CỘng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam tỉnh đỒng tháP



tải về 260.66 Kb.
trang1/4
Chuyển đổi dữ liệu25.07.2016
Kích260.66 Kb.
  1   2   3   4

UỶ BAN NHÂN DÂN


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH ĐỒNG THÁP

Ðộc lập - Tự do - Hạnh phúc

________________

____________________________________

Số: 80/BC-UBND

Thành phố Cao Lãnh, ngày 31 tháng 7 năm 2009



BÁO CÁO

Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2010

___________________
Phần thứ nhất

Tình hình kinh tế-xã hội 6 tháng đầu năm và khả năng

thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2009
A. Tình hình kinh tế-xã hội 6 tháng đầu năm 2009

I. Đặc điểm tình hình và những thuận lợi, khó khăn trong thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2009

1. Đặc điểm tình hình

Năm 2009 là năm thứ 4 triển khai thực hiện kế hoạch 5 năm 2006-2010, có vai trò quan trọng trong việc hoàn thành thắng lợi mục tiêu kế hoạch 5 năm đã được Hội đồng nhân dân Tỉnh thông qua. Các cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nuớc phát huy tác dụng đi vào cuộc sống, nhất là cơ chế, chính sách về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Đây cũng là năm nhiệm vụ kế hoạch được triển khai thực hiện trong tình hình suy giảm kinh tế thế giới còn diễn biến phức tạp, khó lường. Trong công tác quản lý nhà nước, Đồng Tháp có thêm đơn vị hành chính mới thị xã Hồng Ngự, được thành lập trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính huyện Hồng Ngự để thành lập huyện Hồng Ngự và thị xã Hồng Ngự theo Nghị định của Chính phủ.



2. Thuận lợi

Kinh tế Tỉnh phát triển trên đà tăng trưởng cao của năm 2008, với công nghiệp, dịch vụ là mũi nhọn thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh, nông nghiệp là nền tảng cơ bản đảm bảo cho kinh tế phát triển ổn định. Là những động lực tiền đề cho thực hiện kế hoạch năm 2009.

Chính phủ ban hành những giải pháp cấp bách nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng, bảo đảm an sinh xã hội; những cơ chế, chính sách về tín dụng ngân hàng; sự ưu tiên nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp, sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu và đầu tư một số công trình kết cấu hạ tầng trọng yếu tạo sức bật cho phát triển kinh tế - xã hội. Đây sẽ là cơ hội để Tỉnh tận dụng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn.

Những kinh nghiệm điều hành và thành tựu mà Tỉnh đạt được trong nhiều năm qua cùng với hệ thống kết cấu hạ tầng tiếp tục được tăng cường đầu tư, hợp tác liên kết với các tỉnh, thành phố được mở rộng, lực lượng lao động không ngừng được bổ sung, thủ tục hành chính ngày càng minh bạch... sẽ tạo thuận lợi thúc đẩy nền kinh tế Tỉnh tiếp tục phát triển.



3. Khó khăn, thách thức

Khả năng cạnh tranh của nhiều doanh nghiệp, sản phẩm còn kém ngay cả ở thị trường trong nước. Thiên tai, dịch bệnh diễn biến phức tạp, khó lường, giá cả nhiều mặt hàng, dịch vụ theo xu hướng tăng cao. Tính cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các tỉnh, thành trong nước sẽ ngày càng gay gắt...

Nguồn lực địa phương chưa đủ sức cân đối theo yêu cầu phát triển ngày càng cao, khả năng thu hút nguồn lực bên ngoài còn hạn chế; sự hỗ trợ, đầu tư của Trung ương trên địa bàn chưa mang tính trọng tâm, trọng điểm với những công trình, dự án có quy mô lớn cấp vùng và cả nước.

Một số nền kinh tế lớn trên thế giới vẫn đang trong thời kỳ khó khăn. Tình hình đó ít nhiều ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội trong nước và các địa phương, nhất là trên lĩnh vực tiêu thụ, xuất khẩu hàng hóa nông, thủy sản.



II. Những kết quả chủ yếu đạt được

Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2009 của Tỉnh đã được các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và toàn dân ra sức triển khai thực hiện ngay từ đầu năm và đã đạt được những kết quả chủ yếu trong 6 tháng đầu năm như sau:



1. Tăng trưởng kinh tế

Kinh tế Tỉnh tiếp tục phát triển, giá trị GDP 6 tháng đầu năm ước đạt 6.463 tỷ đồng, bằng 50% kế hoạch, tăng 9,39% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực nông - lâm - thuỷ sản đạt 3.245 tỷ đồng, bằng 57,79% kế hoạch, tăng 4,68%; khu vực công nghiệp - xây dựng đạt 1.406 tỷ đồng, bằng 42,23 % kế hoạch, tăng 12,99%; khu vực thương mại - dịch vụ đạt 1.812 tỷ đồng, bằng 45,48% kế hoạch, tăng 15,84% . Tuy mức tăng thấp hơn cùng kỳ năm trước (cùng kỳ tăng 14,75%) và thấp hơn mục tiêu kế hoạch năm 2009 (kế hoạch tăng 13%), nhưng đây là mức tăng khá trong bối cảnh tình hình còn nhiều khó khăn.



2. Lĩnh vực sản xuất, dịch vụ

Sản xuất nông nghiệp giữ vững phát triển, sản lượng cây trồng, vật nuôi phần lớn đạt khá so kế hoạch năm, nhất là vụ lúa Đông xuân đạt trên 1,42 triệu tấn (lúa chất lượng cao 911 ngàn tấn); vụ lúa Hè thu xuống giống đạt 195.485 ha, vượt 5.485 ha so với kế hoạch, đã thu hoạch được 38.118 ha; năng suất khoảng 51,05 tạ/ha; vụ lúa Thu đông xuống giống 27.585 ha, bằng 50,2% kế hoạch, trong đó có 524 ha bị nhiễm rầy nâu; hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày xuống giống đạt 22.458 ha. Cơ giới hoá trong trồng trọt được đẩy mạnh, đến nay đã có 392 máy gặt đập liên hợp, 888 máy gặt xếp dãy, 614 máy sấy, 19 máy gom suốt, có khả năng thu hoạch được 42,5% diện tích lúa Đông xuân, tăng 10% so với vụ trước và đáp ứng sấy 28,4% sản lượng lúa Hè thu. Diện tích vườn cây ăn trái ước đạt 22.732 ha, bằng 94,7% kế hoạch năm, trong đó, có 10 ha xoài sản xuất theo hướng an toàn sinh học (GAP), 27 ha xoài sản xuất theo mô hình thâm canh. Chăn nuôi duy trì phát triển, tại thời điểm điều tra ngày 01 tháng 4 năm 2009, toàn Tỉnh có 310.510 con heo, đạt 73,93% kế hoạch năm, 4,66 triệu con gia cầm, đạt 75,22% kế hoạch năm; bên cạnh đó, đã xảy ra dịch cúm A/H5N1 trên đàn vịt ở xã Phú Long, huyện Châu Thành và xã Tân Hội Trung, huyện Cao Lãnh, nhờ chủ động thực hiện các biện pháp phòng chống dịch, nên đã kịp thời khống chế, dập tắt, không để lây lan ra diện rộng. Nuôi trồng thủy sản được phục hồi dần, 6 tháng đầu năm có 1.169 ha nuôi cá tra (vượt kế hoạch 219 ha) và 900 ha nuôi tôm càng xanh; sản lượng nuôi trồng thuỷ sản ước đạt 139.172 tấn (trong đó, cá tra 123.296 tấn, tôm càng xanh 249 tấn), bằng 50,34% kế hoạch năm, tăng 2% so với cùng kỳ.

Sản xuất công nghiệp tiếp tục phát triển, nhưng chậm lại so cùng kỳ, do một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Tỉnh bị thu hẹp. Trong 6 tháng đầu năm, giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp ước đạt 3.474 tỷ đồng (giá 1994), bằng 38,8% kế hoạch và tăng 11% so với cùng kỳ, là mức tăng trưởng thấp nhất trong những năm gần đây. Các sản phẩm chủ yếu có tốc độ tăng so với cùng kỳ như: thuỷ sản đông lạnh tăng 24,54%, thức ăn thuỷ sản tăng 17,74%, cát khai thác 17,54%, gạo xay xát tăng 8,75%, thuốc lá điếu tăng 65,1%, sản lượng điện thương phẩm tăng 21%; tỷ lệ hộ dân sử dụng điện đạt 98,45%. Một số sản phẩm công nghiệp giảm so với cùng kỳ là: thuốc viên các loại giảm 5,84%, sản phẩm may mặc giảm 4,47%, bánh phồng tôm giảm 3,74%.

Hoạt động thương mại phát triển khá. Trong 6 tháng đầu năm, tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ ước đạt 10.567 tỷ đồng, bằng 53,12% kế hoạch năm, tăng 30,47% so cùng kỳ; kim ngạch xuất khẩu ước đạt 241 triệu USD, bằng 60,28% kế hoạch năm, tăng 3,18% so cùng kỳ (trong đó giá trị thuỷ sản xuất khẩu đạt 109 triệu USD, bằng 46,27% kế hoạch năm, tăng 05,4% so cùng kỳ. Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 218 triệu USD, bằng 48,44% kế hoạch năm, giảm 44,76% so cùng kỳ. Kim ngạch xuất, nhập khẩu qua cửa khẩu đạt 26,76 triệu USD, trong đó xuất khẩu chính ngạch 9,92 triệu USD, tăng 2 lần so cùng kỳ; nhập khẩu chính ngạch 16,86 triệu USD, nhập khẩu tiểu ngạch không đáng kể (1.227 USD). Các hoạt động dịch vụ mua bán, chế biến lúa gạo tại thị xã Sa Đéc, chợ đầu mối trái cây Mỹ Hiệp, các siêu thị từng bước phát huy hiệu quả, mở thêm kênh lưu thông nông sản, hàng hóa mới theo hướng văn minh, hiện đại, tạo thuận lợi cho nhà sản xuất, người tiêu dùng.

Dịch vụ du lịch phát triển khá, so với cùng kỳ, tăng 37,28% về lượng khách du lịch (600 ngàn lượt khách, có 10,5 ngàn khácg quốc tế) và tămg 32% về doanh thu du lịch (41 tỷ đồng). Dịch vụ vận tải đáp ứng kịp thời nhu cầu vận chuyển hàng hoá và đi lại của nhân dân. Trong 6 tháng đầu năm, khối lượng vận tải hàng hoá ước đạt 1,346 triệu tấn; vận tải hành khách đạt 10,12 triệu lượt người, tăng 8,27% so cùng kỳ; tổng doanh thu vận tải, bốc xếp đạt 331 tỷ đồng, tăng 18,05% so cùng kỳ. Dịch vụ bưu chính, viễn thông và công nghệ thông tin phát triển mạnh, đa dạng, nhất là việc đầu tư xây dựng các trạm BTS mở rộng vùng phủ sống thông tin di động phục vụ nhu cầu thông tin liên lạc của địa phương. Tính đến nay, tổng số thuê bao trên toàn mạng đạt 1.188.828 máy, mật độ điện thoại/100 dân đạt 70 máy; mật độ internet/100 dân đạt 9,72 máy.

3. Thu ngân sách nhà nước, tín dụng ngân hàng

Thu ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm đạt 1.024 tỷ đồng, bằng 53,01% dự toán năm, tăng 4,63% so với cùng kỳ; chi ngân sách địa phương đạt 1.697 tỷ đồng, bằng 52,08% dự toán năm. Riêng chi đầu tư phát triển thuộc chi cân đối ngân sách địa phương chỉ đạt 46,9% dự toán năm. Nhìn chung, các khoản thu đa phần đạt tỷ lệ bằng và trên 50% dự toán năm, đáp ứng các nhiệm vụ chi theo dự toán được giao. Tuy nhiên, một số nguồn thu nội địa chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu có mức tăng thấp so dự toán và so với các khoản thu khác, như thuế ngoài quốc doanh, tiền sử dụng đất.

Hệ thống ngân hàng Tỉnh đã chủ động triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời, có hiệu quả các chủ trương, chính sách của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước về hoạt động tín dụng ngân hàng, đã góp phần tích cực cho hoạt động sản xuất, kinh doanh trên địa bàn vượt qua khó khăn, duy trì phát triển trong bối cảnh suy giảm kinh tế. Tính đến ngày 16 tháng 6 năm 2009, nguồn vốn huy động tại chỗ đạt 8.072 tỷ đồng, tăng 22,6% so với đầu năm và tăng 26% so với cùng kỳ. Tổng dư nợ cho vay đạt 14.976 tỷ đồng, tăng 14% so với đầu năm và tăng 34% so với cùng kỳ năm trước, đạt 56% so với kế hoạch năm.

Thực hiện cho vay hỗ trợ lãi suất ngắn hạn theo Quyết định 131/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, có 18/20 ngân hàng thương mại cho 59.594 khách hàng vay (trong đó, có 455 doanh nghiệp, 59.134 hộ gia đình và cá nhân, 05 hợp tác xã), với dư nợ 6.409 tỷ đồng (chiếm 44,82% tổng dư nợ trên địa bàn và chiếm 57,67% dư nợ cho vay ngắn hạn toàn Tỉnh), số tiền lãi đã hỗ trợ là 30 tỷ đồng. Thực hiện cho vay hỗ trợ lãi suất trung, dài hạn theo Quyết định 443/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ cho 249 khách hàng, với dư nợ 82,03 tỷ đồng và số tiền lãi đã hỗ trợ là 125 triệu đồng. Thực hiện cho vay hỗ trợ lãi suất mua máy móc, vật tư theo Quyết định số 497/QĐ-TTg ngày 17/4/2009 của Chính phủ cho 6 khách hàng, với dư nợ 900 triệu đồng. Trên địa bàn Tỉnh có 75 doanh nghiệp đến liên hệ và được hướng dẫn lập hồ sơ bảo lãnh. Đã có 25 doanh nghiệp gởi hồ sơ đăng lý bảo lãnh, với tổng số tiền đề nghị bảo lãnh 173,55 tỷ đồng; trong đó, đã chấp thuận bảo lãnh cho 24 doanh nghiệp, với số tiền được chấp thuận bảo lãnh là 146,8 tỷ đồng.



4. Phát triển doanh nghiệp

Các thành phần kinh tế tuy có gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh, nhưng nhờ chính sách kích cầu, hỗ trợ lãi suất vốn vay của Chính phủ nên vẫn tiếp tục phát triển, tăng hơn so với cùng kỳ. Tính đến nay, có thêm 138 doanh nghiệp đăng ký hoạt động, với tổng vốn đăng ký 320 tỷ đồng, 51 doanh nghiệp đăng ký tăng vốn, với số vốn tăng thêm 323,34 tỷ đồng và 1.846 hộ kinh doanh cá thể đăng ký mới, với tổng vốn đăng ký 194,46 tỷ đồng. Nâng tổng số doanh nghiệp trên địa bàn Tỉnh lên 1.913 doanh nghiệp, với tổng số vốn 8.358 tỷ đồng và 33.861 hộ kinh doanh cá thể, với tổng vốn đăng ký  khoảng 1.950 tỷ đồng. Kinh tế trang trại, hợp tác xã cũng phát triển, đã có thêm 01 hợp tác xã thành lập mới, vốn đăng ký 200 triệu đồng.



5. Thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản, thu hút dự án đầu tư

Kế hoạch đầu tư xây dựng cơ bản đã được các cấp, các ngành tích cực triển khai thực hiện ngay trong những tháng đầu năm, nhưng do có nhiều khó khăn nên kết quả đạt thấp so với kế hoạch: Tổng giá trị khối lượng xây dựng cơ bản hoàn thành ước đạt 735,27 tỷ đồng, bằng 37,88% so với tổng vốn phân bổ. Đã giải ngân được 664,956 tỷ đồng, đạt 34,26% so với tổng vốn phân bổ, tăng 1,41% so với cùng kỳ năm 2008 (6 tháng đầu năm 2008 giải ngân là 32,85%). Trong đó:

- Vốn giao kế hoạch đầu năm (KH 1.175,368 tỷ đồng), ước giá trị khối lượng hoàn thành 6 tháng đầu năm đạt 552,915 tỷ đồng, bằng 47,04% kế hoạch; giải ngân được 486,060 tỷ đồng, bằng 41,35% kế hoạch, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm 2008 (6 tháng đầu năm 2008 đạt 32,85%).

- Vốn giao bổ sung (KH 765,820 tỷ đồng), ước giá trị khối lượng hoàn thành 6 tháng đầu năm đạt 182,361 tỷ đồng, bằng 23,81% kế hoạch; giải ngân được 178,896 tỷ đồng, bằng 23,36% kế hoạch. Trong đó, thực hiện vốn trái phiếu Chính phủ đạt 96,942/136,231 tỷ đồng, bằng 71,16% kế hoạch; giải ngân được 96,242 tỷ đồng, bằng 70,65% kế hoạch (bệnh viện tuyến huyện đạt 25,25%, chương trình kiên cố hoá trường lớp học đạt 66,22%, đường ô tô đến trung tâm xã đạt 100% kế hoạch).

Công tác vận động, triển khai xây dựng các dự án đầu tư đạt kết quả tích cực. Sáu tháng đầu năm đã thu hút 04 dự án đăng ký mới, 06 dự án xây dựng hoàn thành đi vào sản xuất, 05 dự án mới khởi công. Tính đến nay, toàn Tỉnh có 107 dự án, trong đó có 49 dự án đi vào hoạt động, 30 dự án đang thi công xây dựng cơ bản và 28 dự án đang chuẩn bị đầu tư.

6. Giáo dục-đào tạo

Chất lượng giảng dạy, học tập ngày càng được nâng cao, đã kết thúc thắng lợi năm học 2008-2009 đúng theo kế hoạch. Công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, học sinh yếu kém, hướng nghiệp, tư vấn tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp được tập trung thực hiện. Đề án nâng cao chất lượng giáo dục tiếp tục thực hiện có hiệu quả. Tỷ lệ học sinh bỏ học được giữ ở mức thấp (tính đến tháng 3 năm 2009, tỷ lệ học bỏ học ở tiểu học là 0,24%, trung học cơ sở là 1,26%, trung học phổ thông là 2,13%); số cán bộ, công chức đăng ký dự thi sau đại học đợt tháng 02 năm 2009 có trên 250 người; tiếp tục xét tuyển 07 đối tượng đăng ký tham gia Chương trình Mekong 1000 (trong Quý I/2009). Công tác hướng nghiệp, tư vấn tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp cũng được quan tâm thực hiện. Toàn tỉnh đã có 27.744 hồ sơ đăng ký dự thi các trường đại học, cao đẳng năm 2009. Công tác xây dựng mạng lưới trường, lớp học và mua sắm trang thiết bị dạy học được tăng cường. Đề án kiên cố hóa trường, lớp học giai đoạn 2008 - 2012 đang được khẩn trương triển khai thực hiện.

Tập trung chỉ đạo tổ chức tốt kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông và bổ túc trung học phổ thông đảm bảo an toàn, nghiêm túc, đúng quy chế và chất lượng. Toàn tỉnh có 14 cụm thi với 22 điểm thi, 606 phòng thi, 14.240 thí sinh đăng ký dự thi, có mặt dự thi là 12.999 thí sinh, chiếm 91,28%. Kết quả sơ bộ có 8.044 học sinh trung học phổ thông đậu tốt nghiệp, đạt 64,20% và 68 học sinh bổ túc trung học phổ thông đậu tốt nghiệp, đạt 14,47% so tổng số thí sinh dự thi.

7. Khoa học-công nghệ và môi trường

Hoạt động khoa học, công nghệ được chú trọng, đã tạo lập được mối liên kết với các Viện, Trường, Trung tâm, các nhà khoa học trong và ngoài Tỉnh, góp phần tăng thêm năng lực hoạt động của ngành đáp ứng cho mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn trên địa bàn Tỉnh. Cùng với việc tổ chức các lớp tập huấn về sở hữu trí tuệ, hướng dẫn đăng ký nhãn hiệu hàng hóa cho các hợp tác xã, doanh nghiệp trong Tỉnh, trong 6 tháng đầu năm đã nghiệm thu 05 đề tài khoa học với kết quả 01 đề tài loại khá và 04 đề tài loại B; triển khai nghiên cứu 08 đề tài khoa học mới; có 09 đơn vị lập hồ sơ đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa; hoàn chỉnh dự thảo Chương trình xây dựng nhãn hiệu hàng hóa nông sản đặc thù của địa phương.

Công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ môi trường được duy trì thường xuyên thông qua các hoạt động tổ chức Hội thi tuyên truyền viên giỏi về an toàn vệ sinh môi trường ở các doanh nghiệp; phát động phong trào thu gom rác, vệ sinh môi truờng ở các khu vực chợ, khu đông dân cư, trồng cây xanh… Triển khai các biện pháp xử lý ô nhiễm môi trường nước ở các khu vực chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản… Tuy nhiên, kết quả còn hạn chế, do sự chấp hành chưa nghiêm của một số hộ chăn nuôi, doanh nghiệp chế biến thuỷ sản.

8. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân

Hoạt động phòng chống dịch bệnh, phòng chống thiên tai thảm họa được đặc biệt quan tâm. Công tác kiểm tra, giám sát các mặt hoạt động phòng chống dịch được tăng cường, công tác tiêm chủng đạt tỷ lệ cao, số trẻ em dưới 01 tuổi được tiêm chủng miễn dịch đầy đủ đạt 65% kế hoạch năm. Triển khai kiểm tra hưởng ứng Tháng hành động vệ sinh an toàn thực phẩm, tăng cường công tác y tế dự phòng, nên về cơ bản không có dịch bệnh lớn xảy ra, riêng bệnh sốt xuất huyết có xu hướng tăng dần theo mùa mưa, đến nay có 615 trường hợp nhiễm, có 01 ca tử vong, xảy ra 01 ca mắc bệnh viêm phổi do H5N1 và tử vong.

Cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, giường bệnh, nhân lực y tế được quan tâm đầu tư, nâng dần khả năng khám chữa bệnh cho nhân dân, tập trung đầu tư xây dựng các bệnh viện đa khoa khu vực, bệnh viện đa khoa tuyến huyện theo Đề án 225. Tuy nhiên do nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân ngày càng tăng, nhất là đối tượng tham gia bảo hiểm y tế, nên tình trạng quá tải luôn xảy ra ở cả 3 tuyến, công suất sử dụng giường bệnh bình quân của toàn Tỉnh đạt khoảng 125%, số lần khám bệnh đạt 2,25 lần/năm.

Công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình được củng cố, kiện toàn. Tuy có những khó khăn ban đầu, nhưng vẫn đảm bảo thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, kết quả áp dụng các biện pháp tránh thai đạt 55,26% kế hoạch năm.



9. Hoạt động văn hóa, thể thao

Hoạt động văn hóa diễn ra sôi nổi, với nhiều nội dung phong phú, góp phần giáo dục truyền thống, tạo không khí vui tươi phấn khởi, giữ vững môi trường văn hóa xã hội lành mạnh. Nổi bật là các hoạt động mừng Đảng - mừng Xuân, kỷ niệm 50 năm Đường Trường Sơn huyền thoại, kỷ niệm 119 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn với cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh… Công tác xây dựng gia đình, khóm ấp văn hóa tiếp tục thực hiện với chất lượng ngày càng được nâng lên.

Thể dục thể thao tiếp tục phát triển, các ngành, các cấp đã tổ chức nhiều cuộc hội thao, thi đấu, tạo khí thế trong phong trào luyện tập, thi đấu. Đã tổ chức thành công Đại hội thể dục thể thao khu vực đồng bằng sông Cửu Long lần thứ III giai đoạn II, với 07 môn thi đấu, Đoàn Đồng Tháp đã giành được hạng nhì toàn đoàn với 42 huy chương vàng, 48 huy chương bạc và 43 huy chương đồng.

10. Tạo việc làm, bảo đảm an sinh xã hội

Công tác tạo việc làm, chăm lo người nghèo được quan tâm tốt hơn. Trong 6 tháng đầu năm, đã giải quyết việc làm khoảng 18.600 lao động, đạt 46,5% kế hoạch năm, có 8.080 lượt hộ nghèo vay vốn làm ăn, với số tiền 5,1 tỷ đồng; mua và cấp thể bảo hiểm y tế cho 130.654 người nghèo; thăm hỏi, tặng quà trong dịp Tết Kỷ Sửu cho 79.098 hộ gia đình chính sách, người có công, hộ nghèo, với tổng số tiền là 26,705 tỷ đồng, trong đó hỗ trợ tiền Tết cho 31.846 hộ nghèo, với tổng số tiền 24,87 tỷ đồng. Hoàn thành việc điều tra, khảo sát, thống kê hộ nghèo, cận nghèo, kết quả trên địa bàn Tỉnh tỷ lệ hộ nghèo còn 5,72%, tỷ lệ hộ cận nghèo 13,28%. Thông qua Sàn giao dịch việc làm của Tỉnh, đã có 3.838 lượt lao động đến tìm việc, trong đó có 467 lao động nộp hồ sơ xin việc.

Trong 6 tháng đầu năm, các cơ sở dạy nghề trong Tỉnh tuyển mới dạy nghề cho 11.232 người, đạt 52,54% kế hoạch năm; thực hiện điều chỉnh Đề án phát triển mạng lưới dạy nghề, trong đó nâng cấp thêm 03 Trung tâm dạy nghề lên trường Trung cấp Nghề; đầu tư kinh phí mua sắm trang thiết bị dạy nghề từ Chương trình mục tiêu quốc gia của các trường, trung tâm dạy nghề.

Công tác đền ơn đáp nghĩa được duy trì thường xuyên và có hiệu quả. Từ đầu năm đến nay đã lập 591 hồ sơ đề nghị hưởng chế độ theo Quyết định 290, trợ cấp giáo dục ưu đãi cho 888 học sinh, sinh viên, tổ chức đưa 433 đối tượng người có công đi điều dưỡng ngoài tỉnh, đề nghị Trung ương truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” cho 12 mẹ, vận động Quỹ đền ơn đáp nghĩa được 2,7 tỷ đồng, đạt 39% kế hoạch năm… Công tác bảo trợ xã hội, chăm sóc bảo vệ trẻ em và phòng chống tệ nạn xã hội luôn được quan tâm tích cực, mang lại lợi ích thiết thực trong đời sống vật chất và tinh thần cho các đối tượng.



11. Công tác cải cách hành chính

Công tác cải cách hành chính được tăng cường, chú trọng ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông giúp rút ngắn thời gian xử lý công việc, hạn chế hồ sơ tồn đọng, tạo thuận lợi cho tổ chức và công dân.

Chỉ đạo, giao nhiệm vụ cho các sở, ngành có thay đổi tổ chức, chức năng, nhiệm vụ khẩn trương xây dựng quy trình làm việc theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông đối với những thủ tục hành chính do sở, ngành, địa phương phụ trách; tiếp tục thực hiện việc thống kê, bổ sung thủ tục hành chính đảm bảo chính xác, kịp thời đúng theo yêu cầu của Đề án 30 của Chính phủ. Tăng cường công tác cải cách tổ chức bộ máy cơ quan nhà nước, hỗ trợ thị xã Hồng Ngự và huyện Hồng Ngự kiện toàn toàn chức bộ máy và cán bộ, công chức cấp huyện-thị, cấp phường-xã sau khi chia, tách theo Nghị định số 08/NĐ-CP ngày 23 tháng 12 năm 2008 đi vào hoạt động ổn định.

12. Công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí

Được các cấp, các ngành chỉ đạo thực hiện với quyết tâm cao, gắn kết chặt chẽ với cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Các cấp uỷ Đảng đặc biệt quan tâm lãnh đạo sâu sát; các cấp chính quyền đều có kế hoạch thực hiện cụ thể, có trọng tâm, trọng điểm, thường xuyên theo dõi, kiểm tra, chỉ đạo xử lý nghiêm các hành vi vi phạm theo đúng quy định của pháp luật; Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và nhân dân tích cực tham gia giám sát, hưởng ứng nhiệt tình, bước đầu đã nâng cao nhận thức pháp luật về phòng, chống tham nhũng, nêu cao vai trò của người đứng đầu cơ quan, đơn vị, đưa công tác này ngày càng đi vào chiều sâu.



13. Quốc phòng - an ninh

Công tác trực sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ các địa bàn, mục tiêu trọng yếu được thực hiện nghiêm ngặt. Các lực lượng chức năng đã tổ chức thực hiện tốt công tác nắm tình hình, quản lý chặt các đối tượng nổi, đề xuất giải quyết kịp thời các vụ tranh chấp, khiếu kiện đông người; triển khai đồng bộ các biện pháp tấn công, trấn áp tội phạm và đảm bảo an ninh trật tự theo kế hoạch đề ra, không để xảy ra vụ việc phức tạp về an ninh trật tự. Công tác tuyển chọn gọi thanh niên nhập ngũ đợt 1 năm 2009 đạt yêu cầu số lượng và chất lượng. Quan hệ đối ngoại với tỉnh Prâyveng - Campuchia tiếp tục được củng cố, phát triển.

Công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông được tăng cường, tai nạn giao thông đường bộ được kiềm chế. Công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân luôn đảm bảo đúng quy trình, quy định.

III. Những hạn chế, khó khăn

1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại và giảm so với cùng kỳ, nhất là khu vực công nghiệp - xây dựng có mức tăng trưởng thấp nhất trong những năm gần đây. Đây là khó khăn, thách thức lớn trong việc thực hiện mục tiêu kế hoạch về tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, ổn định đời sống dân cư trong 6 tháng cuối năm 2009.

2. Thực hiện vốn đầu tư xây dựng cơ bản đạt thấp so kế hoạch (khối lượng hoàn thành đạt 37,8%, giải ngân đạt 34,25%), trong đó vốn giao bổ sung đạt dưới 24%, tập trung chủ yếu là nguồn tăng thu xổ số kiến thiết, vốn bồi thường, san nền cụm tuyến dân cư giai đoạn 2. Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng ở khu công nghiệp Sa Đéc, khu công nghiệp Sông Hậu chưa được xử lý dứt điểm, đã ảnh hưởng đến tiến độ triển khai thi công các dự án đầu tư.

3. Triển khai thực hiện các chính sách kích cầu đầu tư, tiêu dùng, hỗ trợ tín dụng của Chính phủ còn chậm so với yêu cầu. Khả năng tiếp cận nguồn vốn vay hỗ trợ lãi suất đối với các doanh nghiệp, hộ kinh doanh, hợp tác xã, nhất là hộ nông dân còn nhiều hạn chế.

4. Dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi tiềm ẩn nguy cơ bùng phát. Thời tiết diễn biến rất phức tạp, mưa giông bất thường, gây sạt lở bờ sông, thiệt hại sản xuất và tài sản nhân dân. Bệnh sốt xuất huyết, tiêu chảy cấp, cúm A/H1N1 có nguy cơ lây nhiễm cao. Công tác quản lý dịch bệnh qua biên giới còn nhiều hạn chế do điều kiện địa lý và thiếu nguồn nhân lực, trang thiết bị y tế.




  1   2   3   4


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương