ChuyêN ĐỀ II một số VẤN ĐỀ VỀ CÔng tác xây dựng đẢng và CÔng tác cán bộ hiện nay


Nội dung, mục tiêu và phương châm tiến hành



tải về 298.26 Kb.
trang3/4
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích298.26 Kb.
1   2   3   4

2. Nội dung, mục tiêu và phương châm tiến hành

- Nội dung:

Trên cơ sở đánh giá tình hình Đảng và công tác xây dựng Đảng, Trung ương chỉ ra 3 vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay là:

(1). Ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp.

(2). Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp Trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.

(3). Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.



Trong 03 vấn đề cấp bách nêu trên, thì vấn đề thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt và cấp bách nhất.

- Mục tiêu: Tạo được sự chuyển biến rõ rệt, khắc phục được những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng hiện nay, nhằm xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh, không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

- Phương châm tiến hành:

(1). Phải nhìn thẳng vào những khuyết điểm, yếu kém, không nể nang, né tránh và đề ra các giải pháp sửa chữa khuyết điểm. Những cán bộ, đảng viên có khuyết điểm nhưng tự giác, thành khẩn nhận khuyết điểm và quyết tâm sửa chữa thì có thể xem xét, giảm nhẹ hoặc không xử lý với phương châm “trị bệnh cứu người”; những người có khuyết điểm nhưng không tự giác, thành khẩn thì phải xử lý nghiêm khắc theo quy định của Điều lệ Đảng.

(2). Phải có các giải pháp đồng bộ, khả thi và tiến hành có trọng tâm, trọng điểm; kết hợp “chống để xây” và “xây để chống”; thực hiện nói đi đôi với làm; tập trung giải quyết những vấn đề bức xúc, trì trệ nhất;

(3). Phải bình tĩnh, tỉnh táo, không nóng vội, cực đoan; đồng thời không để rơi vào trì trệ, hình thức; giữ đúng nguyên tắc, không để các thế lực thù địch, cơ hội lợi dụng, kích động, xuyên tạc, đả kích, gây rối nội bộ.



3. Nhiệm vụ và giải pháp thực hiện

Để giải quyết 03 vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng nêu trên, Nghị quyết Trung ương đề ra 04 nhóm giải pháp đồng bộ để thực hiện là:



(1). Nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong gương mẫu của cấp trên, cụ thể là:

- Tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư kiểm điểm trước; từng đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, ủy viên Ban Bí thư kiểm điểm sau, từ đồng chí Tổng Bí thư của Đảng đến đồng chí ủy Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Thường trực Ban Bí thư và các đồng chí Bộ Chính trị Ban Bí thư khác.

- Mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo 03 nội dung nêu trong Nghị quyết.

- Trước khi kiểm điểm tập thể và cá nhân có các hình thức phù hợp để lấy ý kiến đóng góp của cán bộ, đảng viên, nhân dân và những nơi có vấn đề nổi cộm thì cấp trên có gợi ý để tập trung kiểm điểm, làm rõ.

- Sau khi kiểm điểm phải báo cáo kết quả cấp trên và thông báo kết quả, rút kinh nghiệm để cấp dưới học tập, noi gương làm theo.

(2). Nhóm giải pháp về tổ chức, cán bộ và sinh hoạt đảng, cụ thể là:

- Phát huy dân chủ trong Đảng; thực hiện Quy chế chất vấn trong Đảng, nhất là việc chất vấn trong các kỳ họp của Trung ương và cấp ủy các cấp.

- Đổi mới cách lấy phiếu tín nhiệm để đánh giá cán bộ theo hướng mở rộng đối tượng tham gia. Những người không đủ năng lực, tín nhiệm thấp cần sắp xếp cho phù hợp, không chờ đến hết nhiệm kỳ.

- Thực hiện việc luân chuyển, bố trí một số chức danh cán bộ chủ chốt không phải là người địa phương;

- Tiếp tục thực hiện một số chủ trương thí điểm về công tác cán bộ;

- Định kỳ tổ chức để nhân dân góp ý xây dựng Đảng thông qua Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.



(3). Nhóm giải pháp về cơ chế, chính sách, cụ thể là:

- Rà soát, loại bỏ những cơ chế, chính sách không còn phù hợp; xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách mới để đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ.

- Tích cực cải cách hành chính nhà nước và hành chính trong Đảng. Đẩy nhanh việc cải cách, thực hiện chế độ tiền lương, nhà ở; khắc phục cách tính bình quân, cào bằng và chống đặc quyền, đặc lợi; gắn tinh giản biên chế với cơ cấu lại đội ngũ cán bộ.

- Có cơ chế giám sát của MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội và cơ chế để MTTQ, các đoàn thể và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng.

(4). Nhóm giải pháp về công tác giáo dục chính trị tư tưởng, cụ thể là:

- Tiếp tục đẩy mạnh việc Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo Chỉ thị, Kế hoạch số 03 của Bộ Chính, Ban Bí thư (khoá XI);

- Đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức lối sống cho cán bộ, đảng viên gắn với việc kiểm điểm, tư phê bình và phê bình trong toàn Đảng;

- Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; cập nhật kiến thức mới cho cán bộ chủ chốt các cấp. Chấn chỉnh hoạt động thông tin, tuyên truyền; nêu gương người tốt, việc tốt, lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực;

- Cán bộ chủ chốt các cấp phải thường xuyên tiếp xúc, đối thoại với nhân dân. Chủ động đấu tranh với những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong Đảng; giữ gìn sự đoàn kết thống nhất trong Đảng.

Trong 04 Nhóm giải pháp nêu trên, thì Nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình, nêu cao tính tiền phong gương mẫu của cấp trên có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc thực hiện Nghị quyết.

4. Tình hình thực hiện và một số kết quả bước đầu

Trong quá trình triển khai và tổ chức thực hiện Nghị quyết, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo chặt chẽ, sâu sát, cụ thể, thể hiện quyết tâm và trách nhiệm chính trị cao; đồng thời có những nội dung và cách làm mới. Do đó, sau hơn một năm thực hiện đã đem lại một số kết quả bước đầu. Cụ thể là:



(1). Thực hiện Nhóm giải pháp về tự phê bình và phê bình:

a) Việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình của Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã được chuẩn bị công phu, tiến hành nghiêm túc, kỹ lưỡng, chặt chẽ, thực sự làm gương cho cấp dưới học tập, noi theo, cụ thể là:

- Công tác chuẩn bị kiểm điểm:

+ Bộ Chính trị đã tổ chức việc lấy ý kiến đóng góp của các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương; của các đồng chí nguyên là lãnh đạo Đảng, Nhà nước, nguyên ủy viên Trung ương Đảng, bộ trưởng và tương đương cho tập thể và cá nhân Bộ Chính trị, Ban Bí thư bằng các hình thức phù hợp.

+ Bộ Chính trị đã chỉ đạo việc tập hợp, tổng hợp đầy đủ, chính xác, trung thực các ý kiến góp ý cho tập thể và cá nhân; đồng thời chọn lọc ra 30 vấn đề cần phải tiếp thu, giải trình rõ và giao cho các cơ quan chức năng (Ban Cán sự đảng Chính phủ, các ban đảng Trung ương) giúp Bộ Chính trị chuẩn bị báo cáo kiểm điểm và các báo cáo giải trình. Những vấn đề liên quan đến cá nhân đồng chí nào thì giao cho đồng chí đó chuẩn bị báo cáo giải trình.

- Quá trình tiến hành kiểm điểm:

+ Sau hơn 2 tháng chuẩn bị, từ ngày 12/7/2012, Bộ Chính trị, Ban Bí thư bắt đầu tiến hành kiểm điểm tập thể và cá nhân theo trình tự kiểm điểm tập thể trước, kiểm điểm cá nhân sau. Tổng thời gian kiểm điểm của Bộ Chính, Ban Bí thư là 21 ngày, trong đó: kiểm điểm tập thể 4 ngày, cá nhân 12 ngày và thảo luận, làm rõ một số vấn đề có liên quan đến kiểm điểm 5 ngày.

+ Khi kiểm điểm cá nhân, tiến hành theo trình tự từ đồng chí Tổng Bí thư đến các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư khác.

+ Khi kiểm điểm tập thể và cá nhân, tất cả các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư đều tham gia đóng góp ý kiến cho tập thể và các đồng chí ủy viên Bộ chính trị, Ban Bí thư khác.

+ Việc kiểm điểm được tách thành nhiều đợt để có thời gian cho Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạo, giải quyết các công việc thường xuyên và tiếp tục hoàn thiện báo cáo kiểm điểm của cá nhân (nhiều đồng chí bổ sung bản kiểm điểm 3 - 4 lần).

+ Trong quá trình kiểm điểm tập thể và cá nhân, vấn đề nào đã rõ thì Bộ Chính trị kết luận và chỉ đạo sửa chữa, khắc phục ngay; vấn đề nào chưa rõ thì giao Ủy ban Kiểm tra Trung ương xem xét, làm rõ trứơc khi kết luận.



- Sau khi kiểm điểm:

+ Ngay sau khi kết thúc kiểm điểm tập thể và cá nhân Bộ Chính trị, Ban Bí thư, ngày 13/8/2012, Bộ Chính trị tổ chức Hội nghị cán bộ toàn quốc phổ biến kinh nghiệm, cách làm cho cấp tỉnh học tập, noi theo.

+ Bộ Chính trị đã gợi ý kiểm điểm đối với 56 tập thể và một số cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý; phân công 12 đồng chí ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư và thành lập các Nhóm công tác của Trung ương dự, chỉ đạo kiểm điểm ở cấp tỉnh và tương đương; đồng thời xác định 12 tiêu chí biểu hiện chủ yếu của việc kiểm điểm không đạt yêu cầu để các cấp căn cứ thực hiện.

+ Trên cơ sở kiểm điểm tự phê bình, phê bình của tập thể và cá nhân, Bộ Chính trị có Kết luận bằng văn bản về những ưu điểm, khuyết điểm của tập thể và từng đồng chí ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Hội nghị Trung ương 6 đánh giá: Việc kiểm điểm tự phê bình, phê bình của tập thể và cá nhân Bộ Chính trị, Ban Bí thư là Cơ bản đạt yêu cầu.



b) Về kiểm điểm của cấp tỉnh và tương đương (gồm 130 đơn vị) được tiến hành từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 11/2012.

- Nhìn chung, việc chuẩn bị và tiến hành kiểm điểm của cấp tỉnh và tương đương được tiến hành chặt chẽ, nghiêm túc (nhiều ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy kiểm điểm tập thể và cá nhân trong 10 ngày và chia thành nhiều đợt để chỉ đạo thực hiện các công việc thường xuyên và bổ sung kiểm điểm).

- Sau kiểm điểm, nhiều cấp ủy trực thuộc Trung ương đã tích cực sửa chữa khuyết điểm. Nhiều nơi đã ban hành mới hoặc bổ sung, sửa đổi một số quy định, quy chế về công tác cán bộ cho phù hợp với tình hình của từng nơi; ban hành Quy định về việc đẩy mạnh thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới; thực hiện thí điểm việc lấy phiếu tín nhiệm đối với ban thường vụ cấp ủy; ban hành quy chế thi tuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý và công chức;

- Việc kiểm điểm, tự phê bình của cấp tỉnh và tương đương được Bộ Chính tri đánh giá là Cơ bản đạt yêu cầu. Tuy nhiên, có một số tập thể và cá nhân kiểm điểm chưa kỹ, phải kiểm điểm lại hoặc kiểm điểm bổ sung.

c) Về kiểm điểm của cấp huyện và cơ sở:

Trong năm 2012, cấp huyện và cơ sở đã cơ bản tiến hành kiểm điểm, tự phê bình và phê bình theo Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng. Việc kiểm điểm của cấp ủy cấp huyện và cấp cơ sở được các tỉnh thành ủy, huyện quận và tương đương đánh giá là: Cơ bản đạt yêu cầu.

* Đánh giá chung: Qua đợt kiểm điểm tự phê bình và phê bình tập thể và cá nhân ở các cấp đã góp phần:

- Nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên về tình hình Đảng và sự cần thiết phải tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình hiện nay;

- Là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng; dịp tốt để mỗi cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên tự nhìn nhận, soi xét lại chính mình, thấy rõ hơn những ưu điểm của mình để tiếp tục phát huy và những thiếu sót, khuyết điểm để có các giải pháp sửa chữa, khắc phục kịp thời.

- Qua tự phê bình và phê bình đã góp phần tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, đề cao kỷ luật, kỷ cương của Đảng, có tác dụng cảnh báo, cảnh tỉnh, răn đe và phòng ngừa sai phạm đối với cán bộ, đảng viên ở các cấp.



Trong năm 2012, toàn Đảng đã kỷ luật 15.900 đảng viên, tăng 16% so với 2011; các cơ quan pháp luật khởi tố 267 vụ với 574 bị can về tội tham nhũng, tăng 32% so 2011; Viện kiểm sát đã truy tố 281 vụ với 671 bị can, tăng 48% so 2011; toà án đã xét xử 231 vụ với 512 bị can, tăng 20,9% so 2011, trong đó có nhiều đảng viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cấp.

(2). Về thực hiện các Nhóm giải pháp khác:

Cùng với việc chỉ đạo thực hiện tự phê bình và phê bình trong Đảng, các Nhóm giải pháp khác cũng được chỉ đạo thực hiện đồng bộ như:

- Ban Chấp hành Trung ương đã quyết định thành lập lại Ban Nội chính Trung ương, Ban kinh tế Trung ương; thành lập Ban chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị, do đồng chí Tổng Bí thư trực tiếp làm Trưởng ban; đã thông qua Đề án: “Quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước nhiệm kỳ 2016-2021 và các nhiệm kỳ tiếp theo”;

- Quốc hội đã bổ sung, sửa đổi Luật phòng, chống tham nhũng; ban hành Nghị quyết về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội và hội đồng nhân dân bầu, phê chuẩn;

- Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều chỉ thị, quy định, quy chế, hướng dẫn … về công tác xây dựng Đảng để thực hiện như: Chỉ thị về tiết kiệm, chống lãng phí; Quy định về việc lấy phiếu tín nhiệm đối với một số chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp; quy định về việc nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt ở các cấp;

- Bộ Chính trị chỉ đạo việc sơ kết hai năm thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh;….



5. Một số kinh nghiệm trong chỉ đạo thực hiện Nghị quyết

Qua chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 4, có thể rút ra một số kinh nghiệm, nhất là việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình như sau:



(1). Sau khi có Nghị quyết của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã chỉ đạo việc nghiên cứu, xây dựng và ban hành đồng bộ các văn bản của Trung ương để thực hiện, gồm: Chỉ thị số 15-CT/TW ngày 24/02/2012 và Kế hoạch số 08-KH/TW ngày 12/3/2012 của Bộ chính trị; các hướng dẫn của Trung ương, trong đó có Hướng dẫn số 11-HD/BTCTW ngày 14/3/2012 về kiểm điểm, tự phê bình và phê bình để thực hiện.

(2). Bộ Chính trị tổ chức hai Hội nghị với các đồng chí cán bộ lão thành, cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước đã nghỉ hưu ở hai khu vực để phổ biến, quán triệt nội dung Nghị quyết, mục tiêu, yêu cầu và phương châm, phương pháp tiến hành, tạo sự thống nhất nhận thức trong Đảng và giữa cán bộ đương chức với cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước đã nghỉ hưu. Đồng thời tổ chức Hội nghị cán bộ chủ chốt toàn quốc trong 03 ngày để học tập, quán triệt Nghị quyết, với hơn 1.400 cán bộ tham dự. Đồng chí Tổng Bí thư trực tiếp quán triệt Nghị quyết và giải đáp thắc mắc.

(3). Bộ Chính trị phân công, giao nhiệm vụ cụ thể cho các ban, cơ quan đảng ở Trung ương khẩn trương nghiên cứu, xây dựng các đề án nhằm thể chể hoá Nghị quyết bằng các quy định, quy chế, hướng dẫn để thực hiện.

(4). Bộ Chính trị không thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết mà thành lập Bộ phận Thường trực giúp Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ đạo thực hiện Nghị quyết gồm các đồng chí: Tổng Bí thư; Thường trực Ban Bí thư; các đồng chí Trưởng Ban Tổ chức, Tuyên Giáo, Dân vận, CNUBKT TW.

(5). Trước khi chuẩn bị kiểm điểm của tập thể và cá nhân ở các cấp, cấp ủy tổ chức lấy ý kiến đóng góp của các cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc và của các cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở cấp đó đã nghỉ hưu bằng các hình thức phù hợp; cấp ủy phải tập hợp, tổng hợp đầy đủ, trung thực, chính xác các ý kiến để tiếp thu và giao cho các tập thể, cá nhân liên quan báo cáo giải trình.

(6). Việc tự phê bình và phê bình được tiến hành từ trên xuống dưới; kiểm điểm tập thể trước, kiểm điểm cá nhân sau. Việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình có trọng tâm, trọng điểm và với phương châm bình tĩnh, thận trọng, làm đến đâu chắc đến đó, không nóng vội, hình thức.

(7). Nơi nào, cán bộ nào có vấn đề nổi cộm, dư luận bất bình thì cấp ủy, tổ chức đảng cấp trên phải gợi ý kiểm điểm; cấp ủy được gợi ý phải có báo cáo giải trình và tập trung kiểm điểm để làm rõ mức độ đúng, sai. Trước khi chuẩn bị và tiến hành kiểm điểm ở cấp tỉnh và tương đương, Bộ Chính trị đã gợi ý kiểm điểm đối với 26 tập thể ban thường vụ tỉnh, thành ủy; 30 ban cán sự đảng, đảng đoàn, lãnh đạo cơ quan Trung ương và một số cá nhân thuộc diện Trung ương quản lý.

(8). Bộ Chính trị thành lập các Nhóm Công tác cuả Trung ương để chỉ đạo, theo dõi việc kiểm điểm của Ban thường vụ các tỉnh, thành ủy và tương đương, do đồng chí Bộ Chính trị, Ban Bí thư hoặc Phó trưởng ban đảng Trung ương làm trưởng Nhóm. Các tỉnh, thành ủy cũng thành lập các Tổ công tác chỉ đạo đối với cấp dưới. Để chỉ đạo chặt chẽ việc chuẩn bị và tiến hành kiểm điểm ở các cấp, Bộ Chính trị đã ban hành tài liệu “Những biểu hiện chủ yếu của việc kiểm điểm không đạt yêu cầu” gồm 12 tiêu chí để các cấp thực hiện và làm căn cứ để đánh giá kết quả kiểm điểm;

(9). Sau kiểm điểm của tập thể và cá nhân, Ban thường vụ cấp ủy có kết luận bằng văn bản về ưu điểm, khuyết điểm của tập thể và từng cá nhân. Những vấn đề đã rõ thì kết luận ngay; những vấn đề chưa rõ thì giao cho cơ quan chức năng thẩm tra, xác minh và làm rõ trước khi kết luận. Ban thường vụ báo cáo kết quả với cấp ủy hoặc hội nghị cán bộ chủ chốt để đánh giá kết quả. Sau đó, tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm để triển khai xuống cấp dưới; thông báo kết quả kiểm điểm và việc việc tiếp thu ý kiến đóng góp đối với những tập thể và cá nhân đã đóng góp ý kiến cho cấp ủy trước kiểm điểm bằng hình thức phù hợp.
Phần thứ ba

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÁN BỘ VÀ CÔNG TÁC CÁN BỘ HIỆN NAY
I. MỘT SỐ KẾT QUẢ VỀ THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC CÁN BỘ

Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) đã ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 18/6/1997 về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. Chiến lược cán bộ đã xác định phương hướng cơ bản, các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và những giải pháp lớn về xây dựng đội ngũ cán bộ đến năm 2020. Sau hơn 10 năm thực hiện, Hội nghị Trung ương 9 (khoá X) đã đánh giá về đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ như sau:



1. Về xây dựng đội ngũ cán bộ

1.1. Mặt mạnh và ưu điểm:

(1). Đa số cán bộ, công chức, viên chức phấn khởi và tin tưởng vào thành công của công cuộc đổi mới; kiên định mục tiêu, con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; tham gia tích cực vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Năng lực, trình độ lãnh đạo, quản lý kinh tế - xã hội có tiến bộ rõ; có khả năng tiếp cận và tích luỹ đựơc nhiều kinh nghiệm trong điều kiện mới (thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã họi chủ nghĩa; xây dựng nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế); năng động, sáng tạo trong thực hiện quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, đóng góp xứng đáng vào thành công của công cuộc đổi mới đất nước.

(2). Đội ngũ cán bộ được tăng cường cả về số lượng và chất lượng; trình độ lãnh đạo, quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ được nâng lên (có trên 2,6 triệu người có trình độ đại học, cao đẳng trở lên, trong đó có 18.000 thạc sỹ, tiến sỹ; 6.000 giáo sư, phó giáo sư; 93,8% cấn bộ cấp thứ trưởng và tương đương trở lên có trình độ đại học và trên đại học; 100% cán bộ cấp vụ ở các cơ quan Trung ương có trình độ đại học và trên đại học). Cơ cấu đội ngũ cán bộ ngày càng hợp lý hơn; tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ ở một số ngành, một số lĩnh vực tăng khá.

(3). Về cơ bản đã khắc phục được những biểu hiện mơ hồ, dao động về lý tưởng của một bộ phận cán bộ do tác động của sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên xô và các nước Đông Âu trong những năm đầu của thập kỷ 90 của thế kỷ XX và sự chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa. Số đông cán bộ vẫn giữ được phẩm chất đạo đức, lối sống lành mạnh, giản dị, gắn bó, gần giũ với nhân dân.

1.2. Mặt yếu kém, khuyết điểm:

- Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, thực dụng, thoái hoá biến chất, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, thiếu trách nhiệm, thiếu tự giác rèn luyện, phấn đấu, thiếu tinh thần đồng chí trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài nhưng chưa có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn, xử lý kịp thời. Một số ít cán bộ có biểu hiện bất mãn, suy giảm niềm tin, nói và làm trái quan điểm, đường lối của Đảng, vi phạm nguyên tắc, vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng xấu trong xã hội. Tình trạng cán bộ, công chức bỏ việc, chuyển sang làm kinh tế hoặc những nơi có thu nhập cao đang có chiều hướng gia tăng (từ 2003 - 2007 có hơn 16.000 cán bộ thôi việc).

- Chất lượng đội ngũ cán bộ vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới. Từ nhận thức đến lãnh đạo, tổ chức thực hiện mô hình phát triển cũng như bản lĩnh hội nhập và xử lý những tình huống phát sinh còn nhiều lúng túng.

- Cơ cấu đội ngũ cán bộ vẫn mất cân đối, thiếu đồng bộ, chưa hợp lý. Cơ cấu theo ngành nghề, địa bàn, lĩnh vực; tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số, cán bộ xuất thân từ công nhân chưa đạt yêu cầu. Việc chuyển tiếp giữa các thế hệ cán bộ lãnh đạo chưa được chuẩn bị chu đáo; thiếu cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, cán bộ đầu ngành, cán bộ có trình độ cao. Nhiều cán bộ thích làm việc ở các cơ quan chính quyền, ở các bộ, ngành kinh tế, ngại làm việc trong lĩnh vực công tác đảng, đoàn thể.



Đánh giá tổng quát: Qua hơn 10 năm thực hiện Chiến lược cán bộ, đội ngũ cán bộ ở nước ta có bước trưởng thành và tiến bộ về nhiều mặt, đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và chủ động hội nhập quốc tế. Số đông cán bộ giữ vững được bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống lành mạnh, gắn bó với nhân dân.

Công tác cán bộ đã bám sát nhiệm vụ chính trị và thể chế hoá, cụ thể hoá được nhiều chủ trương, quan điểm, giải pháp lớn đề ra trong Chiến lược cán bộ. Nội dung, phương pháp, cách làm có đổi mới, tiến bộ; dân chủ, công khai được mở rộng hơn; nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ được giữ vững.



Tuy nhiên, nhiều khuyết điểm yếu kém trong công tác cán bộ chậm được khắc phục; mới tập trung nhiều vào đối tượng cán bộ lãnh đạo, quản lý, dẫn đến sự không đồng bộ giữa các cấp, các ngành, các lĩnh vực; giữa cán bộ lãnh đạo, quản lý với cán bộ tham mưu, cán bộ khoa học và chuyên gia; giữa cán bộ Đảng, đoàn thể với cán bộ trong cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp, lực lượng vũ trang, tạo tâm lý khép kín trong từng ngành, địa phương.

Những yếu kém, khuyết điểm nêu trên có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính là do công tác giáo dục, bồi dưỡng về nhận thức, lý tưởng cho cán bộ, đảng viên còn hạn chế; công tác quản lý, kiểm tra, bố trí, sử dụng và thực hiện một số chính sách đối với cán bộ còn nhiều bất cập. Chưa có chính sách thu hút và tạo nguồn phát triển cán bộ; thiếu cơ chế phát hiện, tuyển chọn, đào tạo và sử dụng những người có đức, có tài. Nhiều cơ chế chính sách chậm đổi mới, làm suy giảm niềm tin và sự phấn đấu của cán bộ.

2. Về công tác cán bộ

2.1. Ưu điểm và kết quả đạt được:

(1). Đảng và Nhà nước đã thể chế hoá, cụ thể hoá một bước nhiều chủ trưuơng, quan điểm, giải pháp lớn về công tác cán bộ mà Chiến lựơc cán bộ đề ra. Cụ thể là: Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khoá đã ban hành 20 quy định, quy chế; Ban Tổ chức Trung ương và Ủy ban kiểm tra Trung ương đã ban hành 32 văn bản hướng dẫn về công tác cán bộ để thực hiện. Quốc hội đã ban hành Luật cán bộ, công chức, viên chức; Chính phủ đã ban hành nhiều quyết định, quy định về chế độ, chính sách quản lý, tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ.

(2). Công tác cán bộ đã bám sát nhiệm vụ chính trị và yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ mới; đã triển khai tương đối đồng bộ các khâu của công tác cán bộ, trong đó công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý có những chuyển biến rõ rệt.

(3). Nội dung, phương pháp, cách làm có đổi mới, tiến bộ; dân chủ, công khai trong công tác cán bộ được mở rộng hơn trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đồng thời đề cao trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị.

2.2. Hạn chế, khuyết điểm:

(1). Nhiều khuyết điểm, yếu kém trong công tác cán bộ chậm được khắc phục. Chậm đổi mới cơ chế, phương pháp và quy trình đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ. Thiếu cơ chế để phát huy dân chủ, sắp xếp, bố trí lại đội ngũ cán bộ, thay thế kịp thòi những cán bộ yếu kém, trì trệ. Chưa có chính sách để thu hút và trọng dụng nhân tài. Công tác cán bộ chưa góp phần đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực.

(2). Trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chưa quán triệt đầy đủ quan điểm công tác cán bộ là khâu then chốt của công tác xây dựng Đảng, dẫn đến thiếu tầm chiến lược. Việc bố trí, sử dụng cán bộ mới chú ý đến yêu cầu nhiệm vụ trước mắt, ít quan tâm đào tạo cán bộ cho lâu dài; chậm khắc phục tình trạng cục bộ, khép kín, hẫng hụt cán bộ ở nhiều ngành, địa phương. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp chiến lược và người đứng đầu địa phương, đơn vị chưa được quan tâm đúng mức.

(3). Môi trường làm việc của cán bộ chưa tạo được động lực để khuyến khích, thu hút, phát huy năng lực, sự cống hiến của cán bộ; chưa cổ vũ ý chí phấn đấu vươn lên, sự gắn bó mật thiết của cán bộ đối với công việc, với cơ quan, với hệ thống chính trị. Nhận thức và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ không đầy đủ, không rõ trách nhiệm cá nhân.

Nhìn chung, việc đổi mới công tác cán bộ chưa đồng bộ, toàn diện và còn chậm so với đổi mới kinh tế - xã hội.



1   2   3   4


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương