ChuyêN ĐỀ 1 giới thiệu chung về BÁo cáo chính trị ĐẠi hộI ĐẠi biểu phụ NỮ toàn quốc lần thứ XII a. Chủ ĐỀ VÀ KẾt cấu báo cáo chính trị



tải về 153.41 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu04.01.2018
Kích153.41 Kb.
CHUYÊN ĐỀ 1

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ BÁO CÁO CHÍNH TRỊ

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU PHỤ NỮ TOÀN QUỐC LẦN THỨ XII
A. CHỦ ĐỀ VÀ KẾT CẤU BÁO CÁO CHÍNH TRỊ

1. Về Chủ đề Đại hội

Trong quá trình thảo luận cũng như tại Đại hội, các ý kiến đều thống nhất cao cần có chủ đề Đại hội (cũng là tiêu đề của Báo cáo chính trị), thể hiện tư tưởng, mục tiêu, trọng tâm xuyên suốt trong nhiệm kỳ. Cách tiếp cận trong xác định chủ đề của Đại hội XII là đi từ một số nội dung quan trọng gắn với những yêu cầu cơ bản của phong trào phụ nữ, hoạt động Hội và sát với những vấn đề đặt ra trong nhiệm kỳ này.

Xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, Đại hội đã thảo luận và quyết định chủ đề của Đại hội XII là: Phát huy truyền thống, sức sáng tạo của phụ nữ, xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, góp phần đẩy mạnh công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, chủ đề Đại hội XII gồm các nội dung quan trọng sau:

- Đối với phụ nữ: Việc phát huy truyền thống, sức sáng tạo của phụ nữ vừa là mục tiêu, vừa là yêu cầu đối với phong trào phụ nữ và hoạt động Hội, đồng thời đây cũng là yêu cầu, điều kiện để phụ nữ chủ động vươn lên khẳng định vai trò, đóng góp trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Đối với tổ chức Hội: Xây dựng tổ chức Hội vững mạnh luôn là vấn đề cốt yếu, quan trọng hàng đầu đặt ra ở tất cả các giai đoạn phát triển của tổ chức. Chỉ khi nào xây dựng được tổ chức vững mạnh thì Hội mới thực hiện tốt được vai trò nòng cốt trong công tác phụ nữ.

- Thực hiện tốt 2 nội dung trên sẽ là điều kiện quan trọng để phụ nữ và tổ chức Hội góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân thực hiện mục tiêu phát triển đất nước do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII đề ra.

Nhìn tổng thể có thể thấy chủ đề Đại hội XII vừa đáp ứng những yêu cầu khách quan của thực tiễn, vừa định hướng cho sự phát triển của phong trào phụ nữ và tổ chức Hội, đặc biệt là mối quan hệ giữa phát huy vai trò của phụ nữ, xây dựng tổ chức Hội và sự đóng góp của tổ chức Hội, của phụ nữ trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa.



2. Về kết cấu của Báo cáo chính trị

Về cơ bản kết cấu của Báo cáo chính trị được thể hiện thành hai phần lớn (giống như những nhiệm kỳ trước): Đánh giá phong trào phụ nữ, hoạt động Hội nhiệm kỳ 2012 - 2017 và phương hướng nhiệm vụ nhiệm kỳ 2017 - 2022. Tuy nhiên, trong từng phần có những điểm khác biệt căn bản.

Phần đánh giá đảm bảo phản ánh đầy đủ, đúng mức, khách quan tình hình phong trào phụ nữ và kết quả công tác Hội, thể hiện sự ghi nhận những nỗ lực, cố gắng, đóng góp to lớn của cán bộ, hội viên, phụ nữ và các cấp Hội trong nhiệm kỳ, đồng thời chỉ rõ những hạn chế, yếu kém. Phần đánh giá được bố cục thành hai mục lớn là “Tình hình phụ nữ và kết quả phong trào phụ nữ” “Đánh giá kết quả hoạt động của Hội LHPN Việt Nam nhiệm kỳ 2012 - 2017”, trong từng mục có 2 phần là kết quả đạt được và hạn chế, nguyên nhân.

Phần phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2017 - 2022 được kết cấu thành 4 phần: phương hướng; mục tiêu, chỉ tiêu; nhiệm vụ trọng tâm; các nhóm giải pháp chủ yếu. Điểm mới trong phương hướng nhiệm kỳ là có riêng phần phương hướng với định hướng hoạt động nhiệm kỳ, phong trào thi đua, 2 cuộc vận động và 2 khâu đột phá. Nhiệm kỳ này các cấp Hội tập trung triển khai mục tiêu, 07 chỉ tiêu chủ yếu; 03 nhiệm vụ trọng tâm; 06 nhóm giải pháp chủ yếu.



B. ĐÁNH GIÁ PHONG TRÀO PHỤ NỮ VÀ HOẠT ĐỘNG HỘI NHIỆM KỲ 2012 - 2017

I. TÌNH HÌNH PHỤ NỮ VÀ KẾT QUẢ PHONG TRÀO PHỤ NỮ

Đối với tình hình và phong trào phụ nữ, báo cáo không đánh giá theo từng đối tượng phụ nữ mà đánh giá một cách tổng hợp, khái quát theo từng lĩnh vực, có điểm nhấn, đảm bảo đánh giá được hết các đối tượng, các tầng lớp phụ nữ và phong trào thi đua của phụ nữ trong các lĩnh vực, ngành nghề. Cụ thể như sau:

1. Kết quả đạt được

Năm năm qua, các tầng lớp phụ nữ cả nước đã sôi nổi hưởng ứng phong trào thi đua, các cuộc vận động, nỗ lực phấn đấu, khẳng định vai trò to lớn và đóng góp xứng đáng vào công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

- Trong lĩnh vực chính trị, phụ nữ chủ động thực hiện quyền công dân, nghĩa vụ với đất nước. Phụ nữ tham gia cấp ủy, cơ quan dân cử, cơ quan hành chính Nhà nước các cấp đều tăng cả về số lượng và chất lượng. Lần đầu tiên Việt Nam có 3 Uỷ viên Bộ Chính trị và Chủ tịch Quốc hội là nữ.

- Trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp, chị em hăng hái hưởng ứng phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, tích cực ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, sản xuất các sản phẩm nông nghiệp giá trị cao.

- Phụ nữ trong các ngành công nghiệp thi đua “lao động giỏi, lao động sáng tạo”, cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất, chất lượng.

- Phụ nữ cả nước tích cực học tập nâng cao trình độ, kiến thức về mọi mặt, hết lòng chăm lo cho việc học tập của con cháu. Phụ nữ ngành giáo dục thi đua “dạy tốt, học tốt”. Các nữ trí thức, nhà khoa học say mê nghiên cứu, tham gia chủ trì nhiều đề tài. Số chị em có trình độ thạc sỹ, tiến sỹ, được phong hàm Giáo sư, Phó Giáo sư tăng hơn nhiệm kỳ trước và ngày càng được trẻ hoá.

- Sức khỏe phụ nữ tiếp tục được cải thiện; kiến thức, kỹ năng chăm sóc sức khỏe của phụ nữ được nâng lên. Nữ cán bộ ngành y tế với trình độ chuyên môn ngày càng cao, tận tụy với bệnh nhân.

- Trong lĩnh vực văn hoá, thể thao và du lịch, phụ nữ vừa tham gia bảo tồn, phát huy giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc, vừa tích cực phát triển các sản phẩm du lịch. Ngày càng có thêm nhiều nữ văn nghệ sỹ với các tác phẩm sáng tạo, khơi dậy và phát huy các giá trị nhân văn trong cộng đồng. Các nữ vận động viên không ngừng rèn luyện, chinh phục những đỉnh cao trong thể thao.

- Phụ nữ lực lượng vũ trang luôn thể hiện ý chí kiên cường, bản lĩnh cách mạng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Phụ nữ các vùng miền, các dân tộc một lòng hướng về biên giới, biển, đảo, là hậu phương vững chắc cho cán bộ, chiến sĩ. Phụ nữ lĩnh vực đối ngoại vững vàng, kiên định đấu tranh bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế.

- Đội ngũ nữ doanh nhân năng động, sáng tạo, vượt khó, tạo việc làm cho hàng triệu lao động, mang lại lợi ích kinh tế cho nước nhà, thực hiện tốt trách nhiệm xã hội. Đại bộ phận nữ thanh niên xung kích đi đầu trong các phong trào tình nguyện. Phụ nữ cao tuổi là chỗ dựa tinh thần, làm gương cho con cháu, “sống vui, sống khỏe, sống có ích”. Phụ nữ các dân tộc thiểu số luôn đoàn kết, phát triển sản xuất, phát huy bản sắc văn hoá và chung tay giữ gìn biên cương thân yêu của Tổ quốc. Phụ nữ các tôn giáo tham gia các hoạt động thiện nguyện, sống “tốt đời, đẹp đạo”, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các nhóm phụ nữ yếu thế, dễ bị tổn thương, phụ nữ sống ở khu vực đặc biệt khó khăn đã khắc phục hoàn cảnh, nỗ lực vươn lên. Phụ nữ Việt Nam ở nước ngoài hướng về Tổ quốc, nhớ về cội nguồn, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, đóng góp thiết thực vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

- Trong gia đình, phụ nữ tiếp tục là điểm tựa tinh thần, giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, nuôi dạy thế hệ công dân tương lai của đất nước đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển bền vững.

2. Hạn chế, khó khăn

- Đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ còn nhiều khó khăn. Tỷ lệ lao động nữ nông thôn được đào tạo nghề, chuyên môn kỹ thuật thấp; thu nhập bình quân của phụ nữ thấp hơn so với nam giới.

- Doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ và quản lý còn hạn chế về năng lực cạnh tranh.

- Tỷ lệ phụ nữ làm công tác quản lý, lãnh đạo chưa đạt chỉ tiêu đề ra, chưa tương xứng với lực lượng lao động nữ.

- Bạo lực đối với phụ nữ và trẻ em gái có xu hướng gia tăng.

- Một bộ phận phụ nữ thiếu kiến thức, kỹ năng, chưa chủ động rèn luyện các phẩm chất đạo đức, chưa làm tròn trách nhiệm đối với gia đình và xã hội.

II. ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI LHPN VIỆT NAM NHIỆM KỲ 2012 - 2017

Khác với nhiệm kỳ trước, Báo cáo Chính trị nhiệm kỳ này không đánh giá theo 6 nhiệm vụ trọng tâm mà đánh giá theo 3 nhóm vấn đề lớn: (1) Công tác tuyên truyền, vận động, hỗ trợ phụ nữ nâng cao trình độ, nhận thức, phát triển kinh tế, xây dựng gia đình hạnh phúc đạt nhiều kết quả thiết thực; (2) Vai trò nòng cốt của các cấp Hội trong vận động xã hội thực hiện công tác phụ nữ và bình đẳng giới, tham mưu đề xuất, tham gia xây dựng, phản biện và giám sát luật pháp, chính sách được phát huy và có chuyển biến rõ nét; (3) Nội dung, phương thức hoạt động của Hội tiếp tục được đổi mới, tổ chức Hội được củng cố và phát triển; công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế được mở rộng. Cách đánh giá như trên đảm bảo bám sát các chức năng của tổ chức Hội, đảm bảo tính khái quát nhưng vẫn thể hiện đầy đủ kết quả thực hiện 6 nhiệm vụ trọng tâm, có nhận định, so sánh kết quả đạt được với chỉ tiêu đề ra, rút ra được các nguyên nhân, bài học kinh nghiệm.



1. Các kết quả nổi bật:

Qua đánh giá có thể thấy, nhiệm kỳ qua, Hội LHPN Việt Nam đã không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động nhằm đoàn kết, tập hợp, vận động, phát huy tiềm năng, sức sáng tạo của các tầng lớp phụ nữ, xây dựng tổ chức Hội vững mạnh. Bám sát nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương, các cấp Hội đã quyết tâm triển khai thắng lợi phong trào thi đua, các cuộc vận động, khâu đột phá và nhiệm vụ trọng tâm, qua đó thực hiện tốt vai trò nòng cốt trong công tác phụ nữ, góp phần nâng cao chất lượng đời sống mọi mặt cho hội viên, phụ nữ. Có thể khái quát ở 9 kết quả nổi bật như sau:

(1) Việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được triển khai sâu rộng dưới nhiều hình thức, với nhiều mô hình đa dạng, thiết thực. Các hoạt động tuyên truyền, giáo dục phẩm chất đạo đức “Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang” được triển khai đồng bộ nhằm định hướng cho hội viên, phụ nữ phấn đấu rèn luyện, hoàn thiện bản thân, góp phần xây dựng người phụ nữ Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập, phát triển. Công tác phát hiện, tuyên truyền, nhân rộng điển hình của phụ nữ gắn với các phong trào thi đua lớn của đất nước, của Hội được chú trọng.

(2) Chủ trương vận động phụ nữ thực hành tiết kiệm giúp nhau giảm nghèo bền vững được thực hiện bằng nhiều giải pháp đồng bộ, đạt được kết quả ấn tượng: vận động được trên 12 triệu hội viên, phụ nữ tham gia với tổng số tiền tiết kiệm tạo nguồn vốn phát triển sản xuất lên tới gần 8,2 nghìn tỷ đồng (vượt chỉ tiêu gần 3,2 nghìn tỷ đồng).

(3) Hội tiếp tục là đoàn thể nhận uỷ thác Ngân hàng Chính sách xã hội với số vốn lớn nhất và tỷ lệ hoàn trả cao nhất. Hoạt động tài chính vi mô của Hội khẳng định tính chuyên nghiệp và ngày càng phát triển bền vững. Các cấp Hội đã hỗ trợ gần 5,4 triệu lượt hộ nghèo (trong đó trên 2,4 triệu lượt hộ do phụ nữ làm chủ) và trên 430 nghìn hộ phụ nữ nghèo đã thoát nghèo; thành lập được trên 6.500 mô hình kinh tế hợp tác, vượt chỉ tiêu nhiệm kỳ.

(4) Cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch” được triển khai với nhiều mô hình, cách làm phong phú, mang lại lợi ích thiết thực cho phụ nữ, gia đình và cộng đồng; khẳng định vai trò, đóng góp của các cấp Hội trong xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh. Cuộc vận động đã được đưa vào Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 - 2020.

(5) Phát huy truyền thống “uống nước nhớ nguồn”, tinh thần “tương thân, tương ái”, các cấp Hội đã vận động ủng hộ được trên 1.000 tỷ đồng để chăm lo các gia đình chính sách, gia đình có con em đang làm nhiệm vụ nơi biên giới, hải đảo; thăm hỏi các gia đình bị ảnh hưởng của thiên tai, hoạn nạn, phụ nữ, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; vận động, xây dựng, sửa chữa 19.688 mái ấm tình thương cho phụ nữ nghèo, vượt 96,9% so với chỉ tiêu Nghị quyết.

(6) Công tác tham mưu đề xuất, tham gia xây dựng, giám sát và phản biện xã hội luật pháp, chính sách về bình đẳng giới được phát huy và có chuyển biến rõ nét. Các cấp Hội đã kiên trì, nỗ lực, đề xuất thành công 119 chính sách, điển hình là chính sách giảm số năm đóng bảo hiểm xã hội cho cán bộ nữ cấp cơ sở, hỗ trợ phụ nữ thuộc hộ nghèo là người dân tộc thiểu số khi sinh con đúng chính sách dân số, quy định tỷ lệ cụ thể nữ ứng cử viên trong Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân... Những nỗ lực của các cấp Hội đã góp phần tăng cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý, nữ tham gia cấp ủy, Quốc hội, HĐND các cấp cả về số lượng và chất lượng,

(7) Hội thực hiện nhiều giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động ở cơ sở; đa dạng hoá các hoạt động chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho hội viên; có nhiều hình thức phong phú tập hợp các đối tượng phụ nữ. Hai tổ chức thành viên là Hội Nữ trí thức Việt Nam và Hiệp hội Nữ doanh nhân Việt Nam được thành lập, hoạt động ngày càng hiệu quả. Đến nay, cả nước có gần 17 triệu hội viên, tăng hơn 1,6 triệu so với đầu nhiệm kỳ. Đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp huyện và cấp cơ sở đạt chuẩn chức danh vượt chỉ tiêu đề ra.

(8) Công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế được mở rộng. Hội tiếp tục duy trì và phát triển quan hệ hữu nghị, hợp tác với trên 300 tổ chức của hơn 60 quốc gia và vùng lãnh thổ. Trong bối cảnh viện trợ quốc tế ngày càng thu hẹp, các cấp Hội đã tích cực vận động nguồn lực quốc tế về kỹ thuật và tài chính nhằm nâng cao chất lượng hoạt động Hội và hỗ trợ cho phụ nữ, đặc biệt phụ nữ yếu thế, phụ nữ dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.

(9) Hội chủ trì thực hiện thành công 5 Đề án và tiếp tục tham mưu, đề xuất xây dựng 4 Đề án của Chính phủ trong nhiều lĩnh vực thiết thân đối với phụ nữ, qua đó huy động nguồn lực và sự tham gia của các cấp, các ngành vào công tác phụ nữ và bình đẳng giới, đồng thời là nền tảng để tiếp tục phát huy phương thức hoạt động hiệu quả này trong nhiệm kỳ mới.

2. Hạn chế và nguyên nhân

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động Hội vẫn bộc lộ một số hạn chế:

(1) Công tác nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của hội viên, phụ nữ có nơi, có lúc chưa kịp thời. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, giáo dục pháp luật, đạo đức lối sống còn chậm đổi mới, thiếu chủ động phản ánh và quyết liệt đấu tranh với các hành vi xâm hại thân thể và nhân phẩm của phụ nữ và trẻ em.

(2) Công tác giám sát, phản biện xã hội, tham mưu đề xuất chính sách còn lúng túng về cách làm; chưa đạt chỉ tiêu về giám sát chính sách ở cấp cơ sở. Hoạt động nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn còn hạn chế, chưa phục vụ tốt cho công tác chỉ đạo; thiếu cơ chế tăng cường đội ngũ tình nguyện viên, cộng tác viên, chuyên gia giỏi về giới và công tác phụ nữ, công tác Hội.

(3) Trong chỉ đạo tổ chức thực hiện còn biểu hiện hành chính, rập khuôn, dàn trải; tính chủ động của các cấp Hội chưa cao. Một số nơi còn tâm lý trông chờ vào chỉ đạo, hướng dẫn chi tiết từ cấp trên, ít sáng tạo trong triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội. Chưa đạt chỉ tiêu 100% cán bộ Hội chủ chốt cấp tỉnh đạt chuẩn chức danh theo quy định.

(4) Hội chưa có nhiều giải pháp hữu hiệu, phù hợp đưa phong trào thi đua yêu nước thực sự trở thành động lực để động viên, khơi dậy tiềm năng, sức sáng tạo, sự đóng góp của phụ nữ. Nội dung, hình thức sinh hoạt Hội ở một số cơ sở chưa thiết thực, hấp dẫn; việc tập hợp, thu hút hội viên ở một số nhóm phụ nữ, tại một số địa bàn còn lúng túng.

Những tồn tại, hạn chế nêu trên có nhiều nguyên nhân, trước hết và chủ yếu là nguyên nhân chủ quan. Đội ngũ cán bộ chưa bắt kịp xu thế đổi mới và yêu cầu ngày càng cao của công tác phụ nữ. Một bộ phận cán bộ Hội chưa nhận thức đầy đủ yêu cầu đổi mới công tác phụ nữ, công tác Hội, về chức năng đại diện của tổ chức Hội, vai trò và trách nhiệm của mình; trình độ, năng lực, bản lĩnh còn hạn chế. Công tác đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ thiếu tính chiến lược. Việc đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Hội còn chậm; chưa chú trọng nghiên cứu dự báo tình hình làm cơ sở đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động Hội và đề xuất các chính sách cho phụ nữ.

3. Đánh giá chung:

Về phong trào phụ nữ, năm năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo điều kiện của Chính phủ, các cấp chính quyền, phối hợp của Mặt trận Tổ quốc, các ban, ngành, đoàn thể và toàn xã hội, các tầng lớp phụ nữ đã đoàn kết, phát huy truyền thống vẻ vang và những phẩm chất tốt đẹp, tích cực hưởng ứng các phong trào thi đua, các cuộc vận động, cần cù, năng động sáng tạo trong lao động, chủ động tích cực học tập, hết lòng chăm lo cho hạnh phúc gia đình, đóng góp xứng đáng vào thành tựu đổi mới và phát triển của đất nước. Đời sống của phụ nữ được cải thiện, trình độ được nâng lên, phụ nữ ngày càng tự tin, chủ động tham gia vào các hoạt động xã hội. Công tác phụ nữ và bình đẳng giới đã đạt những kết quả tích cực, vai trò của phụ nữ ngày càng được khẳng định.

Về công tác Hội, thực hiện vai trò nòng cốt trong công tác phụ nữ, các cấp Hội đã không ngừng đổi mới nội dung và phương thức hoạt động theo hướng xác định trọng tâm, khâu đột phá, tập trung cho cơ sở, đề cao tính chủ động, trách nhiệm của từng cấp và cán bộ Hội, chú trọng vai trò chủ thể của hội viên, phụ nữ. Đến cuối nhiệm kỳ cơ bản các chỉ tiêu đều đạt, trong đó nhiều chỉ tiêu về đích trước thời hạn (6/8 chỉ tiêu đã đạt và vượt). Hội ngày càng thực hiện tốt hơn chức năng đại diện, chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của phụ nữ; khẳng định được tiếng nói đại diện cho giới trong xây dựng chính sách pháp luật, công tác giám sát, phản biện xã hội, là cầu nối giữa Đảng với hội viên, phụ nữ, góp phần xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, tạo sự đồng thuận xã hội, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh. Hội đã mở rộng tính liên hiệp, thu hút, vận động các tầng lớp phụ nữ, phối hợp với các cấp, các ngành và toàn xã hội góp phần giải quyết nhiều vấn đề của phụ nữ, gia đình. Cán bộ Hội được đào tạo cơ bản, ngày càng trẻ hóa. Hội đã chủ động giới thiệu, bồi dưỡng nhiều cán bộ nữ đảm nhiệm các vị trí lãnh đạo, quản lý ở các cấp, các ngành.

Tuy nhiên, đời sống vật chất, tinh thần, cơ hội tiếp cận các nguồn lực để nâng cao năng lực, vị thế của phụ nữ còn hạn chế. Khoảng cách giới và tình trạng bất bình đẳng trên một số lĩnh vực, ở một số nhóm phụ nữ vẫn chưa được cải thiện. Hoạt động Hội chưa bắt kịp với nhu cầu ngày càng đa dạng của phụ nữ, sự phân tầng xã hội cũng như yêu cầu phát triển nhanh chóng và hội nhập sâu rộng của đất nước. Việc thực hiện chức năng đại diện trong một số lĩnh vực chưa đáp ứng được kỳ vọng của phụ nữ và nhiệm vụ chính trị đặt ra đối với tổ chức Hội.



III. BÀI HỌC KINH NGHIỆM

Từ thực tiễn phong trào phụ nữ và hoạt động Hội nhiệm kỳ qua có thể rút ra 5 bài học kinh nghiệm sau:


Một là, bài học về thực hiện chủ trương đường lối của Đảng và đổi mới nội dung phương thức hoạt động: Các cấp Hội phải bám sát và cụ thể hoá chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; chú trọng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động; chọn khâu đột phá, tập trung nguồn lực để thực hiện những nhiệm vụ cấp bách; trong từng thời điểm biết chọn chủ đề ưu tiên; kiên trì thực hiện các mục tiêu lâu dài là bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ.

Hai là, bài học về phụ nữ: mọi hoạt động của tổ chức Hội đều phải xuất phát từ thực tiễn và nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của phụ nữ. Để tạo sự gắn bó của hội viên, phụ nữ với tổ chức Hội, cần đáp ứng lợi ích thiết thực về vật chất, tinh thần, bảo vệ quyền lợi chính đáng của hội viên, phụ nữ; phát huy khả năng to lớn và vai trò chủ thể của phụ nữ. Khơi dậy và phát huy truyền thống vẻ vang, tinh thần đoàn kết, nhân ái, trí tuệ, tiềm năng, sức sáng tạo của phụ nữ Việt Nam thành sức mạnh nội lực chủ động giải quyết các vấn đề của bản thân, của gia đình và thực hiện trách nhiệm đối với xã hội.

Ba là, bài học về xây dựng tổ chức Hội: xây dựng cơ quan chuyên trách Hội vững mạnh; đội ngũ cán bộ Hội các cấp có tâm huyết, trách nhiệm, tận tình, có năng lực, có kỹ năng vận động phụ nữ, có kinh nghiệm thực tiễn, chuyên nghiệp là nhân tố quyết định thành công của phong trào thi đua, các cuộc vận động và nhiệm vụ công tác Hội. Mỗi cán bộ Hội đều phải nhận thức đúng về vai trò, trách nhiệm và thực hành nhuần nhuyễn phương pháp công tác của người cán bộ làm công tác vận động quần chúng “óc nghĩ, mắt trông, tai nghe, chân đi, miệng nói, tay làm”.

Bốn là, bài học về vai trò đại diện của tổ chức Hội: để thực hiện tốt vai trò đại diện, các cấp Hội cần tăng cường giám sát việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật về bình đẳng giới; chủ động phản biện xã hội, tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước tiếp tục ban hành, hoàn thiện và lãnh đạo tổ chức thực hiện tốt, kiểm tra, giám sát các chính sách, pháp luật về bình đẳng giới và tiến bộ phụ nữ; tiếp tục đề xuất các chương trình, đề án có liên quan đến phụ nữ.

Năm là, bài học về công tác phối hợp và xã hội hóa: chủ động, tích cực phối hợp với các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân; đẩy mạnh xã hội hóa, huy động nguồn lực trong và ngoài nước đáp ứng yêu cầu của phong trào phụ nữ và công tác Hội.

C. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ NHIỆM KỲ 2017 - 2022

I. CĂN CỨ XÂY DỰNG PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ

1. Quan điểm, chủ trương của Đảng, luật pháp, chính sách của Nhà nước, trong đó tập trung nghiên cứu sâu một số các văn bản quan trọng liên quan trực tiếp đến công tác phụ nữ và bình đẳng giới:

- Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 -2021; Mục tiêu phát triển bền vững của Liên hiệp quốc đến năm 2030; Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành TW Đảng khóa XII. Trong đó nổi bật là việc quán triệt, cụ thể hóa việc thực hiện mục tiêu đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; phát triển kinh tế nhanh, bền vững; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; quyết tâm đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong nội bộ.


- Các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chiến lược, chương trình của Chính phủ có liên quan trực tiếp tới công tác phụ nữ và bình đẳng giới, trong đó nổi bật là: Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Kết luận số 55-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW; Luật Bình đẳng giới; Chiến lược quốc gia về bình đẳng Giới giai đoạn 2011 - 2020. Chỉ thị số 48-CT/TW về lãnh đạo Đại hội đại biểu phụ nữ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ XII.

2. Những thành công, hạn chế, bài học kinh nghiệm rút ra trong thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Phụ nữ toàn quốc lần thứ XI; các đề tài nghiên cứu của Hội trong đó nổi bật là 02 đề tài nghiên cứu “Thực trạng, nhu cầu, ý kiến phụ nữ và khả năng đáp ứng của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam giai đoạn 2016 - 2022” và “Một số giải pháp nâng cao năng lực cán bộ và phát triển hội viên”; Hội thảo lý luận “Một số vấn đề về công tác phụ nữ trong tình hình mới”.


3. Ý kiến đóng góp rộng rãi của hội viên, phụ nữ cả nước tại Đại hội 3 cấp, các kỳ họp Ban Chấp hành TW Hội và cán bộ lãnh đạo Hội qua các thời kỳ; tham vấn các nhà khoa học, chuyên gia và tổ chức lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân thông qua các cuộc điều tra, tổ chức các hội thảo, các phương tiện thông tin đại chúng.

4. Dự báo tình hình.


- Thuận lợi: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng mở ra vận hội mới cho đất nước và cơ hội phát triển toàn diện cho các tầng lớp phụ nữ Việt Nam. Chủ trương tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng được đẩy mạnh thực hiện. Công tác phụ nữ và sự nghiệp bình đẳng giới tiếp tục được thể chế hoá, được toàn xã hội triển khai. Vấn đề bình đẳng giới và nâng cao quyền năng của phụ nữ tiếp tục là mối quan tâm toàn cầu.

- Thách thức: Biến đổi khí hậu, an ninh lương thực, thiên tai dịch bệnh, tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông... Sự dịch chuyển lao động trong các ngành nghề, khu vực dẫn đến những thay đổi về cơ cấu xã hội, sự đa dạng về nhu cầu, lợi ích trong các tầng lớp dân cư và phụ nữ. Định kiến giới vẫn tồn tại dai dẳng; đời sống của một bộ phận phụ nữ, nhất là phụ nữ nông thôn, phụ nữ di cư, phụ nữ dân tộc thiểu số, phụ nữ khuyết tật còn khó khăn; tình hình tội phạm liên quan đến phụ nữ, trẻ em, bạo lực gia đình ngày càng phức tạp; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận phụ nữ chưa bị đẩy lùi.


II. PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP

Căn cứ các yêu cầu và thực tiễn trên, Đại hội đề ra phương hướng đối với phong trào phụ nữ và hoạt động Hội nhiệm kỳ 2017 - 2022 là: “Phát huy truyền thống tốt đẹp của phụ nữ Việt Nam; kế thừa các thành quả to lớn của phong trào phụ nữ và hoạt động Hội; bám sát nhiệm vụ chính trị của đấtớc, tiếp tục xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, thực hiện tốt vai trò nòng cốt trong công tác phụ nữ và chức năng đại diện của tổ chức Hội. Đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, đồng bộ nội dung, phương thức hoạt động Hội theo hướng thiết thực, chuyên nghiệp. Tập trung tham mưu, đề xuất chính sách, giám sát, phản biện xã hội; tăng cường vận động xã hội, tích cực hội nhập quốc tế; chăm lo tốt hơn lợi ích chính đáng của phụ nữ, tạo động lực động viên đông đảo phụ nữ phát huy dân chủ, cần cù, năng động, sáng tạo, trách nhiệm xây dựng đất nước phát triển nhanh, bền vững, xây dựng gia đình hạnh phúc. Nâng cao vai trò, vị thế của phụ nữ và tổ chức Hội, thực hiện mục tiêu vì sự tiến bộ của phụ nữ và bình đẳng giới.


Bên cạnh quán triệt các yêu cầu đặt ra như trên, việc triển khai thực hiện phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2017 - 2022 phải lồng ghép quán triệt: (1) Chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Đại hội đại biểu phụ nữ toàn quốc lần thứ XII; (2) các điểm mới, tư tưởng cốt lõi của nhiệm kỳ; (3) phong trào thi đua và các cuộc vận động; (4) các khâu đột phá; (5) các nhiệm vụ trọng tâm; (6) các nhóm giải pháp chủ yếu; (7) lưu ý các hoạt động đặc thù đối với phụ nữ dân tộc thiểu số, tôn giáo.

1. Một số điểm mới, tư tưởng cốt lõi trong phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2017 - 2022


Phương hướng, nhiệm vụ nhiệm kỳ 2017 - 2022 tập trung một số điểm mới, tư tưởng cốt lõi, phải được quán triệt sâu sắc trong quá trình triển khai thực hiện các nhiệm vụ công tác Hội nhiệm kỳ 2017 - 2022.

(1) Cải tiến đồng bộ, toàn diện nội dung, phương thức hoạt động để thu hút đông đảo các tầng lớp phụ nữ tham gia tổ chức Hội, tạo sinh lực mới cho phong trào phụ nữ. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động để củng cố tổ chức Hội thực sự vững mạnh, phát huy đầy đủ vai trò nòng cốt trong công tác vận động phụ nữ. Quán triệt tinh thần chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Đại hội đại biểu PNTQ lần thứ XII với phương châm “Lấy hạnh phúc và lợi ích của phụ nữ làm mục tiêu” cho mọi hoạt động của tổ chức Hội. Tập trung giải quyết có hiệu quả một số vấn đề cấp thiết của hội viên, phụ nữ. Nâng cao chất lượng công tác đề xuất chính sách, giám sát và phản biện xã hội; chăm lo bảo vệ phẩm giá, quyền và lợi ích chính đáng của phụ nữ. Nâng cao vai trò của phụ nữ và tổ chức Hội trong xây dựng gia đình; đặc biệt quan tâm xây dựng gia đình văn hoá, no ấm, hạnh phúc, tiến bộ; chăm sóc, giáo dục trẻ em. Phụ nữ phải là "người thắp lửa cho mỗi nhà", không chỉ chăm lo gia đình mà còn cần biết thắp lên niềm tin, ước mơ và hy vọng cho mỗi thành viên trong gia đình.

Đa dạng hoá nội dung hoạt động nhằm đáp ứng một cách thiết thực, hiệu quả nhu cầu của các tầng lớp phụ nữ. Hướng mạnh hoạt động về cơ sở; cải tiến công tác chỉ đạo, điều hành; xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm từng thời kỳ, tập trung chỉ đạo quyết liệt, tạo hiệu quả rõ rệt, tránh hình thức, phô trương, hành chính hoá trong hoạt động của Hội.

(2) Phát huy quyền làm chủ của hội viên, phụ nữ thông qua các hoạt động phát huy vai trò, nội lực để phụ nữ tự giải quyết các vấn đề của mình và tổ chức cho phụ nữ tham gia xây dựng đảng, xây dựng chính quyền, xây dựng tổ chức Hội; tăng cường tính tự nguyện, tự giác, tự quản của hội viên trong tham gia hoạt động Hội. Tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp để xây dựng người phụ nữ Việt Nam phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, tinh thần, năng lực sáng tạo, ý thức công dân; đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.

Để phát huy nội lực của phụ nữ, phương hướng nhiệm kỳ 2017 - 2022 đề ra các giải pháp vận động phụ nữ giúp nhau như tiết kiệm tạo nguồn vốn tại chỗ, hỗ trợ nhau về nguồn lực và kinh nghiệm sản xuất; tăng cường mối liên kết hội viên các tổ chức thành viên (Hội Nữ trí thức, Hiệp hội Nữ doanh nhân Việt Nam) với các nhóm phụ nữ nhằm hỗ trợ phụ nữ phát triển kinh tế, nâng cao trình độ, tự tin hội nhập.

Để phát huy quyền làm chủ của phụ nữ trong xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, xây dựng Hội, các cấp Hội cần đi sâu giáo dục, bồi dưỡng, động viên hội viên phát huy quyền làm chủ; tạo diễn đàn để phụ nữ thể hiện tiếng nói, quan điểm của mình; tích cực thực hiện có hiệu quả công tác giám sát, phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, tham gia các hoạt động chính trị - xã hội với đầy đủ trách nhiệm của người làm chủ. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục, vận động, thuyết phục các tầng lớp phụ nữ thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, phát huy sức mạnh, thế mạnh của phụ nữ trên tất cả các lĩnh vực.

(3) Thu hút phụ nữ tham gia hoạt động và tổ chức Hội bằng nhiều hình thức với phương châm “Ở đâu có phụ nữ, ở đó có hoạt động Hội”, chú trọng tổ chức hoạt động, sinh hoạt Hội linh hoạt, phù hợp với sự đa dạng của các nhóm phụ nữ. Không chỉ tổ chức hoạt động theo địa bàn hành chính mà tăng cường phối hợp với các đoàn thể, tổ chức, trong đó có Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và 2 tổ chức thành viên (Hội Nữ trí thức, Hiệp hội Nữ doanh nhân Việt Nam) để đưa hoạt động đến với các đối tượng phụ nữ một cách linh hoạt. Tạo điều kiện để phụ nữ khẳng định mình, thể hiện vai trò, khả năng đóng góp vào sự phát triển của Hội, của cộng đồng và các chị em phụ nữ khác (như tổ tư vấn cộng đồng, hoạt động xã hội từ thiện…).

Tiếp tục tổ chức và nâng cao chất lượng các phong trào thi đua, các cuộc vận động để thu hút phụ nữ tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, chủ động giải quyết những vấn đề của chính phụ nữ ngay từ cơ sở. Nghiên cứu phát động nhiều phong trào thiết thực hơn nữa nhằm thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, động viên phụ nữ thực hiện các phong trào thi đua do Hội phát động và hưởng ứng các phong trào do Chính phủ và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động.

(4) Kiện toàn, củng cố hoạt động của cơ quan chuyên trách Hội các cấp, đẩy mạnh phân cấp cho các cấp Hội theo hướng chuyên nghiệp, hiệu quả, linh hoạt, khắc phục hành chính hóa; phân định rõ chức năng, nhiệm vụ trong chỉ đạo và tổ chức triển khai nhiệm vụ công tác Hội. Đầu tư cho nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn làm cơ sở chỉ đạo hoạt động. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Hội các cấp, đáp ứng yêu cầu công tác Hội trong giai đoạn mới. Xây dựng đội ngũ cán bộ Hội có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, có tư duy sáng tạo, nhiệt tình, tâm huyết với công tác Hội; có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; có phương pháp vận động phụ nữ; có kỹ năng công tác xã hội; phát huy vai trò của người đứng đầu. Thí điểm phương thức Hội đảm nhận một số dịch vụ công tăng nguồn lực cho hoạt động Hội.

(5) Làm tốt vai trò đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ, chú trọng hoạt động giám sát và phản biện xã hội, tập trung cho đề xuất sửa đổi, bổ sung, xây dựng mới các chính sách phát huy vai trò của lực lượng lao động nữ hội nhập kinh tế, thực hiện an sinh xã hội; lên tiếng mạnh mẽ bảo vệ phụ nữ và trẻ em bị xâm hại. Tổ chức nghiêm túc việc triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá XII tới toàn thể cán bộ, hội viên. Kiên quyết, tích cực làm trong sạch đội ngũ, khắc phục các hiện tượng sa sút, thoái hoá về phẩm chất, lối sống; chủ động phát hiện và tham gia đấu tranh ngăn chặn tình trạng tham nhũng, tiêu cực, lãng phí trong xã hội; ngăn ngừa những tiêu cực ngay chính trong gia đình mình, trong những người thân của mình.

(6) Đa dạng hóa, tăng cường huy động sự tham gia, phát huy vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành và toàn xã hội trong thực hiện các hoạt động chăm lo, bảo vệ phụ nữ thông qua xây dựng các đề án, đăng ký nhận phần việc trong các hoạt động chung như vận động nhân dân thực hiện các hoạt động vệ sinh môi trường trong Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới… Phát huy vai trò của ủy viên Ban Chấp hành cơ cấu các cấp.

2. Phong trào thi đua và các cuộc vận động

Đại hội tiếp tục phát động phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” và hai cuộc vận động “Rèn luyện phẩm chất đạo đức: tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đang”,“Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch” gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Phong trào thi đua là động lực thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm. Việc thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm chính là thể hiện sinh động, cụ thể phong trào thi đua. Kết quả triển khai các nhiệm vụ công tác Hội chính là thước đo hiệu quả của phong trào thi đua.

Trung ương Hội và các tỉnh/thành Hội nghiên cứu để cụ thể hoá nội hàm từng tiêu chí thi đua, cuộc vận động, xây dựng hướng dẫn triển khai phù hợp với định hướng mới, gắn với những vấn đề thực tiễn đang đặt ra. Hướng dẫn về nội dung, cách thức tổ chức thực hiện phong trào thi đua và các cuộc vận động sẽ được ban hành sau khi xin ý kiến các tỉnh/thành Hội.

3. Khâu đột phá

Khâu đột phá là những vấn đề then chốt, quan trọng, những điểm nghẽn trong thực hiện nhiệm vụ công tác Hội, nếu giải quyết được sẽ tạo chuyển biến quan trọng, tác động mạnh mẽ có tính chiến lược tới các vấn đề khác của phong trào phụ nữ và hoạt động Hội. Các khâu đột phá là đòn bẩy thực hiện hiệu quả hơn các nhiệm vụ công tác trọng tâm của Hội LHPN các cấp. Từng khâu đột phá có mối quan hệ chặt chẽ và cần được lồng ghép, cụ thể hóa trong nội dung và giải pháp thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm.

3.1. Khâu đột phá 1: Nâng cao hiệu quả thực chất công tác giám sát, phản biện xã hội, tham mưu đề xuất chính sách góp phần giải quyết các vấn đề thiết thân của phụ nữ.

Giám sát và phản biện xã hội là nhiệm vụ quan trọng trong công tác tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể chính trị - xã hội. Công tác giám sát và phản biện đã được quy định trong Hiến pháp, đồng thời được cụ thể hoá bằng Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ chính trị về việc ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội. Đây cũng là công tác thể hiện vai trò, vị trí của tổ chức Hội trong chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho phụ nữ, phát huy quyền làm chủ của phụ nữ. Mỗi chính sách do Hội đề xuất được sẽ tác động đến số đông phụ nữ.

Năm năm qua, mặc dù công tác tham mưu đề xuất, tham gia xây dựng, giám sát và phản biện xã hội được các cấp Hội đầu tư thực hiện đạt được những kết quả cụ thể nhưng việc triển khai công tác này còn lúng túng nhất là ở cấp huyện và cơ sở. Với yêu cầu thực tiễn đã và đang đặt ra đối với Hội trong việc phát huy vai trò, chức năng đại diện cho quyền làm chủ của các tầng lớp phụ nữ trong tình hình mới, việc nâng cao hiệu quả thực chất công tác giám sát, phản biện xã hội, tham mưu đề xuất chính sách góp phần giải quyết các vấn đề thiết thân của phụ nữ tiếp tục là vấn đề ưu tiên của tổ chức Hội. Đây được coi là khâu đột phá quan trọng trong thực hiện chức năng đại diện của tổ chức Hội.

3.2. Khâu đột phá 2: Nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động Hội cơ sở; đa dạng hóa các hình thức tập hợp phụ nữ; phát huy quyền làm chủ của hội viên, phụ nữ.

Cấp cơ sở là nền tảng của tổ chức Hội, là cấp trực tiếp triển khai mọi chủ trương hoạt động tới hội viên, phụ nữ, là cầu nối giữa hội viên, phụ nữ với tổ chức Hội cấp trên. Thực tế hiện nay, nội dung, hoạt động Hội ở một số cơ sở chưa thiết thực, hấp dẫn; việc tập hợp, thu hút hội viên ở một số nhóm phụ nữ, tại một số địa bàn còn hạn chế. Yêu cầu đặt ra trong nhiệm kỳ tới là phải mở rộng tính liên hiệp của tổ chức Hội, thực hiện phương châm “Ở đâu có phụ nữ, ở đó có hoạt động Hội”, đa dạng hóa, nhân rộng các mô hình tập hợp hội viên có hiệu quả, do đó việc nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động Hội ở cơ sở là khâu đột phá quan trọng, có ý nghĩa quyết định đến việc đưa các chủ trương, văn bản chỉ đạo của Ban Chấp hành, Đoàn Chủ tịch đi vào cuộc sống, phong trào thi đua và hoạt động Hội đến được với từng hội viên, phụ nữ một cách thực chất.

Phát huy quyền làm chủ của phụ nữ là phương châm xuyên suốt trong hoạt động của tổ chức Hội với mục đích phát huy vai trò, nội lực của phụ nữ để tự giải quyết các vấn đề của mình và tổ chức cho phụ nữ tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Chính quyền, xây dựng tổ chức Hội. Phương châm này phải được cụ thể hóa thành các hoạt động thiết thực ở từng cơ sở, từng địa bàn, từng nhóm phụ nữ.

4. Mục tiêu


Mục tiêu tổng quát của nhiệm kỳ 2017 - 2022 là Đoàn kết, phát huy truyền thống, tiềm năng, sức sáng tạo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và vị thế của phụ nữ; đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, xây dựng tổ chức Hội vững mạnh, chuyên nghiệp; phấn đấu vì mục tiêu bình đẳng giới, tiến bộ của phụ nữ, xây dựng gia đình hạnh phúc, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Mục tiêu là vấn đề bao trùm, là sự cụ thể hóa chủ đề Đại hội và định hướng cho phong trào phụ nữ và hoạt động Hội. Mục tiêu được cụ thể hóa thành các chỉ tiêu chủ yếu, phong trào thi đua, nhiệm vụ trọng tâm và các giải pháp lớn trong nhiệm kỳ. Mục tiêu gồm 3 nội dung chính: (1) Đối với phụ nữ; (2) Đối với tổ chức Hội; (3) Mục tiêu cho cả phụ nữ và tổ chức Hội: phấn đấu vì mục tiêu bình đẳng giới, tiến bộ của phụ nữ, xây dựng gia đình hạnh phúc, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.



5. Chỉ tiêu chủ yếu

Các chỉ tiêu chủ yếu là đầu ra, là tiêu chí cụ thể để đánh giá việc thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của nhiệm kỳ. Đây là những chỉ tiêu lớn, thể hiện sự quyết tâm cao hơn, thực chất và có tính khả thi hơn. Dự kiến trên cơ sở đăng ký của các tỉnh/thành Hội, TW Hội sẽ giao chỉ tiêu thi đua cho các tỉnh/thành, từ đó các tỉnh/thành cụ thể hóa, tổ chức thực hiện các hoạt động để đạt chỉ tiêu thi đua phù hợp với điều kiện của địa phương, vùng miền, từng nhóm phụ nữ. Việc thực hiện chỉ tiêu sẽ được phân tích sâu ở các nhiệm vụ trọng tâm.

(1) Chỉ tiêu về tham mưu, đề xuất chính sách và phản biện xã hội: Đến cuối nhiệm kỳ, cấp trung ương tham mưu đề xuất được ít nhất 05 chính sách/đề án; cấp tỉnh và huyện tham mưu đề xuất ít nhất 02 chính sách/chương trình/đề án liên quan đến phụ nữ. Hàng năm, các cấp Hội giám sát ít nhất 01 chính sách; đóng góp ý kiến, phản biện xã hội ít nhất 01 văn bản dự thảo có liên quan.

(2) Chỉ tiêu về tuyên truyền: Hàng năm, mỗi cơ sở Hội tổ chức ít nhất 02 hoạt động tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, giáo dục truyền thống, nâng cao kiến thức, kỹ năng cho phụ nữ.

(3) Chỉ tiêu về điển hình: Hàng năm, mỗi cơ sở Hội phát hiện, xây dựng, biểu dương, tuyên truyền nhân rộng ít nhất 02 điển hình là cá nhân phụ nữ tiêu biểu, mô hình hoặc cách làm hay; đạt chỉ tiêu ít nhất 20.000 điển hình/năm trong toàn quốc.

(4) Chỉ tiêu về cuộc vận động “Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”, góp phần xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh: Hàng năm, mỗi cơ sở Hội đăng ký với cấp ủy, chính quyền thực hiện ít nhất một hoạt động thiết thực, phù hợp tham gia xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh; giúp thêm được ít nhất 02 hộ gia đình đạt các tiêu chí “gia đình 5 không, 3 sạch”, phấn đấu cả nước giúp được thêm ít nhất 20.000 hộ đạt 8 tiêu chí, trong đó ít nhất 10.000 hộ thoát nghèo theo tiêu chí nghèo đa chiều.

(5) Chỉ tiêu về đào tạo nghề, khởi nghiệp và thành lập hợp tác xã: Hàng năm, các cấp Hội, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp của Hội đào tạo nghề, phối hợp, giới thiệu đào tạo nghề cho 75.000 lao động nữ; hỗ trợ 2.500 phụ nữ khởi sự kinh doanh và khởi nghiệp; phấn đấu đến cuối nhiệm kỳ, các cấp Hội phối hợp hỗ trợ thành lập 300 hợp tác xã do phụ nữ quản lý.

(6) Chỉ tiêu về phát triển hội viên và tập hợp phụ nữ: Đến cuối nhiệm kỳ, toàn quốc tăng thêm 1 triệu hội viên; đảm bảo không có cơ sở Hội tập hợp dưới 50% phụ nữ từ 18 tuổi trở lên tham gia tổ chức Hội.

(7) Chỉ tiêu về nâng cao năng lực cán bộ Hội: Đến cuối nhiệm kỳ, 100% cán bộ Hội cấp trung ương, tỉnh, huyện, 90% trở lên Chủ tịch Hội cấp cơ sở đạt chuẩn chức danh theo quy định; 100% cán bộ Hội chuyên trách các cấp được tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác Hội, công tác xã hội ít nhất 03 lần/nhiệm kỳ; 100% chi hội trưởng được bồi dưỡng nghiệp vụ ít nhất 01 lần/nhiệm kỳ.

6. Các nhiệm vụ trọng tâm

Các nhiệm vụ trọng tâm là sự cụ thể hóa thực hiện chức năng, nhiệm vụ được quy định trong Điều lệ Hội, bao gồm 3 nhiệm vụ trọng tâm: 1) Tuyên truyền, vận động, hỗ trợ phụ nữ phát triển toàn diện, xây dựng gia đình hạnh phúc; 2) Vận động, hỗ trợ phụ nữ sáng tạo khởi nghiệp, phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường; 3) Xây dựng tổ chức Hội vững mạnh; tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; thực hiện giám sát, phản biện xã hội; đẩy mạnh công tác đối ngoại nhân dân. Điểm mới là không thực hiện theo 6 nhiệm vụ như nhiệm kỳ trước nhưng 3 nhiệm vụ nhiệm kỳ mới đã bao quát tất cả các nội dung hoạt động Hội.

Các nhiệm vụ có mối liên hệ chặt chẽ và tác động tương hỗ với nhau.

- Nhiệm vụ 1 là các hoạt động hỗ trợ người phụ nữ với 2 nội dung chính là tuyên truyền, vận động, hỗ trợ xây dựng người phụ nữ phát triển toàn diện và tuyên truyền, vận động, hỗ trợ để phụ nữ xây dựng gia đình hạnh phúc. Việc tuyên truyền, vận động, hỗ trợ phụ nữ phát triển toàn diện về năng lực, trí lực, thể lực, động viên phụ nữ tự học tập nâng cao trình độ, năng lực chuyên môn, nghề nghiệp, các kỹ năng đáp ứng yêu cầu hội nhập là tiền đề quan trọng giúp phụ nữ xây dựng gia đình hạnh phúc; phát triển kinh tế (nhiệm vụ 2); tham gia thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Chính quyền (nhiệm vụ 3). Ngược lại, thực hiện tốt nhiệm vụ 2, 3 sẽ tạo điều kiện để hỗ trợ phụ nữ phát triển toàn diện, xây dựng gia đình hạnh phúc.

- Nhiệm vụ 2 là nhiệm vụ hỗ trợ phụ nữ nâng cao quyền năng kinh tế, khẳng định vai trò, trách nhiệm, đóng góp của phụ nữ đối với gia đình, xã hội, đóng góp cho các mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, các hoạt động của nhiệm vụ 1 với nội dung phát triển người phụ nữ toàn diện và xây dựng gia đình hạnh phúc có vai trò quan trọng và các nội dung ở nhiệm vụ 3 về đề xuất cơ chế, chính sách, nâng cao vai trò làm chủ của phụ nữ sẽ là yếu tố không thể thiếu. Ngược lại thực hiện tốt nhiệm vụ 2 sẽ là điều kiện thuận lợi để hỗ trợ phụ nữ phát triển toàn diện, xây dựng gia đình hạnh phúc, xây dựng tổ chức Hội, tham gia xây dựng đảng, xây dựng chính quyền, hội nhập quốc tế.

- Nhiệm vụ 3 là nhiệm vụ về xây dựng tổ chức Hội, tham gia xây dựng đảng, xây dựng chính quyền, hội nhập quốc tế.

+ Xây dựng tổ chức Hội vững mạnh là nền tảng để thực hiện tốt mọi nhiệm vụ công tác Hội và thực hiện tốt các nhiệm vụ công tác Hội sẽ trực tiếp góp phần xây dựng tổ chức Hội vững mạnh.

+ Việc đề xuất, xây dựng luật pháp chính sách phải dựa vào thực tiễn triển khai các nhiệm vụ xây dựng gia đình, phát triển kinh tế, xây dựng tổ chức Hội và ngược lại, để làm tốt các nhiệm vụ đều cần đề xuất chính sách.

+ Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, việc đẩy mạnh các hoạt động đối ngoại nhân dân là cơ sở quan trọng để giúp phụ nữ nâng cao kiến thức, tự tin hội nhập, tổ chức Hội mở rộng quan hệ với các nước trên thế giới. Mặt khác, các nhiệm vụ công tác Hội được thực hiện hiệu quả sẽ giúp Hội khẳng định được vai trò, vị trí trong tiến trình hội nhập, từ đó mở ra các cơ hội hợp tác quốc tế cho Hội.

Trong thực hiện nhiệm vụ, các tỉnh/thành Hội lưu ý việc sắp xếp tổ chức bộ máy của Cơ quan TW Hội và các tỉnh/thành Hội không cứng nhắc theo các nhiệm vụ, 1 nhiệm vụ có thể do nhiều ban thực hiện, 1 ban có thể thực hiện một số nội dung của nhiều nhiệm vụ. Không nhất thiết phân công nhiệm vụ cho các ban ở tỉnh/thành Hội phải thống nhất với việc phân công ở TW Hội mà phụ thuộc vào thực tế bộ máy, con người của từng tỉnh/thành.



7. Các nhóm giải pháp chủ yếu.

Nhiệm kỳ này tập trung 6 nhóm giải pháp chủ yếu: 1) Cải tiến công tác chỉ đạo, điều hành; 2) Đổi mới công tác tuyên truyền, vận động; 3) Phát huy vai trò làm chủ của hội viên, phụ nữ; 4) Đầu tư nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn; 5) Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ Hội; 6) Mở rộng các hoạt động liên kết, phối hợp.

Các nhóm giải pháp chủ yếu là những giải pháp tổng thể, cơ bản, mang tính xuyên suốt và cần được quán triệt, vận dụng trong quá trình triển khai các nhiệm vụ trọng tâm trong cả nhiệm kỳ. Đây là những giải pháp mang tính định hướng, gợi mở, các cấp Hội phải căn cứ tình hình thực tiễn, đặc điểm, nhu cầu của phụ nữ ở địa phương/đơn vị để nghiên cứu những giải pháp cụ thể trong từng nhóm giải pháp lớn, vận dụng thành giải pháp phù hợp với yêu cầu của từng nhiệm vụ, phù hợp với tình hình địa phương/đơn vị.

Quá trình đánh giá kết quả thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm phải gắn với đánh giá việc cụ thể hóa, vận dụng và triển khai hiệu quả các giải pháp cụ thể trong từng nhóm giải pháp. Một giải pháp có thể áp dụng thực hiện cho nhiều nhiệm vụ và 1 nhiệm vụ có thể áp dụng nhiều giải pháp.

III. MỘT SỐ NỘI DUNG THẢO LUẬN:

1. Xin ý kiến về các dự thảo:

- Cách thức triển khai thực hiện phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc”.

- Cách thức triển khai thực hiện cuộc vận động ‘Xây dựng gia đình 5 không, 3 sạch”.

- Cách thức đánh giá thi đua năm 2017.

2. Những điểm còn khó khăn, cần tiếp tục làm rõ; các vấn đề cần thống nhất; các kiến nghị, đề xuất?



3. Việc cụ thể hóa, điều chỉnh chương trình, kế hoạch toàn khóa của Hội LHPN các tỉnh/thành có thuận lợi, khó khăn gì?








Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương