ChuyêN ĐỀ 2 MỘt số VẤN ĐỀ VỀ CÔng tác xây dựng đẢng và CÔng tác cán bộ hiện nay


III. NHIỆM VỤ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG NHIỆM KỲ ĐẠI HỘI XII CỦA ĐẢNG



tải về 284.2 Kb.
trang3/4
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích284.2 Kb.
1   2   3   4

III. NHIỆM VỤ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG NHIỆM KỲ ĐẠI HỘI XII CỦA ĐẢNG

Để giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong điều kiện thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập quốc tế, Dự thảo Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI trình Đại hội XII của Đảng đã xác định: Trong những năm tới, cần đẩy mạnh hơn nữa công tác xây dựng Đảng, trọng tâm là kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng. Các cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị và cá nhân cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, từ Trung ương đến cơ sở nghiêm túc, tự giác và có kế hoạch, biện pháp phù hợp để khắc phục, sửa chữa những yếu kém, khuyết điểm. Trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, toàn Đảng cần quán triệt và thực hiện đồng bộ 10 nhiệm vụ, giải pháp lớn sau đây:



1. Xây dựng Đảng về chính trị

- Kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới. Giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, tính chiến đấu của toàn Đảng và vai trò tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ chủ chốt các cấp.

-Kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng. Nâng cao năng lực cầm quyền, năng lực hoạch định đường lối, chính sách của Đảng, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng có hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với quy luật khách quan và đặc điểm của Việt Nam, tạo bước đột phá để phát triển.

- Tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả việc tự phê bình và phê bình, chất vấn trong các kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương, các cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy các cấp. Xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả cơ chế phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng.



2. Đổi mới công tác tư tưởng, lý luận

- Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng; đẩy mạnh tuyên truyền, học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên.

- Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

- Tiếp tục đổi mới tư duy lý luận, đẩy mạnh công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, cung cấp các luận cứ khoa học, lý luận cho việc hoạch định, phát triển đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.



3. Tăng cường rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng

- Đưa việc thường xuyên giáo dục, rèn luyện phẩm chất đạo đức thành một nội dung quan trọng trong mục tiêu “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức”.

- Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện thường xuyên việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, gắn với chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống. Kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, “lợi ích nhóm”, đặc quyền, đặc lợi, nói không đi đôi với làm.

- Xây dựng và thực hiện tốt các quy định để phát huy vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị.



4. Tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị

- Tiếp tục đổi mới bộ máy của Đảng và hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành. Nghiên cứu thực hiện thí điểm hợp nhất một số cơ quan Đảng và Nhà nước tương đồng về chức năng, nhiệm vụ.

- Tinh giản tổ chức, bộ máy gắn với tiếp tục phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, phương thức hoạt động của các tổ chức; thực hiện kiêm nhiệm một số chức danh và tinh giảm biên chế trong toàn hệ thống chính trị. Nói chung, thực hiện mô hình bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch Hội đồng nhân dân các cấp. Sớm tổng kết mô hình bí thư cấp ủy đồng thời là chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, cấp huyện ở những nơi có đủ điều kiện.

5. Kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đảng viên

- Đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp, tạo chuyển biến về chất lượng hoạt động của các loại hình tổ chức cơ sở đảng, nhất là tổ chức đảng trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế.

- Xây dựng đội ngũ đảng viên thật sự tiền phong, gương mẫu, gần dân, sát dân, có trách nhiệm cao trong công việc, có phẩm chất đạo đức cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực hoàn thành nhiệm vụ, vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức, phấn đấu cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng.

6. Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ

- Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước”. Thể chế hóa, cụ thể hóa các nguyên tắc về công tác cán bộ bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ và chặt chẽ giữa các khâu, liên thông giữa các cấp.

- Đổi mới bầu cử trong Đảng, phương thức tuyển chọn, bổ nhiệm cán bộ, đặc biệt là người đứng đầu. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực và phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ. Có cơ chế, chính sách phát hiện, thu hút, sử dụng nhân tài.

- Tăng cường trách nhiệm của cấp ủy, nhất là cấp ủy cơ sở trong công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Gắn công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn những hiện tượng cục bộ, bè phái, “lợi ích nhóm”, gây mất đoàn kết trong Đảng.

Xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên phát ngôn, tuyên truyền, tán phát tài liệu trái Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

7. Đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng

- Đổi mới, tăng cường, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của các cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp và chi bộ. Chú trọng kiểm tra, giám sát người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn được giao và việc giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống.

Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, phương pháp, quy trình kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật và giải quyết khiếu nại trong Đảng.

- Nghiên cứu tăng thẩm quyền kiểm tra, thi hành kỷ luật đảng cho ủy ban kiểm tra các cấp. Kiện toàn ủy ban kiểm tra, tổ chức bộ máy và cán bộ cơ quan ủy ban kiểm tra tương xứng với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.



8. Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân

- Kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật phù hợp với thực tiễn và đáp ứng lợi ích, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa mối quan hệ “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, nhất là nội dung nhân dân làm chủ và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát”.

- Giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc , những kiến nghị chính đáng của nhân dân và khiếu nại, tố cáo của công dân.

- Tăng cường và đổi mới công tác dân vận của các cơ quan nhà nước. Thực hiện tốt Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị.



9. Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí

- Hoàn thiện các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để bảo đảm công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí có hiệu lực, hiệu quả, nhất là trong các lĩnh vực có nguy cơ tham nhũng cao như: Quản lý và sử dụng đất đai; khai thác tài nguyên, khoáng sản; thu, chi ngân sách và mua, sắm tài sản công; tài chính, ngân hàng; thực hiện các dự án đầu tư xây dựng cơ bản; công tác cán bộ; quản lý doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp cổ phần có vốn nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; giáo dục, đào tạo và y tế.

- Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của các cấp, các ngành, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân về công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tạo sự thống nhất, tự giác, quyết tâm cao trong hành động.

- Kiên quyết xử lý và kịp thời thay thế những cán bộ lãnh đạo, quản lý tham nhũng, lãng phí; xử lý nghiêm minh người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng, lãng phí trong tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương mình trực tiếp quản lý. Đồng thời, đẩy mạnh cải cách chính sách tiền lương, thu nhập, chính sách nhà ở bảo đảm cuộc sống cho cán bộ, đảng viên, công chức.

- Kiên quyết, kiên trì xây dựng cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để không thể tham nhũng; cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để không dám tham nhũng. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án để nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Xây dựng cơ chế phòng ngừa, ngăn chặn quan hệ “lợi ích nhóm”; chống đặc quyền, đặc lợi, khắc phục “tư duy nhiệm kỳ”; đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp.

- Phát huy vai trò của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các phương tiện thong tin đại chúng và của nhân dân trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng.



10. Đổi mới phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền của Đảng

- Tiếp tục tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về Đảng cầm quyền, xác định rõ mục đích, phương thức, nội dung và điều kiện cầm quyền. Tiếp tục cụ thể hóa phương thức lãnh đạo của Đảng đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) ở tất cả các cấp.

- Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Phát huy mạnh mẽ vai trò, hiệu lực của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, xây dựng hệ thống chính trị hoạt động năng động có hiệu lực và hiệu quả.

- Quy định rõ hơn Đảng phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình; về quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu và mối quan hệ giữa tập thể cấp ủy, tổ chức đảng với người đứng đầu. Quy định rõ hơn thẩm quyền và trách nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và ban thường vụ cấp ủy các cấp. Đẩy mạnh việc phân cấp, phân quyền, có cơ chế để các địa phương phát huy quyền chủ động, sáng tạo, gắn với đề cao trách nhiệm, đồng thời bảo đảm sự lãnh đạo, quản lý thống nhất của Trung ương.

- Đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc của các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở; xây dựng phong cách làm việc khoa học, tập thể, dân chủ, gần dân, trọng dân, vì dân, bám sát thực tiễn, lời nói phải đi đôi với việc làm.

- Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng việc xây dựng, ban hành các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, luật pháp của Nhà nước. Nghị quyết phải thiết thực, ngắn gọn, cụ thể, có tính khả thi; phải tính đến cân đối các nguồn lực và điều kiện bảo đảm triển khai thực hiện nghị quyết có hiệu quả; phân công rõ trách nhiệm tổ chức, cá nhân, thời hạn hoàn thành các nhiệm vụ, giải pháp được ghi trong nghị quyết.

- Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo kiên quyết, dứt điểm việc cụ thể hóa, thể chế hóa, tổ chức thực hiện nghị quyết; thường xuyên kiểm tra, đôn đốc; đổi mới cách thức quán triệt, sơ kết, tổng kết việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng, bảo đảm tính hiệu quả. Đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng, khắc phục thủ tục rườm rà, bất hợp lý; giảm bớt giấy tờ, giảm mạnh hội họp.

IV. CÁC NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM TRONG NHIỆM KỲ ĐẠI HỘI XII CỦA ĐẢNG

Trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, cần đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, phát huy mọi nguồn lực và động lực để phát triển đất nước nhanh, bền vững; trong đó, đặc biệt chú trọng và tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có kết quả 6 nhiệm vụ trọng tâm sau đây:



(1). Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

(2). Xây dựng tổ chức bộ máy của các tổ chức trong hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.



(3). Tập trung thực hiện các giải pháp nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng suất lao động. Thực hiện có hiệu quả 03 khâu đột phá chiến lược, cơ cấu lại tổng thể và đồng bộ nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trước hết là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, gắn với phát triển kinh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới. Trước mắt, tập trung giải quyết tốt vấn đề cơ cấu lại doanh nghiệp Nhà nước, xử lý nợ xấu, bảo đảm an toàn nợ công.

(4). Bảo vệ vững chắc chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Mở rộng quan hệ đối ngoại; tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện có hiệu quả hội nhập quốc tế trong điều kiện mới, nâng cao vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế.

(5). Thu hút, phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực và sức sáng tạo của nhân dân; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc.

(6). Phát huy nhân tố con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; tập trung xây dựng con người về đạo đức, nhân cách, lối sống, trí tuệ và năng lực làm việc; xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Giải quyết tốt những vấn đề xã hội bức thiết; tăng cường quản lý phát triển xã hội, bảo đảm an sinh, phúc lợi xã hội.
Phần thứ ba

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÁN BỘ VÀ CÔNG TÁC CÁN BỘ

HIỆN NAY

I. MỘT SỐ KẾT QUẢ VỀ THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC CÁN BỘ

Hội nghị lần thứ ba, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) đã ban hành Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 18/6/1997 về “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. Chiến lược cán bộ đã xác định phương hướng cơ bản, các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và những giải pháp lớn về xây dựng đội ngũ cán bộ đến năm 2020.

Sau hơn 10 năm thực hiện Chiến lược cán bộ, Hội nghị Trung ương 9 (khoá X) đã đánh giá về đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ như sau:

1. Xây dựng đội ngũ cán bộ

1.1. Mặt mạnh và ưu điểm

(1). Đa số cán bộ, công chức, viên chức phấn khởi và tin tưởng vào thành công của công cuộc đổi mới; kiên định mục tiêu, con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; tham gia tích cực vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Năng lực, trình độ lãnh đạo, quản lý kinh tế - xã hội có tiến bộ rõ; có khả năng tiếp cận và tích luỹ đựơc nhiều kinh nghiệm trong điều kiện mới (thực hiện kinh tế thị trường định hướng xã họi chủ nghĩa; xây dựng nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế); năng động, sáng tạo trong thực hiện quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, đóng góp xứng đáng vào thành công của công cuộc đổi mới đất nước.

(2). Đội ngũ cán bộ được tăng cường cả về số lượng và chất lượng; trình độ lãnh đạo, quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ được nâng lên (có trên 2,6 triệu người có trình độ đại học, cao đẳng trở lên, trong đó có 18.000 thạc sỹ, tiến sỹ; 6.000 giáo sư, phó giáo sư; 93,8% cấn bộ cấp thứ trưởng và tương đương trở lên có trình độ đại học và trên đại học; 100% cán bộ cấp vụ ở các cơ quan Trung ương có trình độ đại học và trên đại học). Cơ cấu đội ngũ cán bộ ngày càng hợp lý hơn; tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ ở một số ngành, một số lĩnh vực tăng khá.

(3). Về cơ bản đã khắc phục được những biểu hiện mơ hồ, dao động về lý tưởng của một bộ phận cán bộ do tác động của sự sụp đổ mô hình CNXH ở Liên xô và các nước Đông Âu trong những năm đầu của thập kỷ 90 của thế kỷ XX và sự chuyển đổi từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa. Số đông cán bộ vẫn giữ được phẩm chất đạo đức, lối sống lành mạnh, giản dị, gắn bó, gần gũi với nhân dân.

1.2. Mặt yếu kém, khuyết điểm

- Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, thực dụng, thoái hoá biến chất, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, thiếu trách nhiệm, thiếu tự giác rèn luyện, phấn đấu, thiếu tinh thần đồng chí trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên diễn ra nghiêm trọng, kéo dài nhưng chưa có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn, xử lý kịp thời. Một số ít cán bộ có biểu hiện bất mãn, suy giảm niềm tin, nói và làm trái quan điểm, đường lối của Đảng, vi phạm nguyên tắc, vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng xấu trong xã hội. Tình trạng cán bộ, công chức bỏ việc, chuyển sang làm kinh tế hoặc những nơi có thu nhập cao đang có chiều hướng gia tăng (từ 2003 - 2007 có hơn 16.000 cán bộ thôi việc).

- Chất lượng đội ngũ cán bộ vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới. Từ nhận thức đến lãnh đạo, tổ chức thực hiện mô hình phát triển cũng như bản lĩnh hội nhập và xử lý những tình huống phát sinh còn nhiều lúng túng.

- Cơ cấu đội ngũ cán bộ vẫn mất cân đối, thiếu đồng bộ, chưa hợp lý. Cơ cấu theo ngành nghề, địa bàn, lĩnh vực; tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số, cán bộ xuất thân từ công nhân chưa đạt yêu cầu. Việc chuyển tiếp giữa các thế hệ cán bộ lãnh đạo chưa được chuẩn bị chu đáo; thiếu cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, cán bộ đầu ngành, cán bộ có trình độ cao. Nhiều cán bộ thích làm việc ở các cơ quan chính quyền, ở các bộ, ngành kinh tế, ngại làm việc trong lĩnh vực công tác đảng, đoàn thể.



Đánh giá tổng quát: Qua hơn 10 năm thực hiện Chiến lược cán bộ, đội ngũ cán bộ ở nước ta có bước trưởng thành và tiến bộ về nhiều mặt, đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH và chủ động hội nhập quốc tế. Số đông cán bộ giữ vững được bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống lành mạnh, gắn bó với nhân dân.

Công tác cán bộ đã bám sát nhiệm vụ chính trị và thể chế hoá, cụ thể hoá được nhiều chủ trương, quan điểm, giải pháp lớn đề ra trong Chiến lược cán bộ. Nội dung, phương pháp, cách làm có đổi mới, tiến bộ; dân chủ, công khai được mở rộng hơn; nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ được giữ vững.



Tuy nhiên, nhiều khuyết điểm yếu kém trong công tác cán bộ chậm được khắc phục; mới tập trung nhiều vào đối tượng cán bộ lãnh đạo, quản lý, dẫn đến sự không đồng bộ giữa các cấp, các ngành, các lĩnh vực; giữa cán bộ lãnh đạo, quản lý với cán bộ tham mưu, cán bộ khoa học và chuyên gia; giữa cán bộ Đảng, đoàn thể với cán bộ trong cơ quan Nhà nước, doanh nghiệp, lực lượng vũ trang, tạo tâm lý khép kín trong từng ngành, địa phương.

Những yếu kém, khuyết điểm nêu trên có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính là do công tác giáo dục, bồi dưỡng về nhận thức, lý tưởng cho cán bộ, đảng viên còn hạn chế; công tác quản lý, kiểm tra, bố trí, sử dụng và thực hiện một số chính sách đối với cán bộ còn nhiều bất cập. Chưa có chính sách thu hút và tạo nguồn phát triển cán bộ; thiếu cơ chế phát hiện, tuyển chọn, đào tạo và sử dụng những người có đức, có tài. Nhiều cơ chế chính sách chậm đổi mới, làm suy giảm niềm tin và sự phấn đấu của cán bộ.

2. Công tác cán bộ

2.1. Ưu điểm và kết quả đạt được

(1). Đảng và Nhà nước đã thể chế hoá, cụ thể hoá một bước nhiều chủ trưuơng, quan điểm, giải pháp lớn về công tác cán bộ mà Chiến lựơc cán bộ đề ra. Cụ thể là: Bộ Chính trị, Ban Bí thư các khoá đã ban hành 20 quy định, quy chế; Ban Tổ chức Trung ương và Ủy ban kiểm tra Trung ương đã ban hành 32 văn bản hướng dẫn về công tác cán bộ để thực hiện. Quốc hội đã ban hành Luật cán bộ, công chức, viên chức; Chính phủ đã ban hành nhiều quyết định, quy định về chế độ, chính sách quản lý, tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ.

(2). Công tác cán bộ đã bám sát nhiệm vụ chính trị và yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ mới; đã triển khai tương đối đồng bộ các khâu của công tác cán bộ, trong đó công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý có những chuyển biến rõ rệt.

(3). Nội dung, phương pháp, cách làm có đổi mới, tiến bộ; dân chủ, công khai trong công tác cán bộ được mở rộng hơn trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ, đồng thời đề cao trách nhiệm của các tổ chức trong HTCT.

2.2. Hạn chế, khuyết điểm

(1). Nhiều khuyết điểm, yếu kém trong công tác cán bộ chậm được khắc phục. Chậm đổi mới cơ chế, phương pháp và quy trình đánh giá, bổ nhiệm, miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ. Thiếu cơ chế để phát huy dân chủ, sắp xếp, bố trí lại đội ngũ cán bộ, thay thế kịp thòi những cán bộ yếu kém, trì trệ. Chưa có chính sách để thu hút và trọng dụng nhân tài. Công tác cán bộ chưa góp phần đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực.

(2). Trong lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chưa quán triệt đầy đủ quan điểm công tác cán bộ là khâu then chốt của công tác xây dựng Đảng, dẫn đến thiếu tầm chiến lược. Việc bố trí, sử dụng cán bộ mới chú ý đến yêu cầu nhiệm vụ trước mắt, ít quan tâm đào tạo cán bộ cho lâu dài; chậm khắc phục tình trạng cục bộ, khép kín, hẫng hụt cán bộ ở nhiều ngành, địa phương. Công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cấp chiến lược và người đứng đầu địa phương, đơn vị chưa được quan tâm đúng mức.

(3). Môi trường làm việc của cán bộ chưa tạo được động lực để khuyến khích, thu hút, phát huy năng lực, sự cống hiến của cán bộ; chưa cổ vũ ý chí phấn đấu vươn lên, sự gắn bó mật thiết của cán bộ đối với công việc, với cơ quan, với hệ thống chính trị. Nhận thức và thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ không đầy đủ, không rõ trách nhiệm cá nhân.

Nhìn chung, việc đổi mới công tác cán bộ chưa đồng bộ, toàn diện và còn chậm so với đổi mới kinh tế - xã hội.

3. Việc thực hiện các khâu của công tác cán bộ

3.1. Đánh giá cán bộ

Đánh giá cán bộ là khâu tiền đề rất quan trọng, có liên quan đến tất cả các khâu của công tác cán bộ. Chỉ có đánh giá đúng cán bộ mới làm cơ sở cho việc tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệmvà thực hiện chế độ, chính sách cán bộ.

- Để thực hiện Chiến lược cán bộ, Bộ Chính trị (khoá IX) đã ban hành Quy chế đánh giá cán bộ (Quy chế 50-QĐ/TW ngày 03/5/2002); Ban Tổ chức Trung ương đã ban hành Danh mục chức danh gốc và tiêu chuẩn chung một số chức danh cán bộ công chức cơ quan Đảng, đoàn thể (Quyết định 450-QĐ/TCTW ngày 22/12/1998).

- Căn cứ vào quy định, hướng dẫn của Trung ương, nhiều cấp ủy, tổ chức đảng đã cụ thể hoá tiêu chuẩn đối với từng loại cán bộ, xây dựng được tiêu chuẩn chức danh cán bộ cho ngành, địa phương, đơn vị để làm cơ sở đánh giá cán bộ. Việc đánh giá cán bộ đã thực hiện theo quy trình, quy chế, công khai, bảo đảm nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ. Diện lấy thông tin về cán bộ mở rộng hơn, một số nơi có cơ chế để nhân dân tham gia nhận xét, đánh giá cán bộ nên việc đánh giá cán bộ có hiệu quả, thực chất hơn.

Tuy nhiên, đánh giá cán bộ vẫn là khâu khó và yếu nhất hiện nay, khó nhất là đánh giá cái “tâm”, cái “tầm” và bản lĩnh chính trị của cán bộ. Đánh giá cán bộ vẫn còn hình thức, chưa phản ánh đúng được thực chất cán bộ; chưa lấy hiệu quả công việc là thức đo chủ yếu để đánh giá cán bộ; còn cảm tính, xuê xoa, chiếu lệ. Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan tham mưu về công tác tổ chức cán bộ nắm không chắc cán bộ, không hiểu sâu các mối quan hệ của bản thân, gia đình cán bộ, dẫn đến nhận xét, đánh giá cán bộ chưa khách quan, chính xác.

Những yếu kém trên có nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là việc quản lý và nắm cán bộ chưa chắc, chưa sâu; tinh thần tự phê bình và phê bình kém, tính chiến đấu chưa cao. Một số nơi còn có biểu hiện lệch lạc, thiếu công tâm, khách quan, trong đánh giá cán bộ; nội bộ mất đoàn kết, cục bộ, gia trưởng, xen động cơ cá nhân trong đánh giá cán bộ.

3.2. Quy hoạch cán bộ

- Trong quá trình thực hiện Chiến lược cán bộ, Bộ Chính trị (khoá IX) đã có Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 30/11/2004 về “Công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”; Ban Chấp hành Trung ương (khoá X) có Kết luận số 37-KL/TW ngày 02/02/2009 về “Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Chiến lược cán bộ từ nay đến năm 2020”; Bộ Chính trị (khoá XI) có Kết luận số 24-KL/TW ngày 05/6/2012 về “Đẩy mạnh công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý đến 2020 và những năm tiếp theo” và Chỉ thị số 36-CT/TW, ngày 30/5/2014 về “Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”, v.v.

- Để thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Trung ương và Bộ Chính trị, Ban Tổ chức Trung ương đã có Hướng dẫn số 17-HD/BTCTW ngày 23/4/2003; Hướng dẫn số 47-HD/BTCTW ngày 24/5/2005; Hướng dẫn số 50-HD/BTCTW, ngày 06/7/2005 về “Công tác Quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”; Hướng dẫn số 15-HD/BTCTW ngày 05/11/2012 về “Công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh thần Nghị quyết 42-NQ/TW của Bộ Chính trị (khoá IX) và Kết luận số 24-KL/TW của Bộ Chính trị (khoá XI)”; Hướng dẫn số 26-HD/BTCTWW, ngày 18/8/2014 về “Công tác nhân sự tại đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng”,v.v.

- Thực hiện sự chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương, công tác quy hoạch cán bộ đã đi dần vào nền nếp và đạt một số kết quả quan trọng: Nguồn quy hoạch cho các chức danh lãnh đạo, quản lý khá dồi dào; trình độ đào tạo, cơ cấu ngành nghề, tỷ lệ cán bộ nữc, trẻ, cán bộ người dân tộc ít người có bước tiến bộ. Công tác quy hoạch cán bộ đã cơ bản bảo đảm sự đồng bộ từ dưới lên, mỗi chức danh quy hoạch từ 2 - 3 người và một người có thể quy hoạch vào một số chức danh; lấy quy hoạch cấp ủy làm cơ sở để quy hoạch cán bộ lãnh đạo đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể; số lượng cán bộ được quy hoạch bình quân đạt từ 1,5 - 2 lần so với số lượng cần bổ nhiệm, bầu cử.

- Đến nay, cả nước có trên 110.000 lượt cán bộ được quy hoạch cho các chức danh lãnh đạo, quản lý. Trong đó: trên 1.100 cán bộ quy hoạch cho các chức danh diện Trung ương quản lý; trên 16.500 lượt cán bộ quy hoạch các chức danh lãnh đạo, quản lý ở các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương; trên 11.200 lượt cán bộ quy hoạch các chức danh lãnh đạo, chỉ huy trong quân đội; trên 17.700 lượt cán bộ quy hoạch các chức danh lãnh đạo, chỉ huy trong công an; gần 7.000 lượt cán bộ quy hoạch các chức danh lãnh đạo, quản lý diện ban thường vụ tỉnh, thành ủy quản lý; trên 56.000 lượt cán bộ quy hoạch các chức danh cấp huyện; trên 750 lượt cán bộ quy hoạch chức danh lãnh đạo, quản lý tập đoàn, tổng công ty nhà nước.

- Kết quả bầu cử, bổ nhiệm thời gian qua cho thấy: trên 95% cấp ủy viên, gần 100% ủy viên ban thường vụ cấp ủy (nhiệm kỳ 2010 - 2015) và cán bộ chủ chốt HĐND, UBND cấp tỉnh, cấp huyện (nhiệm kỳ 2011- 2016) và hầu hết cán bộ được bổ nhiệm các chức danh thuộc Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý đều là cán bộ trong quy hoạch.



Tuy nhiên, mặt yếu kém trong công tác quy hoạch cán bộ :

- Việc xây dựng và thực hiện quy hoạch cán bộ chưa có tầm nhìn xa; còn phổ biến tình trạng khép kín trong từng ngành, từng địa phương; chưa bảo đảm sự liên thông giữa quy hoạch của cấp dưới với quy hoạch của cấp trên, giữa Trung ương và địa phương, giữa các bộ, ngành, các lĩnh vực công tác; chưa bảo đảm cơ cấu 3 độ tuổi trong quy hoạch cán bộ. Chậm quy hoạch cán bộ cấp chiến lược; mới tập trung quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý, chưa quan tâm chú ý đến quy hoạch cán bộ các lĩnh vực khác…

- Chất lượng quy hoạch cán bộ chưa cao; tỷ lệ cán bộ nữ, cán bộ trẻ, cán bộ người dân tộc, cán bộ xuất thân từ công nhân chưa đạt yêu cầu. Công tác quy hoạch ở một số bộ, ngành, địa phương còn chung chung, hình thức, thiếu tính khả thi; chưa gắn quy hoạch với đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng cán bộ. Do đó, một số nơi vẫn còn hẫng hụt, bị động, lúng túng về cán bộ; có nơi vừa mới quy hoạch nhưng khi chuyển sang làm công tác nhân sự cụ thể thì vẫn khó khăn, không chọn được cán bộ.

3.3. Luân chuyển cán bộ

- Trong quá trình thực hiện Chiến lược cán bộ, Bộ Chính trị khoá IX đã có Nghị quyết số 11-NQ/TW ngày 25/01/2002 về luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý; Bộ Chính trị khoá X có Kết luận số 127-KL/TW ngày 02/01/2008 về đẩy mạnh công tác luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý và cho chủ trương tăng thêm một số chức danh lãnh đạo cấp ủy, chính quyền đối với một số tỉnh, thành phố và một số đơn vị cấp huyện để vừa tăng cường cán bộ lãnh đạo, quản lý, vừa để đào tạo, rèn luyện cho đội ngũ cán bộ trong hoạt động thực tiễn.

- Sau hơn 10 năm thực hiện Chiến lược cán bộ, cả nước đã có trên 43.000 lượt cán bộ lãnh đạo, quản lý được luân chuyển, trong đó: Trung ương luân chuyển hơn 100 đồng chí về làm cán bộ chủ chốt ở các địa phương (riêng trong năm 2014, có 52 đồng chí được luân chuyển về làm phó bí thư và phó chủ tịch UBND tỉnh, thành phố - Báo cáo tổng kết công tác năm 2014 của Ban Tổ chức Trung ương); cấp tỉnh có hơn 4.000 lượt cán bộ, cấp huyện có hơn 15.000 lượt cán bộ; các bộ, ngành trung ương có hơn 19.000 lượt cán bộ và gần 1.000 lượt cán bộ trong các tập đoàn, tổng công ty nhà nước được luân chuyển; quân đội luân chuyển 23% cán bộ quy hoạch cấp sư đoàn và tương đương, 13% cán bộ cấp chiến dịch, chiến lược; công an luân chuyển 14% số cán bộ nguồn từ cấp phường trở lên (Báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Chiến lược cán bộ của Ban TCTW kèm theo Tờ Trình Bộ Chính trị số 110-TTr/BTCTW, ngày 05/4/2012).

- Công tác luân chuyển cán bộ những năm qua đã góp phần đào tạo, rèn luyện, thử thách cán bộ qua thực tiễn và tăng cường thêm cán bộ cho những nơi có khó khăn; khắc phục một bước xu hướng cục bộ, khép kín, trì trệ của đội ngũ cán bộ. Kết quả luân chuyển cán bộ từ Trung ương và địa phương trong hai nhiệm kỳ Đại hội IX và X đã góp phần đào tạo được nhiều cán bộ; nhiều đồng chí đã được bầu vào BCH Trung ương khoá X, khoá XI, được bầu làm bí thư tỉnh ủy hoặc giữ cương vị chủ chốt ở các ban, bộ, ngành Trung ương và cơ quan của Quốc hội.

- Trong quá trình thực hiện luân chuyển cán bộ, Bộ Chính trị khoá IX đã chỉ đạo thực hiện thí điểm chủ trương luân chuyển, bố trí 06 chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý tỉnh Hà Tây (cũ) gồm: bí thư tỉnh ủy, chủ tịch UBND tỉnh, giám đốc công an, sở kế hoạch đầu tư, sở tài chính và viện trưởng viện kiểm sát nhân dân không phải người địa phương. Tiếp theo đó, nhiều tỉnh, thành phố khác đã triển khai thực hiện ở cả cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã; Quân đội đã bố trí 36% chỉ huy trưởng quân sự và biên phòng tỉnh, thành phố không phải người địa phương; đảng ủy Công an Trung ương đã bố trí 20/63 giám đốc công an tỉnh thành phố và 67% trưởng công an cấp huyện không phải người địa phương; v.v.

- Ngoài ra, đã thực hiện chủ trương đưa cán bộ, sỹ quan biên phòng về tăng cường cho các xã biên giới và làm bí thư, phó bí thư, chủ tịch, phó chủ tịch, trưởng phó công an xã; đưa sinh viên tốt nghiệp đại học về làm phó chủ tịch UBND ở các xã của 61 huyện nghèo, bước đầu đã có tác dụng tốt.



Tuy nhiên, mặt hạn chế, khuyết điểm nổi lên là:

- Nhận thức về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác luân chuyển cán bộ của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa đầy đủ, sâu sắc; việc thực hiện còn chậm và chưa đồng đều giữa các cấp, các ngành. Việc luân chuyển cán bộ còn khép kín trong ngành, địa phương và vẫn còn tình trạng nơi thừa, nơi thiếu cán bộ.

- Công tác luân chuyển cán bộ ở một số nơi chưa dựa trên cơ sở đánh giá và quy hoạch cán bộ; còn nhầm lẫn giữa luân chuyển để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ với điều động bố trí cán bộ theo yêu cầu; một số trường hợp luân chuyển không rõ ý định, hướng bố trí sau luân chuyển. Một số nơi, một số ít cán bộ có biểu hiện lệch lạc, lợi dụng luân chuyển để “dán tem” hoặc đẩy cán bộ “không ăn cánh với mình” đi nơi khác.

- Việc lựa chọn địa bàn, chức danh luân chuyển có một số trường hợp còn bất hợp lý, trái ngành, trái nghề, làm hạn chế sự đóng góp của cán bộ luân chuyển. Một số ít cán bộ luân chuyển chậm tiếp cận với công việc, cá biệt có trường hợp còn chọn địa bàn, vị trí sau luân chuyển. Chủ trương luân chuyển, bố trí một số chức danh cán bộ lãnh đạo không phải người địa phương ít được thực hiện do chưa có quy định cụ thể.



3.4. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ

- Từ khi Trung ương ban hành Chiến lược cán bộ đến nay, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã có nhiều quyết định, chỉ thị, kết luận về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ như: Quy định chế độ học tập lý luận chính trị trong Đảng; việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước (Đề án 165); thành lập trường chính trị tỉnh, thành phố và trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện; kiện toàn tổ chức, bộ máy, chức năng, nhiệm vụ và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng của Học viện CTQG Hồ Chí Minh. Tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức mới cho cán bộ lãnh đạo đương chức và cán bộ dự nguồn cấp Trung ương; các lớp bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ theo chức danh, v.v.

- Hơn 10 năm qua, các cấp ủy địa phương đã tập trung chỉ đạo xây dựng trường chính trị tỉnh và trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện; phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương, Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ trong đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp về lý luận chính trị, kiến thức quản lý nhà nước và quốc phòng - an ninh; phối hợp vơí các trường đại học trong và ngoài nước mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng các chuyên ngành về quản lý kinh tế, xã hội, ngoại ngữ…

- Qua thực hiện Chiến lược cán bộ, nội dung đào tạo bồi dưỡng từng bước được đổi mới; cơ sở vật chất của các cơ sở đào tạo được tăng cường; trình độ các mặt của đội ngũ cán bộ được nâng lên rõ rệt: 98% cán bộ chủ chốt cấp huyện và sở ngành cấp tỉnh có trình độ lý luận chính trị cao cấp và 95% có trình độ đại học; 100% cán bộ được quy hoạch vào cấp ủy cấp tỉnh có trình độ đại học trở lên và 95% có trình độ lý luận chính trị cao cấp (Báo cáo tổng kết thực hiện Chiến lược cán bộ của Ban Tổ chức Trung ương, kèm theo Tờ trình số 110-TTr/BTCTW, ngày 05/4/2012)



Tuy nhiên, công tác nghiên cứu, dự báo nhu cầu đào tạo chưa gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và còn thiếu tầm chiến lược. Hệ thống đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa đồng bộ, cồng kềnh, phân tán; công tác quản lý đào tạo thiếu thống nhất; chưa cân đối giữa đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị với chuyên môn, nghiệp vụ và quản lý nhà nước; trong đào tạo chuyên môn cũng mất cân đối giữa các ngành nghề và lĩnh vực công tác…

: Uploads -> thuhuyen -> Tailieu
Uploads -> ĐỀ thi học sinh giỏi tỉnh hải dưƠng môn Toán lớp 9 (2003 2004) (Thời gian : 150 phút) Bài 1
Tailieu -> ChuyêN ĐỀ II một số VẤN ĐỀ VỀ CÔng tác xây dựng đẢng và CÔng tác cán bộ hiện nay
Tailieu -> ChuyêN ĐỀ 6 NỀn kinh tế thị trưỜng đỊnh hưỚng xhcn, toàn cầu hoá VÀ HỘi nhập quốc tế CỦa việt nam
Tailieu -> ChuyêN ĐỀ 2 MỘt số VẤN ĐỀ VỀ ĐẢng và CÔng tác xây dựng đẢng hiện nay
thuhuyen -> Ban tổ chức số 87- kh/btctw đẢng cộng sản việt nam
Tailieu -> ChuyêN ĐỀ VII một số VẤN ĐỀ VỀ CÔng tác tư TƯỞNG, tuyên giáo trong đIỀu kiện hiện nay ở việt nam
thuhuyen -> Quan đIỂm củA ĐẢng và nhà NƯỚc về CÔng tác tư TƯỞNG, ly luận và quản lý BÁo chí


1   2   3   4


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương