thay thế bằng Thánh Lễ dùng ngôn ngữ bản xứ. Việc thi hành các bí tích khác được cập nhật hóa và đơn giản hóa. Những nam nữ tu sĩ chấp nhận một kiểu tu phục tân thời hơn. Không phải mọi thay đổi đều xảy ra tức thời, tuy nhiên các vị lãnh đạo Giáo Hội đã bắt đầu một tiến trình lâu dài và đôi khi có phần xung khắc về việc duyệt lại hầu hết mọi lãnh vực thuộc đời sống mục vụ, từ việc dạy giáo lý cho đến tông đồ giáo dân. Cha Dario Vitali giảng dạy môn lịch sử Giáo Hội ở Đại Học Giáo Hoàng tại Vatican đã nói: “Công Đồng biểu hiệu một cuộc cách mạng của Copernic đối với Giáo Hội đang tự thách đố mình bằng cách tự vấn làm thế nào Giáo Hội có thể nối lại cuộc đối thoại với thế giới tân tiến. Qua Công Đồng, Giáo Hội tiến lại gần hơn với những người nam cũng như người nữ hiện đại và làm cho Phúc Âm có ý nghĩa hơn đối với họ. Nếu không có Công Đồng Vatican II, tôi thiết nghĩ Giáo Hội ngày nay có thể trở thành một nhóm nhỏ, co cụm lại với những lễ nghi mà não trạng tân tiến hiện đại không thể hiểu được.”

 Không phải mọi viên chức trong Giáo Hội nhìn xem Công Đồng một cách tích cực. Một số tín hữu Công giáo còn luyến tiếc việc phụng vụ của thời xa xưa và đôi khi một số viên chức Giáo Hội, kể cả nhiều vị ở tại giáo triều Roma, đã công kích cách thức mà người ta am tường và thực thi những huấn thị của Công Đồng. Trong nhiều trường hợp, cuộc tranh luận phản ảnh những vấn đề đã tranh cãi sôi nổi ngay trong thời Công Đồng.

 Ngày 8 tháng 12 năm nay (2005) kỷ niệm ngày bế mạc Công Đồng vào năm 1965, và mùa thu năm nay, thành phố Roma và giáo đô Vatican đã tiếp đón nhiều cuộc gặp gỡ để duyệt lại việc Giáo Hội đã dấn thân như thế nào trong bốn thập niên qua.

 Đức Thánh Cha Bênêđitô XVI đã tham dự Công Đồng với tư cách là một chuyên viên thần học, đã nhắc tới tầm mức quan trọng của những văn kiện Công Đồng. Mặc dù Ngài có công kích một vài sự đổi thay trong thời hậu Công Đồng, Đức Thánh Cha đã công bố rõ ràng là Vatican II sẽ là “kim chỉ nam” đối với triều đại giáo hoàng của Ngài. Đã hẵn kim chỉ nam định rõ phương hướng, vì vậy tùy vị tân Giáo Hoàng sẽ cung cấp chi tiết.Đức Thánh Cha đã nhấn mạnh việc kiện toàn Công Đồng là một công tác đang triển khai trong lòng Giáo Hội, chứ không chỉ là một biến cố đã xảy ra cách đây 40 năm. Mục tiêu chắc chắn là đừng làm cho Công Đồng Vatican II trở thành một sự kiện lịch sử xa xưa đối với những thế hệ trẻ thuộc tầng lớp giáo hữu ngày nay.Alberto Melloni, một sử gia về Giáo Hội học trong thời đại Công Đồng Vatican II đã nói: “Những tín hữu Công giáo trẻ trung hơn có thể không quan tâm đến Công Đồng trên bình diện trí thức, nhưng họ tiếp tục chứng nghiệm những thành quả của Công Đồng. Nhờ Công Đồng, giới trẻ được chỉ bảo cho biết thế giới không phải là mối đe dọa đối với đời sống Kitô hữu, nhưng là một cơ hội để loan báo Tin Mừng.”

 Vatican II đôi khi được mô tả như một cuộc cách mạng, nhưng Công Đồng diễn ra không phải hoàn toàn bất ngờ. Đã có 20 công đồng trước kia qua suốt chiều dài lịch sử Giáo Hội, kể cả Công Đồng Vatican I vào những năm 1869-1870. Vatican I xác định tín điều giáo hoàng bất khả ngộ và tính ưu việt thuộc quyền tài phán của giáo hoàng, nhưng công đồng nầy đã đình chỉ khi chiến tranh xảy ra ở Âu châu và không bao giờ bắt đầu trở lại.Sự hăng say về thần học vào giữa thế kỷ 20 đã giúp xây đắp nền móng cho Công Đồng Vatican II. Những nhà thần học đi tiên phong như linh mục Dòng Đa-Minh Yves Congar và các linh mục Dòng Tên như John Courtney Murray và Henri de Lubac đã cố gắng bắt nhịp cầu giữa những chân lý thời xa xưa của Kitô giáo và thế giới hiện đại. Cả ba vị đều im hơi lặng tiếng theo một cung cách nào đó vào thập niên 1950, nhưng đã xuất hiện và trở thành những tiếng nói quan trọng của Công Đồng.

 Đức Thánh Cha Gioan XXIII đã làm cho hầu hết mọi người sửng sốt khi công bố Ngài sẽ triệu tập Công Đồng, chỉ ba tháng sau khi được bầu làm giáo hoàng. Ngài đề cập đến nhu cầu phải cập nhựt hóa Giáo Hội và cổ võ sự hiệp nhất Kitô giáo. Ngài cho biết, trên tất cả, Ngài muốn chứng tỏ cho thế giới tân tiến là Giáo Hội đã thay đổi và được tăng cường trên bình diện trí thức.

 Đức Thánh Cha Gioan XXIII cho biết thế giới được đánh dấu bởi sự nghèo nàn về tâm linh và cần Giáo Hội tiếp sức, nhưng về sau Ngài nói rằng Giáo Hội muốn cống hiến cho thế giới tân tiến “liều thuốc của lòng từ bi” chứ không phải sự kết án nghiêm khắc.Sự chuẩn bị cho Công Đồng gần ba năm và Đức Thánh Cha Gioan XXIII mặc dù được chẩn đoán bị ung thư khi công Đồng khai mạc, đã chủ tọa khóa I vào mùa thu 1962 là khóa đầu tiên trong tất cả bốn khóa đều xảy ra cũng vào mùa thu. Sự mời gọi những viên chức thuộc Tin Lành, Chính Thống và những thành phần khác không thuộc Công giáo tham dự Công Đồng đã làm cho Vatican II trở thành một biến cố lịch sử.

 Đức Giáo Hoàng Phaolồ VI đã hướng dẫn để công tác của Công Đồng được hoàn tất, bằng cách chủ tọa ba khóa họp kia và điều hướng sự liên tục của những công tác quan trọng thuộc các lãnh vực phụng vụ, đại kết, đời sống tu sĩ và Phúc Âm hóa.Khoảng 2,000 đến 2,500 giám mục đã tham dự mỗi khóa họp của Công Đồng và các tham dự viên cho biết những cuộc thảo luận được xếp loại từ phát biểu tự do với lời lẽ ôn tồn cho tới cả việc tranh cãi không phải là không có. Một thí dụ khi bảng dự thảo đầu tiên của Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội (tức “Lumen Gentium” - Ánh Sáng Muôn Dân) được trình bày, đã bị công kích thẳng thắn là mang tính chất khải hoàn ca, có tính cách giáo sĩ và nhằm hợp pháp hóa. Văn kiện đã được chấp thuận sau hai năm với nhiều tu chính.

Ngay từ đầu, các giám mục xác nhận rằng vai trò của họ không chỉ cập nhật hóa những việc thực hành đạo giáo mà còn là một tiến trình “trở về nguồn”, hay trở về với nguồn cội Đức Tin. Ở giữa các tham dự vên có một cảm thức chung là họ thực sự đang làm nên lịch sử, như Đức Giám Mục Frank Fernando ở Chilaw, Sri Lanka, đã phát biểu. Ngài là một trong số ít những người còn hăng say hoạt động trong những giám mục đã tham dự ít nhất một khóa họp của Công Đồng. Ngài nói: “Cuộc thào luận rất có phương pháp, với nhiều trao đổi quan điểm. Văn kiện được trình đi trình lại với nhiều tu chính mà các giám mục đã nghiên cứu. Do đó những văn kiện của Công Đồng được gọt dũa, chứ không phải là những tài liệu được trình bày hôm nay và hôm sau được thông qua.” Cuối cùng, Công Đồng đã ban bố bốn hiến chế về phụng vụ, bản chất và cơ cấu Giáo Hội, Giáo Hội trong thế giới hiện đại và mặc khải của Chúa. Công Đồng cũng ban hành chín sắc lệnh về Giáo Hội và truyền thông, đại kết, các Giáo Hội Công giáo Đông phương, các giám mục, sự đào tạo linh mục, đời sống tu sĩ, giáo dân và hoạt động thừa sai. Công đồng cũng đã ban bố ba tuyên ngôn về các tôn giáo không thuộc Kitô giáo, nền giáo dục Kitô giáo và tự do tôn giáo.

 Phần đông các chuyên viên đã liệt kê những thành quả lớn lao của Công Đồng như là một đường hướng giúp hiểu rõ Giáo Hội như là “dân Chúa” và không chỉ là một cơ cấu cấp bực và như là “bí tích” cho thế giới với một sứ vụ tích cực trong mọi lãnh vực của xã hội nhân sinh.  Hiến chế “Ánh Sáng Muôn Dân” đã trình bày Giáo Hội như là một huyền nhiệm và một cộng đoàn các tín hữu đã được nhận lãnh Bí Tích Thánh Tẩy đang tiến tới quê trời như là một nhiệm thể thánh thiện, tuy nhiên bất toàn trong khi đang ở nơi trần thế. Văn kiện đã nói rõ là mặc dù tổ chức theo đẳng cấp, Giáo Hội trong tư cách một cộng đồng là nhiệm thể sống động mà những thành phần được mời gọi nên thánh và mỗi một thành viên giữ một vai trò riêng, có những đặc quyền và trách nhiệm riêng.

 Hiến Chế về Mục Vụ Giáo Hội trong Thế Giới Tân Tiến (“Vui Mừng và Hy Vọng”) được viết ra cho những độc giả trung bình hơn và được chấp thuận vào năm 1965, trong cuộc bỏ phiếu cuối cùng của Công Đồng. Đức Giám Mục Fernando nhớ lại thời gian đó rất rõ và ngài cho biết Hiến Chế “Vui Mầng và Hy Vọng” là văn kiện quan trọng hơn hết mà Công Đồng đã ban bố. Ngài còn nói thêm: nhiều giám mục nghĩ rằng những văn kiện đầu tiên của Công Đồng nhắm tới những chuyên viên và mong muốn văn kiện sau cùng nầy chuyển tải một sứ điệp cho toàn thế giới.  “Vui Mầng và Hy Vọng” kêu gọi Giáo Hội dấn thân đối thoại với xã hội hiện đại và những vấn nạn của xã hội đó, mang giáo huấn và những giá trị luân lý của Giáo Hội cho một thế giới quá tả tơi bởi hận thù, chiến tranh và bất công. Văn kiện nhận chân khoa học và văn hóa có những điều để ban bố cho Giáo Hội, nhưng văn kiện cũng xác định Giáo Hội có sứ mệnh thánh hóa thế giới chung quanh.  Trong những năm sau khi Công Đồng bế mạc, sự đổi mới mà Công Đồng phác họa đã được tinh luyện và soạn thành những điều luật bằng một số sắc lệnh, quy tắc và những thay đổi trong giáo luật. Giáo Hội đã chứng kiến rất nhiều đổi thay:

 -         Quyển “Sách Lễ Roma mới” được ấn hành năm 1970 với một chu kỳ mới gồm những bài đọc nhằm cống hiến một sự chọn lựa phong phú những đoạn Thánh Kinh thích ứng. Năm phụng vụ được đơn giản hóa. Những nghi thức bí tích được duyệt lại nhằm nhấn mạnh đến những khía cạnh có tính cách cộng đồng trong việc hiến tế. Nghi Thức Khai Tâm đối với người trưởng thành được phục hồi và cải tiến. Với những thay đổi đang tiến hành, sự tham gia phụng vụ cách tích cực đã gia tăng một cách đột ngột trong nhiều cộng đoàn địa phương của Giáo Hội.

 -         “Mục vụ giáo dân” được gia tăng bội phần. Những giáo dân đọc sách thánh và làm thừa tác viên Thánh Thể xuất hiện trong các Thánh Lễ. Giáo dân được đại diện trong các hội đồng giáo xứ và những ủy ban giáo phận. Những nam nữ giáo dân mà nhiều người có văn bằng thần học đã thay thế các giáo sĩ trong nhiều chức vụ điều hành Giáo Hội.

 -         Bàng bạc trong Giáo Hội, người ta chú tâm đổi mới việc “học hỏi Thánh Kinh”, phụng vụ và nền linh đạo có tính cách riêng tư.

 -         Các “Giáo Hội Công giáo Đông phương” được khuyến khích trở về với những truyền thống riêng của họ, chấm dứt một thời kỳ La ngữ hóa và mở ra một sự đánh giá mới về tính cách đa dạng trong lòng Giáo Hội hoàn vũ.

 -         Vấn đề “đại kết” được phong phú hóa qua những cuộc đối thoại chính thức giữa các viên chức Công giáo và các giáo hội Kitô giáo khác cũng như trong các buổi cầu nguyện hay trao đổi thân mật ở các cấp địa phương.

 -         Sau khi Công Đồng công nhận có thể có sự cứu rỗi đối với những người ngoài Kitô giáo, Giáo Hội cũng bắt đầu “đối thoại với các tôn giáo khác”.

 -         “Đời sống tu trì” cũng thay đổi một cách đột xuất, như các hội dòng chấp nhận những qui tắc và viết lại hiến pháp, có một cái nhìn mới liên quan đến quyền bính, cộng đoàn và căn tính.

 -         Công Đồng tái lập chức “phó tế vĩnh viễn” như một thánh chức và cho phép các người nam lập gia đình được tấn phong phó tế vĩnh viễn. Hiện nay có hơn 19,000 phó tế vĩnh viễn trên thế giới.

 -         Công Đồng dạy rằng Đức Giáo Hoàng cùng với các giám mục làm thành một cơ cấu chung đưa tới việc thành lập những hội đồng giám mục. “Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới” được thành lập để gặp gỡ thường xuyên và cố vấn cho Đức Thánh Cha.

 -         Nền “thần học” được phục hoạt, nhất là nền thần học luân lý, càng ngày càng tập trung vào nguồn gốc Thánh kinh và lương tâm cá nhân, hơn là luật lệ và quyền bính Giáo Hội.

 -         Công Đồng nhấn mạnh sự liên đới với nhân loại thay vì phân cách khỏi thế giới trần tục và điều đó dẫn tới sự nở rộ những “sinh hoạt bác ái xã hội”. Những cấp lãnh đạo Giáo Hội thường xuyên nhắc nhở đến sự đồng nhất hóa của Giáo Hội với những người nghèo và người đau khổ và Đức Giáo Hoàng trở thành người biện hộ cho nhân quyền mạnh mẽ nhất.

 -         Cùng một trật, Giáo Hội trải qua một số “diễn biến đầy ưu tư”, như việc giảm sút thê thảm về ơn gọi và sự gia tăng số lượng đối với nhiều linh mục và tu sĩ xin hoàn tục. Số người tham dự Thánh Lễ giảm xuống ở nhiều nơi, nhiều người không đi xưng tội và sự bất đồng quan điểm đối với một số giáo huấn như ngừa thai đang lan tràn.

 -         Tất cả những điều đó đã làm hâm nóng trở lại cuộc tranh luận qua bốn thập niên nên cần thiết “phải đọc lại một cách thích đáng” và nhất là việc “thực thi Công Đồng”. Đức Thánh Cha Bênêditô XVI trước đây đôi khi đã lên tiếng chỉ trích trong các cuộc tranh luận đó, nhưng Ngài luôn phân biệt rõ rệt giữa Công Đồng và việc thực thi những giáo huấn của Công Đồng. Ngài đã cho biết điều làm thương tổn Giáo Hội trong thập niên tiếp theo sau Công Đồng Vatican II “không phải Công Đồng nhưng là sự chối từ chấp nhận Công Đồng.”

 (Phỏng theo John Thavis - Vatican City - CNS)


IV - MƯỜI SÁU VĂN KIỆN ĐƯỢC CÔNG ĐỒNG VATICAN II CHUẨN NHẬN
 Sau dây là 16 văn kiện được Công Đồng Vatican II chấp thuận, cùng với ngày tháng và năm được phổ biến và toát lược. Tên gọi văn kiện bằng La ngữ được để trong ngoặc đơn. Thông thường đó là tên lấy từ giòng đầu tiên của chính văn bản.

 1/- Hiến Chế về Phụng Vụ Thánh (Sacrosanctum Concilium) ngày 4-12-1963. Công Đồng truyền lệnh duyệt lại một cách bao quát về phụng vụ để dân chúng có một ý thức rõ rệt hơn về sự tham dự tích cực của chính họ vào Thánh Lễ và những nghi thức khác.



 2/- Sắc Lệnh về những Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội (Inter Mirifica) ngày 4-12-1963. Công Đồng kêu gọi những thành phần Giáo Hội, nhất là giáo dân, truyền đạt “tinh thần nhân bản và Kitô giáo” qua báo chí, sách vở, phim ảnh, truyền thanh và truyền hình.

 3/- Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội (Lumen gentium) ngày 21-11-1964. Văn kiện trình bày Giáo Hội như một nhiệm tích, một sự hiệp thông giữa những tín hữu đã được thanh tẩy, như là dân Chúa, tức nhiệm thể Chúa Kitô và như lữ khách đang trên đường hưóng tới sự hoàn thiện viên mãn trên trời nhưng được ghi dấu ở dưới đất bằng “sự thánh thiện thực tiển, cho dù khiếm khuyết.”

 4/- Sắc Lệnh về Đại Kết (Unitatis Redintegratio) ngày 21-11-1964, theo đó vấn đề Đại Kết là điều mỗi người quan tâm và sự đại kết chân thật liên hệ đến một sự đổi mới liên tục có tính cách cá nhân và cơ chế.


: wp-content -> uploads -> downloads -> 2011
2011 -> TÒa giám mục xã ĐOÀi chỉ nam giáo phận vinh lưỢC ĐỒ TỔng quáT
2011 -> 1. phép lạ thánh thể ĐẦu tiên khoảng năm 700 Tại làng Lanciano, nước Ý (italy)
2011 -> Thiên chúa giáo và tam giáO Đường Thi Trương Kỷ
2011 -> Tác giả Võ Long Tê chưƠng I bối cảnh lịch sử
2011 -> LỊch sử truyền giáo tại việt nam quyển II lm. Nguyễn hồng chưƠng I: MỘt cha dòng têN Ở việt nam tới rôMA
2011 -> Các mẫu thức MẠc khải lm. Lê Công Đức
2011 -> Một lời nói đầu không phải là nơi nhiều chỗđể tóm lược lập luận của một cuốn sách cũng như định vị hoặc phát biểu về sựquan trọng của nó. Đây quả thực là một cuốn sách rất quan trọng
2011 -> LỜi giới thiệu suy tư ban đẦu về MẦu nhiệm giêSU
2011 -> Tu luật thánh biểN ĐỨc ngày 1 tháng 1


  1   2   3   4


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương