Công ước viên 1969 về luật điều ước quốc tế


Điều 17: Việc đồng ý chịu sự ràng buộc một phần của một điều ước và việc lựa chọn giữa những điều khoản khác



tải về 208.41 Kb.
Chế độ xem pdf
trang7/27
Chuyển đổi dữ liệu04.01.2023
Kích208.41 Kb.
#54099
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   27
Công ước Viên 1969 về luật điều ước QT

Điều 17: Việc đồng ý chịu sự ràng buộc một phần của một điều ước và việc lựa chọn giữa những điều khoản khác
nhau
1. Không phương hại đến những điều từ 19 đến 23, việc một quốc gia đồng ý chịu sự ràng buộc của một phần của một
điều ước chỉ có giá trị khi điều ước cho phép làm như vậy hoặc khi có sự đồng ý của các quốc gia ký kết khác
2. Việc quốc gia đồng ý chịu sự ràng buộc của một điều ước khi điều ước đó cho phép lựa chọn giữa những quy định
khác nhau chỉ có giá trị khi những quy định mà quốc gia đó lựa chọn đã được ghi rõ ràng trong điều ước.
Điều 18: Nghĩa vụ về việc không được làm cho một điều ước mất đối tượng và mất mục đích trước khi điều ước này có
hiệu lực
Một quốc gia có nghĩa vụ tránh tiến hành những hành động làm cho một điều ước mất đối tượng và mất mục đích:
a. Khi quốc gia đó đã ký điều ước hoặc đã trao đổi những văn kiện phê chuẩn, chấp thuận hoặc phê duyệt điều ước đó,
cho đến khi quốc gia đó tỏ rõ ý định không muốn tham gia điều ước đó nữa; hoặc
b. Khi quốc gia đó đã biểu thị sự đồng ý chịu sự ràng buộc của điều ước trong thời gian trước khi điều ước có hiệu lực,
và với điều kiện là việc có hiệu lực này không được trì hoãn một cách quá đáng.
TIẾT 2
page 5 / 23


http://www.hongha.vn/news/pdf/cong-uoc-vien-1969-ve-luat-dieu-uoc-quoc-te-1376.pdf
NHỮNG ĐIỀU BẢO LƯU
Điều 19: Việc đề ra những bảo lưu
Khi ký, phê chuẩn, chấp thuận, phê duyệt hoặc khi gia nhập một điều ước. Một quốc gia có thể đề ra một bảo lưu, trừ
khi:
a. Điều ước đó ngăn cấm việc bảo lưu
b. Điều ước đó quy định rằng chỉ có thể có những bảo lưu cụ thể, trong đó không có bảo lưu đã bị cấm nói trên
c. Bảo lưu không phù hợp với đối tượng và mục đích của điều ước, ngoài những trường hợp ghi ở đoạn (a) và (b) nói
trên.
Điều 20: Chấp thuận và bác bỏ bảo lưu
1. Một bảo lưu được một điều ước rõ ràng cho phép thì không cản được các quốc gia ký kết chấp thuận, trừ khi điều
ước quy định việc chấp thuận này.
2. Khi số quốc gia tham gia đàm phán có hạn cũng như theo đối tượng và mục đích của điều ước, mà việc thi hành toàn
bộ điều ước giữa tất cả các bên là một điều kiện chủ yếu của việc đồng ý nhận sự ràng buộc các điều ước của mỗi bên
thì một bảo lưu cần phải được tất cả các bên chấp nhận
3. Khi một điều ước là một văn kiện về việc thành lập một tổ chức quốc tế thì một bảo lưu đòi hỏi có sự chấp thuận của
cơ quan có thẩm quyền của tổ chức này, trừ khi điều ước có quy định khác
4. Trong những trường hợp khác với những trường hợp ghi ở những khoản trên, và trừ khi điều ước có quy định khác:
a. Việc một quốc gia ký kết khác chấp nhận một bảo lưu làm cho quốc gia đề ra bảo lưu đó trở thành một bên tham gia
điều ước trong quan hệ với quốc gia khác nếu hoặc chỉ khi điều ước đó có hiệu lực đối với các quốc gia đó
b. Việc một quốc gia ký kết khác phản đối một bảo lưu không cản trở việc điều ước đó có hiệu lực giữa quốc gia phản
đối bảo lưu và quốc gia đề ra bảo lưu, trừ khi quốc gia phản đối bảo lưu đã bày tỏ ý định ngược lại của mình
c. Một văn kiện của một quốc gia biểu thị sự đồng ý của mình chịu sự ràng buộc của điều ước kèm theo một bảo lưu sẽ
có giá trị khi ít nhất có một quốc gia ký kết khác chấp nhận bảo lưu đó.
5. Nhằm những mục đích của các khoản 2 và 4 và trừ khi điều ước có quy định khác, một bảo lưu được coi như được
một quốc gia chấp nhận nếu quốc gia này không phản đối bảo lưu sau 12 tháng kể từ ngày nhận được thông báo về bảo
lưu đó hoặc vào ngày quốc gia này biểu thị sự đồng ý chịu sự ràng buộc của điều ước, nếu hành động này xảy ra sau
ngày bảo lưu được đưa ra.

tải về 208.41 Kb.

Chia sẻ với bạn bè của bạn:
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   27




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2023
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương