CHỦ giảNG: Tiến sĩ Thái Lễ Húc Giảng ngày: 15/02 23/02/2005 ĐƯỜng đẾn hạnh phúC



tải về 2.88 Mb.
trang12/16
Chuyển đổi dữ liệu04.01.2018
Kích2.88 Mb.
1   ...   8   9   10   11   12   13   14   15   16

(VCD 29)


Chào tất cả quý vị!

Sáng nay chúng ta giảng đến câu tín nghĩa, đạo nghĩa giữa bạn bè với nhau. Cũng nhắc đến giữa quan hệ bạn bè, nên: Khuyên bảo nhau; Quan tâm nhau; Khen ngợi và tán thán nhau, thật ra khi quý vị khen ngợi người khác, thì bản thân mình cũng được thơm lây; Câu tiếp theo là “Bất ngôn gia xú” (Không nói việc xấu trong gia đình ra ngoài); Câu cuối cùng là “Thông tài chi nghĩa” (Phải biết dùng tài vào việc nghĩa).

Tài được chia làm hai loại là nội tài và ngoại tài. Nội tài là dùng sức lực của mình, trí huệ, kinh nghiệm của mình để giúp đỡ người khác. Tục ngữ cũng nói:

2) “Giúp lúc khó, không giúp cái nghèo”

Không chí khí, không học hỏi là nghèo

Không có tiền gọi là nghèo sao? Không phải! Vì họ không có tiền rồi cũng có thể có tiền, chỉ cần họ có chí khí, chỉ cần họ chịu học hỏi. Cho nên, sợ nhất là ngay cả chí khí, ngay cả tâm học hỏi họ cũng không có, đó mới chính là nghèo.

Giúp ngoại tài (tiền, tài sản) phải có trí tuệ

Khi đối phương không có chí khí, không có tâm học hỏi như vậy, nếu quý vị đem tiền đến giúp họ, thì họ càng lúc càng ỷ lại, thậm chí càng lúc càng cảm thấy đó là lẽ đương nhiên. Như thế chúng ta nghĩ là giúp họ nhưng thật ra đã hại họ. Cho nên giúp người khác cũng phải dùng trí huệ, bằng không là sẽ lấy thiện tâm làm việc ác.

Ví dụ nói, họ không có trách nhiệm đối với gia đình, thường đi nhậu nhẹt, rồi đến mượn tiền quý vị. Vậy quý vị có nên cho họ mượn không? Không cho.

Nhưng quý vị cũng không được đuổi họ đi, bởi như vậy sẽ gây kết oán. Quý vị nên mời họ vào nhà ngồi một chút, chỉ cần quý vị rất có nguyên tắc, thì họ sẽ không đụng được tiền của quý vị. Ngồi một chút nhưng cũng phải nói với họ một vài câu đạo lý làm người, thậm chí cho họ một số kinh nghiệm thực tế trong công việc của quý vị, hoặc là kinh nghiệm rèn luyện bản thân. Nói với họ để họ có được những tích lũy trong trí huệ, hoặc là trong năng lực làm việc của mình. Đương nhiên là phải chuẩn bị một quyển Đệ Tử Quy đưa cho họ. Nhưng vì người lớn rất sĩ diện, quý vị không nên nói:

- Anh phải học hết quyển sách này cho tôi, quyển sách này anh chưa học hết.

Quý vị không nên nói như vậy, chúng ta phải khéo dùng phương tiện mà nói. Ví dụ:

- Anh có đứa con trai, con trai của anh rất đáng yêu (tóm lại quý vị cứ lựa lời hay mà nói) quyển sách này mà cho con anh học, thì chắc chắn sau này sẽ rất có triển vọng. Nhưng các bậc Thánh nhân của chúng ta nói, giáo dục là “Thượng sở thi, hạ sở hiệu giả” (Người trên thi hành, cho người dưới bắt chước làm theo)48, chúng ta làm bậc cha mẹ mà, phải làm gương tốt cho con cái thấy.

Quý vị đừng nên nói:

- Anh không phải là tấm gương tốt, đúng không?

Quý vị khuyên họ làm như vậy, tin rằng từng chút từng chút cũng khiến cho họ dần dần chuyển biến quan niệm. Điều này là đến từ sự tin tưởng “Nhân chi sơ tánh bổn thiện” (Con người mới sinh ra bản tính vốn thiện) của chúng ta. Tâm chân thành tâm như vậy, tâm bình đẳng như vậy, chúng ta mới đảm nhiệm được.

Giúp người nội tài – Kinh nghiệm, trí huệ

Ở đây có “Thông tài chi nghĩa”. Chữ tài này không chỉ là tiền tài, mà còn chỉ cho những kinh nghiệm, trí huệ của chúng ta. Đợi đến lúc họ học được những kinh nghiệm, phương pháp, trí huệ này rồi, tin rằng họ cũng có thể tổ chức tốt gia đình của mình. Cho nên, sự giúp đỡ này của chúng ta, không chỉ giúp nhất thời, mà còn giúp cả cuộc đời của họ.

Đây là chúng ta nói đến giữa quan hệ bạn bè, không cần ngôn ngữ nhưng đạo nghĩa, tín nghĩa.

Bốn là: Tổ tông Trung Quốc giúp nội tài qua “Cổ văn”

1- Cổ văn là truyền thừa trí tuệ đời trước cho đời sau

Ngoài những nghĩa vụ trong quan hệ ngũ luân này ra, chúng ta cũng cần hồi tưởng lại, sở dĩ ngày nay chúng ta có lời giáo huấn của Thánh hiền, là từ đâu mà có? Là nhờ mấy ngàn năm mồ hôi nước mắt của các bậc Thánh nhân, trải qua rất nhiều điều gian khổ, mới lưu lại được những trí huệ tinh túy như vậy, tuyệt đối không phải ngẫu nhiên mà có.

Nhiều năm về trước, tôi nghe Thầy của tôi - Hòa thượng Tịnh Không nói về một đoạn đạo lý. Thầy nói “Tứ đại cổ văn minh”49 trên toàn cầu bây giờ chỉ còn lại một nước, đó là nước nào hả các bạn?

Là nước ta!

Đáp án rất chính xác. Có phải lão tổ tông của Tứ đại cổ văn minh này, đều đứng ở trước mặt thần minh, sau đó thần minh nói:

- Các vị đến rút thăm, ai rút được thì không bị diệt vong.

Chẳng ai muốn diệt vong cả. Nhưng rồi lão tổ tông của nước ta rút được, tốt quá rồi nước mình không bị diệt vong, có phải như vậy không? Không phải! Có quả ắt có nhân.

Vì sao các nước cổ văn minh khác diệt rồi, mà nước ta không diệt? Điều này tuyệt đối không phải ngẫu nhiên. Cho nên, Thầy tôi tự thuật một đoạn này, khiến cho tôi tập trung toàn bộ lực chú ý, bởi vì chưa bao giờ tôi nghĩ đến vấn đề này. Thầy lại nói tiếp:

- Vì các bậc tổ tông biết quá nhiều về cuộc đời. Ví dụ nói “Nhân sanh thất thập cổ lai hy” (Người thọ 70 xưa nay hiếm), cho nên rất nhiều người sống đến 40 tuổi, 50 tuổi, đột nhiên quay đầu lại xem con đường mà mấy mươi năm mình đã đi qua, họ sẽ có cảm xúc, họ nói: “Nếu như cuộc đời tôi được quay trở lại một lần, nhất định tôi không phạm nhiều sai lầm như vậy”. Nếu như cuộc đời này đâu đâu cũng có sự hối tiếc như vậy, thì không viên mãn rồi.

Thầy nói tiếp:

- Cho nên tổ tông của chúng ta biết rằng, nếu như không truyền thừa trí huệ lại cho con cháu thì cuộc đời của con người có thể phải bắt đầu tìm lại từ đầu. Vì con cháu đời sau của họ, thậm chí bởi yêu thương tất cả nhân loại, mà các ngài hy vọng có thể đem trí huệ mấy ngàn năm, truyền thừa lại cho chúng ta. Vì thế các ngài đã phát minh một công cụ truyền thừa trí huệ, gọi là “Cổ văn”.

Thầy nói tiếp:

- Một người làm được một việc lớn lao, nhất định là bắt đầu từ tâm niệm đó. Cho nên, nếu có tấm lòng từ ái này thì sẽ có phương pháp tốt. Phương pháp thế nào? Các bậc tổ tông của chúng ta quan sát được, nếu như ngôn ngữ và văn tự không phân khai thì không thể truyền lại được50.

Ví dụ nói, chúng ta suy nghĩ một chút, nước La Mã có lưu lại văn tự hay không? Có. La Mã còn lưu lại rất nhiều văn chương. Bây giờ ai đọc được? Các nhà lịch sử học chưa chắc đọc đã hiểu. Nhà khảo cổ học cũng vậy. Lưu vực con sông này có lưu lại văn tự không? Có. Bây giờ chẳng mấy người đọc được, ngay cả chữ cũng không đọc được, thì không thể hiểu được ý nghĩa trong đó.

Tôi đã từng trò chuyện với một người bạn, anh ta nói rằng anh đã xa quê hương hai mươi mấy năm, khi trở về, nói chuyện với những người thân, có rất nhiều từ anh không hiểu, hoặc là họ không hiểu anh nói gì.

Cho nên, sau ngôn ngữ 20 năm này đã có chút thay đổi, huống gì 2000 năm thì thay đổi quá nhiều rồi. Ví dụ văn viết và văn nói hoàn toàn không giống nhau, vậy người ở 2000 năm về trước viết văn, quý vị hiểu được sao? Chắc chắn quý vị không thể hiểu được rồi.

Biết được điều này, tất cả những người viết văn đều không dùng ngôn ngữ lúc đó, vậy họ dùng ngôn ngữ gì? Là “Cổ văn”. Cho nên mấy ngàn năm, tất cả văn chương trí huệ, đều dùng cổ văn viết ra. Khi chúng ta hiểu được cổ văn, thì chúng ta có thể trực tiếp làm đệ tử của Khổng Tử 2000 năm trước rồi, cũng có thể làm đệ tử của Mạnh Tử nữa chứ. Cổ văn là siêu việt thời gian không gian, là học tập trí huệ của Thánh hiền.

Các bậc tổ tông của chúng ta cho con cháu đời sau của họ một ân đức lớn nhất, chính là cổ vănii.

2- Tiếp nối tuyệt học Thánh hiền phải học cổ văn

Khi tôi nghe đến đây, trong lòng cảm thấy rất xấu hổ, bởi vì ngữ văn của tôi không tốt. Khi tôi học cấp ba, thường đến tiết cổ văn là lúc nào cũng ngủ gục.

Nghe xong những lời này của Thầy, đột nhiên cảm thấy các bậc tổ tông đã dùng sinh mạng của họ để thành tựu chúng ta, mà chúng ta lại vứt nó ở đâu? Vứt vào trong thùng rác. Nên lúc đó nước mắt tôi liền chảy ra, đây là nước mắt xấu hổ. Bình thường bạn bè giúp chúng ta bưng ly trà, thì chúng ta rối rít cảm ơn họ, nhưng các bậc tổ tông đã mấy ngàn năm, dùng sinh mạng của mình để thành tựu đàn hậu thế chúng ta, nhưng chúng ta không thấy được.

Cho nên, lúc đó tôi khởi lên một ý niệm, là nhất định phải cố gắng học tập cổ văn, cố gắng học tập kinh điển của Thánh hiền.

1) Chân thực phát tâm, học cổ văn không khó

Sau đó tôi mới bắt đầu mở Đệ Tử Quy, mới bắt đầu mở Luận Ngữ ra, đột nhiên cảm nhận được, dường như nó không quá khó như trước đây, đột nhiên cảm giác như tôi với nó khoảng cách như thế nào? Xích lại gần, đọc câu nào thì thích câu đó, sao mà nghĩ xa như vậy? Nhìn xa trông rộng. Vì sao trước đây cảm thấy rất khó? Vì sao khi rơi nước mắt rồi lại thấy nó không khó nữa? Từ sự việc này, tôi cũng cảm nhận được một câu nhắc nhở: “Tất cả pháp từ tâm tưởng sanh”.

Các bạn! Chướng ngại nằm ở đâu? Ở tâm chúng ta, khi mình cảm thấy rất khó, thì nó rất khó, khi quý vị buông bỏ những chướng ngại này đi, thì nó không còn khó nữa. Xác thực, khi tâm niệm của chúng ta sám hối rồi, thì tâm niệm đó sẽ thật sự khởi lên sứ mệnh, nó rất tương ưng với những kinh điển này. Cho nên các bạn! Tôi có thể học tốt cổ văn, thì nhất định quý vị sẽ học tốt hơn tôi nữa.

2) Học Cổ văn chỉ cần kiên trì, bền bỉ

Phương pháp học Cổ văn rất đơn giản. Thầy Lý Bỉnh Nam đã từng nói, chỉ cần quý vị thuộc được 50 bài cổ văn, thì có thể đọc cổ văn rồi. Nếu quý vị thuộc được 100 bài cổ văn, thì quý vị có thể viết được cổ văn. 50 bài có khó không? Không khó.

Đệ Tử Quy đã là mấy bài rồi? Không nhiều như vậy đâu. Đệ Tử Quy chúng tôi đếm chỉ 6 bài: Nhập Tắc Hiếu, Xuất Tắc Đệ, Cẩn, Tín, Phiếm Ái Chúng, Thân Nhân thì ngắn hơn.

Với lực học văn dư thừa của quý vị, quý vị phải đọc 18 chương Hiếu Kinh. Kỳ thực đọc 50 bài Cổ văn không khó, 100 bài cũng không khó, quan trọng nhất là ở chỗ bền lòng, “Khoan vi hạn, khẩn dụng công, công phu đáo, trệ tắc thông” (Thời gian ít, cần chăm chỉ; Công phu đủ, đọc liền thông). Cho nên, một tuần lễ chúng ta thuộc được 300 chữ là được rồi, 300 chữ thì không nhiều lắm. Đệ Tử Quy là 1080 chữ, mỗi tuần chúng ta thuộc 300 chữ, như vậy trong một năm thuộc được bao nhiêu chữ? Hơn một vạn chữ, vậy là thực lực quá hùng hậu rồi.

Cho nên xác thực, sự thành tựu đều ở chỗ kiên trì, bền bỉ. Chỉ cần kiên trì được một, hai tháng, bảo đảm quý vị càng học càng hoan hỷ. Bởi vì nghĩa lý của Cổ văn vô cùng sâu rộng, mỗi lần quý vị đọc thì sự hiểu biết cũng đã khác đi một chút. Tùy theo thực tiễn của chúng ta, tùy theo trí huệ của chúng ta, có thể càng lúc cảm nhận càng sâu rộng.

3- “Truyền thừa” đạo Thánh hiền bắt đầu tư tu thân

Cho nên, hôm nay chúng ta làm con cháu của Viêm Hoàng, chúng ta có tín nghĩa, có đạo nghĩa thì phải đem trí huệ truyền thừa lại.

Muốn “truyền” (dạy lại) trước tiên phải như thế nào? Phải “thừa” (kế tục), gọi là “Tiếp nối người trước, mở mang cho đời sau”, không có thừa thì không thể truyền được; Không có thừa thì sẽ truyền sai.

Cho nên, chúng ta đã có sứ mệnh này, thì phải cố gắng làm từ bản thân. Nhiều bạn nói rằng:

- Thầy Thái à! Phải giống như thầy mới làm được.

Câu nói này kỳ thật đây là do phân biệt.

Đại Học cho chúng ta lời nhắc nhở rằng:

Điều mong muốn của người xưa là làm tỏ đức sáng trong thiên hạ, do vậy:



  1. Trước tiên họ phải lo liệu, sắp xếp nước mình (trị quốc);

  2. Muốn trị quốc, trước hết phải sửa sang, sắp đặt nhà mình (tề gia);

  3. Muốn tề gia, trước hết phải hàm dưỡng và rèn luyện bản thân (tu thân);

  4. Muốn tu thân, trước hết phải giữ cho lòng mình ngay thẳng (chánh tâm);

  5. Muốn chánh tâm, trước hết phải chân thật với điều mình nghĩ (thành ý);

  6. Muốn thành ý, trước hết phải suy xét đến cùng những điều mình biết (trí tri);

  7. Muốn trí tri, mà sự hiểu biết cặn kẽ nằm ở chỗ nghiên cứu, xem xét sự vật đến cùng (cách vật) 51.

Đây đã chỉ ra toàn bộ phương pháp tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Có quy định ngành nghề nào mới được làm không? Không có. Mọi ngành nghề, mọi lứa tuổi đều có thể làm được. Cho nên trước hết phải làm từ “Cách vật, chí tri”.

1) Tu thân bắt đầu từ “Cách vật, Trí tri”

Cách vật” là cách trừ vật dục, tức là trừ bỏ những thói quen xấu. Bây giờ phải có thể làm được

2) Bước tiếp “Thành ý, Chánh tâm”

Khi dục vọng của chúng ta nhẹ đi rồi, tâm chí sáng suốt, thì tự nhiên “Tâm thành, Ý chánh”.

Bắt đầu sửa đổi từ ngôn ngữ hành vi của chính mình. Khi chúng ta sửa đổi, thì gia đình chúng ta sẽ thay đổi, nơi làm việc của cũng sẽ thay đổi. Như thế quý vị mới xứng đáng là học trò của Khổng Tử. Giáo dục của các bậc Thánh hiền rất hay. Vì vậy mỗi người ở trong thời đại lớn này, đều có thể làm tròn trách nhiệm của con cháu Viêm Hoàng.

Từ quan hệ ngũ luân, chúng ta tìm được góc độ của nhân sanh, định vị của nhân sanh. Khi đôi chân của chúng ta đứng vững, thì tự nhiên có thể bước đi vững vàng, để cho con người từng bước, từng bước đi thật vững chãi, thật có giá trị.

Chúng ta xem tiếp, cùng nhau đọc qua một lượt nhé:


II. NỘI DUNG CHƯƠNG



CHÁNH VĂN 18:




Phàm xuất ngôn, tín vi tiên;







Trá dữ vọng, hề khả yên.




Thoại thuyết đa, bất như thiểu;




Duy kỳ thị, vật nịch xảo.




Gian xảo ngữ, uế ô từ,




Thị tỉnh khí, thiết giới chi.


DỊCH NGHĨA:

Phàm nói ra, tín trước tiên;







Không lừa gạt, không nói dối.




Nói nhiều lời, không bằng ít;




Phải nói thật, chớ xảo nịnh.




Lời gian xảo, từ bẩn thỉu,




Tập khí xấu, phải trừ bỏ.

18-1. “Phàm xuất ngôn, tín vi tiên” (Phàm nói ra, tín trước tiên)


Chúng ta phải nói lời đáng tin, muốn vậy đối với mỗi lời nói của mình đã phát ra thì tuyệt đối phải giữ trong lòng, phải thực hành, phải thực hiện.
1. Giữ chữ tín ngay từ ý niệm khởi
Thứ nhất: Chuyện Quý Trát giữ chữ tín từ ý niệm

Ở thời đại Xuân Thu có một người tên là Quý Trát. Lần nọ vua phái ông ta đi sứ sang nước Lỗ, trên đường đi, Quý Trát phải đi qua nước Từ. Ở thời đại Xuân Thu có rất nhiều nước, gọi là 800 chư hầu. Cho nên, trong quá trình đi cũng phải đi qua những nước này.

Đến nước Từ, vua nước Từ mời ông ăn cơm, mở tiệc chiêu đãi ông. Khi ngồi xuống ăn cơm, vua nước Từ từ đầu đến cuối đều không nhìn mặt ông, mà chỉ nhìn chằm chằm vào thanh bảo kiếm mang trên người của ông. Vì thanh bảo kiếm đó rất đẹp, cho nên vua nước Từ không giấu được sự ưa chuộng thanh bảo kiếm đó của mình.

Trong lòng Quý Trát liền nghĩ rằng: “Ông vua này có vẻ rất thích thanh bảo kiếm của mình”. Nhưng trước đây bảo kiếm được tượng trưng cho điều gì? Tượng trưng cho địa vị. Cho nên, đi sứ qua các nước khác, lễ nghi bắt buộc là phải mang thanh kiếm này. Vì thế lúc này ông không thể tặng cho vua được. Ông nghĩ “Phải đợi đến khi hoàn thành nhiệm vụ ta sẽ tặng lại cho vua”. Trong tâm Quý Trát liền khởi lên ý niệm như vậy.

Sau khi đi sứ sang nước Lỗ thuận lợi rồi, trở về lại đi qua nước Từ, ông ta liền đến thăm vua nước Từ, định rồi sẽ lấy bảo kiếm tặng cho vua. Nhưng điều không may đã xảy ra, trong khoảng thời gian này vua nước Từ đã qua đời. Sau khi Quý Trát biết được chuyện này, liền đến trước mộ phần của vua, tế bái vua. Tế bái xong, ông liền đem thanh bảo kiếm treo lên cây ở bên phần mộ, rồi đi. Đám tùy tùng thấy vậy gọi ông ta lại:

- Chủ nhân à! Người làm như vậy có quá lắm không? Vì Người chưa từng đích thân hứa tặng cho vua nước Từ thanh bảo kiếm này. Vả lại dù Người có hứa với ông ấy, thì ông ấy cũng đã chết rồi.

Quý Trát liền nói với đám thuộc hạ của ông rằng:

- Tâm của ta đã hứa tặng cho ông ấy từ lâu rồi, sao có thể vì ông ta chết rồi mà ta làm trái với tâm của mình?

Ông nói một câu rất cảm động: “Thỉ ngô tâm dĩ hứa chi, khởi dĩ tử bội ngô tâm tai”. Nghĩa là: Tâm ta đã hứa, sao có thể dùng cái chết của họ để phản bội với lương tâm ta, làm trái với lời hứa của ta được.

Cho nên, chữ tín của người xưa không chỉ ở trên ngôn ngữ, mà ngay cả trong ý niệm họ cũng không muốn làm trái. Không muốn làm trái người khác, họ cũng không muốn làm trái với lương tâm của chính mình. Thấy tấm gương người xưa như vậy, chúng ta phải cố gắng học tập theo họ.

Thứ hai: Cô Dương giữ tín từ tâm của chính mình

Năm ngoái, tôi ở nhà cô Dương nửa năm. Buổi sáng nọ, cô nói rằng, hôm qua cô nằm mộng, mộng thấy có một cái hầm rất sâu, hầm đó như thế nào? Là một màn đen kịt. Cô đi vào trong đó thấy có rất nhiều tủ sách, mở tủ sách đó ra, trên mỗi quyển sách là một lớp bụi dày, phủi phủi lớp bụi đó đi, cô xem thì thấy đó là “Tứ Thư, Ngũ Kinh”52, iii. Cô Dương nằm mơ như vậy, cô liền khởi lên một ý niệm, suốt cuộc đời này nhất định phải dốc hết tâm lực hoằng truyền văn hóa. Vì có ý niệm như vậy, nên cô không muốn làm trái với ý niệm này. Sau này đó có cơ hội đến Hải Khẩu phát triển, cô dẫn tôi đi cùng. Rồi lên Sơn Đông Khúc Phụ càng cảm nhận được nền văn hóa đã thoái thất quá nghiêm trọng. Cho nên, ở Bắc Kinh, cô thành lập trang web Đại Phương Quảng Văn Hóa Công Ích.

Chữ “tín” mà cô giữ không phải là giấy trắng mực đen, cũng không phải ngôn ngữ đối với bất cứ người nào, mà là ở tâm của chính mình, ở lời hứa của chính mình. Những quyển sách dính nhiều bụi bặm này, phải nhờ vào mỗi đứa cháu như chúng ta, dùng TÂM chân thành phủi sạch sẽ. Không những phủi sạch, mà còn cần điều gì? Phải mở ra đọc. Rồi sao nữa? Phải cố gắng thực hành. Không phải chỉ đọc mà cần phải thực hành nữa.

Một là: Ai là người phế bỏ Cổ văn?

Người học không hành

Chúng ta hồi tưởng lại một chút, ban đầu Cổ văn bị phế bỏ, nguyên nhân là do không có ai học cổ văn hay sao? Có đúng vậy không? Không đúng. Trái lại mà là do những người học nhiều cổ văn lại phế bỏ nó, là nguyên nhân gì?

Đệ Tử Quy nói: “Bất lực hành, đản học văn. Trưởng phù hoa, thành hà nhân” (Không thực hành, chỉ học văn; Tăng hình thức, thành người gì?).

Những thạc sĩ Trung văn, tiến sĩ Trung văn chỉ đem lại “Tăng trưởng phù hoa” (Chỉ tăng trưởng bề ngoài), đem lại danh hư, lợi dưỡng cho họ. Khi họ không có thực chất thì họ hiểu những đạo lý đó chính là “không” (không có thực), là “hư” (trống rỗng). Lâu ngày như vậy thì ngôn ngữ và hành vi của họ càng hành càng xa. Khi họ đi dạy văn hóa Trung Quốc, thì những người nhận sự giáo dục này trong tâm của họ có cảm thọ như thế nào? Là nói một đường làm một nẻo. Đây không phải là hoằng dương văn hóa, mà là gì? Là hủy báng văn hóa? Nên đọc sách nhiều chưa hẳn có ích. Cho nên thực sự Cổ văn gặp phải sự trắc trở như vậy, vấn đề không phải ở chỗ những người phế bỏ cổ văn. Những người phế bỏ đó chỉ là tia dẫn lửa. Vậy nguyên nhân chính là ở đâu? Chúng ta phải tìm cho ra nguyên nhân chính, không nên đẩy trách nhiệm ra ngoài. Nguyên nhân chính là ở chỗ, người đọc sách không thực hiện, lời nói không đi đôi với việc làm.

Hai là: Ai truyền thừa Cổ văn?

1- Người hành theo giáo huấn Thánh hiền

Ví dụ nếu những người đọc sách có thể thực hành được Đại Học, Trung Dung và Đệ Tử Quy, thì những người tiếp xúc với họ có muốn hủy bỏ văn hóa này không? Không thể có! Thậm chí họ sẽ noi theo quý vị.



Cho nên, chúng ta thấy mấy ngàn năm, những người tuân theo lời giáo huấn của Thánh hiền này, đều được vạn dân ủng hộ yêu mến.

2- Tấm gương “Hải Thụy”

Như ở Hải Khẩu vào triều đại nhà Minh xuất hiện một danh thần tên là Hải Thụy. Chúng ta đều đã nghe qua “Hải Thụy bãi quan”53-iv.

Tôi đến một khu vực nào, cũng rất thích đi thăm viếng những danh nhân nơi đó, những người được lưu danh trong sử sách. Bởi vì họ đều dùng tâm của mình viết lại lịch sử, đều dùng tâm của mình phụng hiến cho quốc gia xã hội, nên chúng ta có thể “Kiến nhân thiện, tức tư tề” (Thấy người thiện, ta học theo). Cũng có thể hiểu được họ ở trong khu vực này có sự ảnh hưởng ngấm ngầm. Cho nên chúng tôi vào đến mộ của Hải Thụy, nhìn thấy hai hàng chữ vô cùng chấn động: “Phấn thân toái cốt toàn bất nguyện, chỉ lưu thanh bạch tại nhân gian” (Thịt nát xương tan nào có sợ; Cốt lưu thanh bạch tại nhân gian)54.

Các bạn! Từ hai câu nói này, quý vị có thể cảm nhận được ông ta là người đức hạnh như thế nào không? Vô cùng thanh liêm. Cho nên, khi tôi thấy được khí tiết của Hải Thụy như vậy, lại xem lời giới thiệu về cuộc đời của ông, xem rồi rất cảm động. Vì chỉ cần Hải Thụy đến một địa phương nào đó làm quan, thì tất cả tham quan ô lại và ác bá cường hào, mặc dù ông chưa xuất hiện nhưng những người này đều nhanh chóng “Chuồn là thượng sách”. Vì họ biết Hải Thụy là người ngay thẳng chính chính trực. Cho nên, chỉ cần ông đến địa phương nào, thì nhân dân ở đó đều khắp chốn mừng vui.

Vì thế một người thật sự thực hiện được lời dạy của Thánh hiền, thì họ có bị phản đối không? Không thể có chuyện này. Khi Hải Thụy nhận chức tại Nam Kinh, và qua đời ở đó. Sau khi ông qua đời, người xưa chú trọng lá rụng về cội, nên đưa Hải Thụy từ Nam Kinh về Hải Nam. Ở Nam Kinh khi linh cữu bắt đầu di chuyển, tất cả mọi người đều mặc hiếu phục, như cha mẹ qua đời, bi thương giống như mất đi cha mẹ vậy.

Từ đây ta thấy được “Đắc đạo giả đa trợ”55 (Giữ được đạo thì nhiều người hỗ trợ), người nỗ lực thực hành chánh đạo, nhất định thu phục được lòng người.

Cho nên, vì sao văn hóa cổ văn của chúng ta bị phá hủy, không nên trách người khác, mà trách tất cả những người đọc sách Thánh hiền chúng ta, không diễn tốt nó.

Vì vậy, chỉ cần bây giờ chúng ta học một câu làm được một câu, tin rằng nhất định có thể xoay chuyển được sự hiểu lầm về văn hóa của người đời, tiến thêm một bước, họ còn có thể thực hiện, học tập làm theo.

Khi trong tâm của chúng ta khởi lên ý niệm, phải giúp gia đình, phải giúp xã hội, phải giúp tổ tông, thì chúng ta phải tuân thủ lời hứa của mình.


2. Tín ngôn - Nói được thì phải làm được
Thứ nhất: Giữ chữ tín nơi thương trường

56Nói đến vấn đề của chữ tín này, chúng ta nghĩ trên thương trường nên cần giữ chữ tín hay không? Rất cần. Nhất định phải buôn bán công bằng. Nhưng cũng có người nhận định rằng “Vô gian bất thành thương” (Kẻ làm ăn buôn bán mà không gian trá, xảo quyệt thì làm sao kiếm lời).

Trong thương nghiệp, chúng tôi cũng có gặp một số phụ huynh hỏi rằng:

- Thầy dạy con tôi thành tín như vậy, nếu sau này nó đến với thương nghiệp thì làm sao?

Chúng tôi nói với anh ta:

- Con trai anh sau này chắc chắn làm ông chủ, vì nếu không ai giữ được chữ tín, mà chỉ có nó giữ được, vậy thì người ta thích buôn bán với ai hơn? Đương nhiên là thích buôn bán với người giữ chữ tín rồi.

Cho nên câu “Vô gian bất thành thương” (Kẻ làm ăn buôn bán mà không gian trá, xảo quyệt thì làm sao kiếm lời) là không đúng. Vì họ có thể dối được một lần, nhưng không thể dối lần thứ hai, họ không thể dối người ta mãi được. Gọi là “Nhật cửu kiến nhân tâm” (Lâu ngày chày tháng, rõ lòng người)57. Hơn nữa khi họ dùng tâm gian xảo, dùng một số thủ đoạn, thì mặc dù họ dối gạt được trong việc buôn bán, nhưng kỳ thật họ đã làm hao tổn phước phần của chính mình. Vậy mà họ còn khoe khoang tự đắc rằng:

- Các người thấy đó, tôi kiếm được rất nhiều tiền.

Kỳ thật thì số tiền đó đều đã sẵn có trong vận mệnh của họ rồi, nên trước sau gì họ cũng có nó. Nhưng vì họ đã dùng sai phương pháp, nên làm hao tổn phước phần vốn có của chính mình. Đây là “Tiểu nhân oan uổng làm tiểu nhân”58.


Thứ hai: Giữ chữ tín với mọi đối tượng, thành phần

59Tuy nhiên, không phải chỉ làm nghề buôn bán mới buôn bán mới phải công bằng, mà là đối đãi với tất cả mọi người chỉ cần nói được làm được, bằng không thì quý vị trước phải suy nghĩ kỹ càng rồi hãy đồng ý, gọi là “Sự phi nghi, vật khinh nặc; Cẩu khinh nặc, tiến thoái thố” (Việc không hợp, chớ xem thường, mà nhận lời; Vội nhận lời, làm hoặc không, cũng đều sai). Phải suy nghĩ rõ ràng, khi đã đồng ý rồi thì không được hối hận.

Thái thú Quách Cấp thời Hán giữ lời với trẻ nhỏ

Thời nhà Hán có một vị thái thú tên là Quách Cấp. Một hôm, ông đi qua khu vực quản lý của ông, đến địa phương có rất nhiều đứa nhỏ, những đứa nhỏ khoảng mười mấy tuối này vây quanh chào ông, những đứa nhỏ ngây ngô nói:

- Thái thú! Lần sau, khi nào ông mới đến đây?

Quách Cấp cũng rất kính trọng những đứa nhỏ này, nên những lời chúng hỏi ông cũng không thờ ơ. Cho nên ông bắt đầu đếm, có lẽ ngày nào đó trong vài tháng sau ông đến tuần tra ở đây, nên nói với chúng ngày đó ông sẽ đến. Cuối cùng, những đứa nhỏ này tiễn ông xong rồi ai về nhà nấy.

Lần sau ông đến tuần tra ở địa phương này, nhưng lại đến sớm hơn ông nói một ngày. Tùy tùng của ông định đi vào địa phương rất tự nhiên, ông liền nói:

- Không được, ta đã hẹn trước với những đứa nhỏ rồi, nên hôm nay ta ở ngoài thành một đêm, đợi đến đúng hẹn, ta mới vào làng.

Quả đúng như dự đoán, những đứa nhỏ này cũng ở đó đợi ông.

Hán Quang Vũ Đế rất tôn kính Quách Cấp, còn khen ngợi ông là “Hiền lương thái thú tín chi chí” (Thái thú hiền lương đạt đến chữ tín tột đỉnh). Chữ tín của ông đã đến tột đỉnh, không chỗ sai sót. Sau này Quách Cấp sống đến 86 tuổi, rồi không bệnh mà chết.

Đối với chữ tín chúng ta cũng không nên phân biệt tuổi tác, thậm chí không phân biệt già trẻ, giàu nghèo, đối với bất cứ ngành nghề nào, chúng ta cũng không khinh mạn, đều giữ đúng lời hứa của mình.


18-2. “Trá dữ vọng, hề khả yên” (Không lừa gạt, không nói dối)


Nghĩa là chúng ta không giữ chữ tín, còn vịn cớ này nọ để che đậy cho việc thất tín của mình.
1. Không dối trá, thêu dệt che đậy sự thất tín

“Trá” là lừa dối; “Vọng” là dùng lời thêu dệt để che đậy sự thất tín của mình.

Làm như vậy có thể tạo thành “Thảng yểm sức, tăng nhất cô” (Nếu che giấu, tội tăng thêm). Đến khi mọi người hiểu được quý vị không muốn thừa nhận sự thất tín của mình thì danh xưng của quý vị có thể càng ngày càng kém. Đương nhiên, tai họa không thể ngờ trước được, họa phước có thể đến trong sớm tối.


2. Nếu không thể giữ được lời hứa thì nên thành thật

Rất có thể quý vị cũng muốn giữ chữ tín, nhưng trong cuộc sống xuất hiện những vấn đề, khiến quý vị không thực hiện được lời hứa, lúc này chúng ta phải làm sao?

Chuyện thế gian, một chữ có thể giải quyết, đó là chữ ‘thành’, chúng ta thành khẩn công bố. Vì nếu họ thật sự hiểu được tình trạng của quý vị, lại hiểu được thành ý của quý vị, họ cũng sẽ lùi một bước. Vì có ép quý vị như thế nào đi nữa, thì cũng không ra sao? Cũng không ích lợi gì.

Nhưng nếu như quý vị tiếp tục che đậy, thì họ càng lúc càng phẫn nộ, càng lúc càng không vui, đến lúc đó thì quý vị rất khó giải quyết. Cho nên, hứa với người khác, tuyệt đối không thể kéo dài, càng kéo dài càng khó giải quyết.

Tôi có một người bạn, người thân của anh nợ nần rất nhiều, anh ta đành đi trả nợ hộ cho người thân. Nhưng anh rất hồi hộp, sợ đối phương có thái độ không tốt với mình. Sau đó, bạn của anh ta khuyên rằng:

- Anh nên thành thật nói chuyện với họ, “Tôi thì như vậy, bây giờ quý vị làm những chuyện như báo thù ác liệt, thì quý vị không lợi ích gì, tôi cũng không lợi ích gì. Bây giờ tôi thành khẩn đến trả tiền cho quý vị, một tháng tôi trả cho quý vị bao nhiêu”, anh nên chân thành nói với họ.

Sau đó kết quả cũng rất suôn sẻ. Cho nên, phương pháp xử sự làm người của thế gian, chúng ta không nên nghĩ về nó quá phức tạp, mà nên dùng thành tín để đối đãi. Câu tiếp theo:


18-3. “Thoại thuyết đa, bất như thiểu” (Nói nhiều lời, không bằng ít)

1. Nói nhiều, sai nhiều

Đừng nên nói thao thao bất tuyệt, vì khi quý vị thao thao bất tuyệt, có rất nhiều lời không kịp suy nghĩ rõ ràng, thì sẽ như thế nào? Một khi nói ra rồi thì không thể lấy lại được.

Cho nên Khổng Tử mới nói: “Tam tư nhi hậu hành, tam tư nhi hậu ngôn” (Làm việc gì cũng nghĩ đi xét lại ba lần rồi mới làm, nói việc gì cũng phải suy xét ba lần rồi mới nói) vì thế ngôn ngữ cũng phải cẩn thận.

Trong Kinh Dịch có nói đến “Cát nhân chi từ quả, táo nhân chi từ da (Người tốt thì ít lời, người nóng nảy thì nhiều lời)”60. Người hiền lành thì lời nói như thế nào? Nói ít. Người nóng nảy lại nói rất nhiều.

Quý vị thấy một người thao thao bất tuyệt, thì tâm của họ có an không? Không an, rất nóng nảy, không có tính an toàn. Khi một người ở trong tâm cảnh như vậy, thì rất dễ nói bậy, rất dễ có lỗi với người khác.

Tục ngữ có câu “Họa bất đơn hành”61 (Họa không đi đơn lẻ), đó đều là tâm của quý vị loạn, tâm không có chủ tể, mới phạm lỗi hết lần này đến lần khác.


2. Nói ít, tâm ôn hòa

Cho nên, tâm phải lắng xuống, khi nói ít tâm sẽ ôn hòa hơn. Tâm con người đã ôn hòa thì đối với hoàn cảnh sống, đối những sự việc phát sanh, đều có thể quan sát, quán chiếu được rõ ràng minh bạch, nên không dễ phạm sai lầm được.

Các bạn! Không nên học xong đoạn này rồi, về nhà lại không nói chuyện nhé. Khi cần nói thì phải nói.

Tôi từ nhỏ rất nhiệt tâm, cộng thêm hai chữ nữa là “Quá mức’. Cho nên khi thấy người khác không siêng năng học hành, thì tôi nói rè rè bên lỗ tai của người đó. Họ nghe tôi nói, đầu họ sắp xây xẩm rồi, mà tôi không biết để dừng cho đúng lúc. Khi tôi học cấp ba, rất nhiều bạn học đều có bạn gái, tôi thì không có bạn gái. Vì sao vậy? Vì những bạn học đó của tôi đều ít nói chuyện, cộng thêm gương mặt của họ rất bảnh trai. Rất bảnh trai hình như rất dễ kết được bạn gái? Cho nên, tôi cũng bắt đầu học cách giả bảnh trai và cũng không nói chuyện. Không nói chuyện một ngày, tôi muốn phải kiên trì một thời gian, nhưng chỉ kiên trì được một ngày, tôi nói:

- Thôi được rồi, cứ là con người thật của mình thì tốt hơn.


3. Khi cần vẫn phải nói hết lòng

Khi người khác thật sự cần chúng ta, nhất định ta phải tận tâm tận lực hướng dẫn cho họ, khuyên bảo họ, nhưng khi thời cơ chưa thành thục, thì đừng nên nói quá nhiều, có thể khiến cho người khác phiền não.
Thứ nhất: Quán sát đối phương có tiếp nhận

Cho nên, giữa hai bên tiến thoái này, nhân duyên thành thục hay không, cũng không thể dùng lời nói mà nói rõ được, cần phải tự mình tích lũy kinh nghiệm. Có thể dùng phương pháp của Mạnh Tử Phu Tử, tên là “Quán kỳ mâu tử” (Quán sát ánh mắt). Ví dụ như quý vị nói với họ rằng:

- Đệ Tử Quy rất quan trọng.

Sau đó có thể nêu lên một câu:

- “Trí quán phục, hữu định vị” (Mũ quần áo, để cố định), điều này có liên quan trực tiếp đối với năng lực làm việc của con cái anh.

Nếu khi quý vị nói như vậy, mắt của anh ta lập tức phát quang, sáng lên, vậy quý vị có cần nói:

- Được rồi, hôm nay nói 5 phút là được rồi, tôi phải về đây.

Như vậy có được không? Như vậy là không tùy duyên. Khi nhân duyên thành thục, chúng ta làm sẽ rất suôn sẻ.

Nhưng khi quý vị nói với một người khác nữa, chỉ nói 5 phút, mà mắt của họ đờ đẫn ra, quý vị có cần nói hai tiếng đồng hồ không? Có cần không? Nếu vậy thì quá phan duyên rồi.

Cho nên, lúc nào cũng quan sát trạng thái của nhân duyên. Nhân duyên là trạng thái động chứ không phải trạng thái tịnh, vì chúng ta học kinh văn thường đều là học thành trạng thái tịnh, vậy là học thành ngốc rồi.

Thứ hai: Lời nói phải lợi ích cho người

Nói nhiều không bằng nói ít, nhưng nói ra một câu thì nhất định phải là lời nói tốt, có thể lợi ích cho người khác. Gọi là nói lời lợi ích, nói lời hòa nhã, khiến cho người nghe cảm thấy dễ chịu. Phải nói lời thành thật, phải nói lời trí huệ thành tựu người khác.
Thứ ba: Lời nói không tạo ra phân tranh, bất hòa

Có một lần tôi tiếp điện thoại của một cô bạn, lúc nghe điện thoại, tôi nghe cô ấy khóc lóc kể về chồng của cô, rằng là anh ta có rất nhiều điều sai, cô liệt kê ra từng tội từng tội của chồng. Đợi cô ấy nói xong, tâm tư của cô đã lắng dịu một chút, tôi mới nói với cô:

- Cô đã có con rồi, thì nên cố gắng xây dựng gia đình cho tốt. Trong cuộc sống gia đình, phải nắm giữ một thái độ “Tất cả mọi người làm như thế nào thì đó là việc của họ, trước hết cô phải nhìn lại mình, họ đúng hay không là chuyện của họ, mình đúng hay không mới là điều quan trọng nhất”.

Tôi nói tiếp:

- Cho nên, trước tiên cô không nên nhìn lỗi của chồng, mà phải nhìn mình, xem mình làm vợ đã tốt chưa? Mình làm mẹ đã tốt chưa? Mình làm dâu đã hết lòng chưa? Nếu như bản thân không làm tốt những điều này mà nói người khác, thì cũng chỉ là kiến thức thông thường như những người khác, ta làm gì có tư cách ở đó mà la mắng họ? Chẳng phải chúng ta cũng giống họ đó sao? Mắng họ tức là mắng chính mình rồi. Đúng vậy không nào? Cô la họ là bởi họ không làm hết trách nhiệm, nhưng chúng ta cũng như vậy mà.

Tôi lại nói:

- Khi một người trước có thể kiểm điểm được chính mình, thì tâm được lắng dịu rất nhiều. Do tâm được lắng dịu, do có trách nhiệm, từ từ sẽ khiến cho chồng sanh khởi tâm xấu hổ. Con người bây giờ, rất nhiều tình huống gia đình càng lúc càng phức tạp, càng lúc càng nghiêm trọng. Thường gặp phải tình trạng hành động theo cảm tính “Họ đã như vậy thì tôi cũng dám”, cũng dùng loại báo thù đó, nên gia đình tan nát, con cái cũng bị vạ lây. Cho nên, chúng ta phải dùng lý trí để xử sự.

Khi tôi nói xong, cô bạn của tôi liền nói:

- Thầy Thái à! Trước khi gọi điện cho thầy, tôi đã gọi điện cho rất nhiều bạn bè, gọi điện cho những đồng nghiệp của tôi, cũng gọi điện cho các bạn gái, nhưng đáp án của họ không giống thầy, họ đều nói: “Thời kỳ phi thường thì phải dùng thủ đoạn phi thường”.

Những bạn của cô ấy, họ không hiểu được điều mà người xưa nói “Thà đập mười cây cầu, không phá một hôn sự”. Cầu gãy rồi cũng còn làm lại được, hôn nhân tan vỡ rồi, kính vỡ rồi thì như thế nào? Tất khó lắp lại cho tròn, những mảnh vỡ không thể ghép lại được. Cho nên, nói năng phải cẩn thận. Giả dụ lúc đó nếu quý vị kiến nghị với họ rằng “Người đàn ông như vậy bỏ đi, ly hôn đi”. Đến lúc họ hành động theo cảm tính ly hôn, sau đó lại hối hận, năm lần bảy lượt gọi điện đến nói rằng:

- Tất cả là do cô hại tôi.

Tôi nghĩ suốt cuộc đời quý vị, sẽ cảm thấy rất đau khổ. Lại còn con của cô ta nữa, con của cô ta cũng nói:

- Tất cả là do cô hại cháu.

Như vậy quý vị chắc chắn sẽ không có giấc ngủ ngon.

Cho nên, chúng ta nói chuyện với các bạn gái, nhất định phải nắm giữ một nguyên tắc, quý vị nắm giữ nguyên tắc này, thì bạn của quý vị chắc chắn sẽ xem quý vị là người tri kỷ. Nguyên tắc đó là gì?

Một là: Bàn về mâu thuẫn nhà người, phải để họ tự phản tỉnh



Khi nói đến mâu thuẫn trong gia đình, nhất định phải để cho họ tự phản tỉnh. Quý vị hướng dẫn họ tìm vấn đề trong bản thân họ, đó mới là thật sự hóa giải. Thường thì khi họ phản tỉnh rồi, tâm tư sẽ lắng dịu.

Bất luận họ có làm theo lời của quý vị hay không, nếu như họ không làm theo lời của quý vị, thì một thời gian sau họ sẽ nói “Anh nói rất đúng”; Nếu như họ thật sự có làm theo lời của quý vị, thì họ sẽ đến cảm ơn quý vị đã khiến họ không hành động theo cảm tính, thậm chí vợ của họ cũng đến cảm ơn quý vị, có thể là như vậy. Chúng ta phải nắm giữ nguyên tắc này.

Hai là: Không nên nghe một chiều

Khi chúng ta nói chuyện với nhau, thường rất dễ bị nhiễm bởi tâm tư, bị ảnh hưởng bởi tâm tư, cho nên không nên nghe lời một chiều, không được nghe lời một bên.

Quý vị có tin là vợ chồng cãi nhau, thường cả hai bên đều nói đối phương sai, vậy thì ai đúng? Nhất định có một chân tướng sự thật. Con người thường đứng trên góc độ của mình nhìn sự việc, cho nên không thể nghe người chồng nói như vậy, rồi bị lời nói của người chồng làm ảnh hưởng. Rồi đối với người vợ của anh ta cũng sẽ như vậy, vì thông thường mọi người đều bị quan điểm “Ai vào trước thì làm chủ”, như vậy là đã mất đi tính khách quan rồi.

Cho nên, quý vị nghe cũng phải phân biệt được những lời nào là đúng, lời nào là sai. Trong khi bạn của quý vị tự thuật thì quý vị có thể hỏi anh ta rằng:

- Vợ của anh hành xử như thế là kết quả, còn nguyên nhân là ở đâu?

Câu này có dễ hỏi không? Anh ta sẽ lắng lòng lại. Hôm nay vợ anh ta nổi nóng, có thể đó chỉ là một ngọn lửa, còn oán khí đó đã tích lũy bao lâu rồi anh ta không biết, anh ta chỉ biết ở đó mà tức giận “Vì sao mà cô ta mắng tôi”? Anh ta không hiểu được sau một lời nói giận dữ này thì đã ngưng tụ năng lượng bao lâu rồi. Cho nên quý vị hướng dẫn anh ta biết nguyên nhân là ở đâu, anh ta mới giả định đặt mình vào vị trí ấy, rồi nghĩ đến đối phương.

Phải lấy hòa làm quý, nói chuyện với người khác, tuyệt đối không được tạo ra phân tranh, tạo ra mối bất hòa.


18-4. “Duy kỳ thị, vật nịch xảo” (Phải nói thật, chớ xảo nịnh)


Sự thật như thế nào thì chúng ta nên trực tiếp nói ra, tuyệt đối không được vịn cớ, tuyệt đối không được che đậy tội lỗi, cũng không được ngôn từ bóng bẩy, che đậy để lấy lòng đối phương. Ví dụ nói, chúng ta hứa với ba, hứa với mẹ mua thứ gì đó, cuối cùng vừa vào đến cửa, mẹ hỏi:

- Nước tương đâu?

Chúng ta lập tức phải như thế nào?

- Xin lỗi mẹ, con sai rồi.

Cái từ “Con sai rồi” đó có dễ nói không? Dễ nói à? Nếu ít khi nói thì quý vị khó nói lắm đó.

Cho nên, chỉ cần chúng ta có lỗi, không giữ lời hứa, nhất định phải xin lỗi ngay, đối phương cũng sẽ cảm thấy có thể chấp nhận được. Nếu như lúc này quý vị nói:

- Dạo này con bận quá,

Lại giải thích bận việc này, bận việc kia, càng giải thích thì trong tâm người nghe càng thấy khó chịu. Vậy nên “Duy kỳ thị, vật nịnh xảo” (Phải nói thật, chớ xảo nịnh).


18-5&6. “Gian xảo ngữ, uế ô từ; Thị tỉnh khí, thiết giới chi” (Lời gian xảo, từ bẩn thỉu; Tập khí xấu, phải trừ bỏ)

Câu 1: “Gian xảo ngữ, uế ô từ” (Lời gian xảo, từ bẩn thỉu)


Ngôn ngữ là sự hỗ tương giữa người với người nhiều nhất, nếu như lời nói nhã nhặn, thì trong lúc nói chuyện với nhau, trong vô hình sẽ nâng cao khí chất tu dưỡng của một người.
1. Xây dựng phong cách nói chuyện

Các bạn có cảm thấy mấy ngày nay khí chất của chúng ta đặc biệt tốt chăng? Nên từ trường rất quan trọng, hoàn cảnh rất quan trọng. Cho nên chúng ta cần đem ngôn ngữ trong gia đình, xây dựng như thế nào? Tự mình phải biết rõ:
Thứ nhất: Trong gia đình

Một là: Nói vừa phải, không nhanh, không chậm

Giả dụ nếu quý vị là một người lớn, là bậc cha mẹ, thậm chí quý vị là người lãnh đạo của một xí nghiệp, khi quý vị nói, không nên quá nhanh, không nên quá chậm.

Hai là: Nhẹ nhàng, cổ vũ, khen ngợi, lợi ích người

Lời nói của quý vị là cổ vũ cho mọi người, khen ngợi mọi người, lợi ích cho mọi người, cho mọi người trí huệ, thì tin rằng gia đình này của quý vị, đoàn thể của quý vị, xí nghiệp của quý vị, nhất định đạt được hiệu quả trên làm dưới theo.

Chúng ta không nên quá lo lắng, luôn nói bên ngoài ô nhiễm nhiều quá. Chỉ cần quý vị giữ được tổ chức, thì tình huống không đến nỗi tệ lắm. Sau đó, ở trong nhà thường mở Đệ Tử Quy của cô Dương Thục Phương giảng, mở Đệ Tử Quy của các bậc Thánh hiền giảng, như vậy sẽ có sự thay đổi ngấm ngầm.

***


: files
files -> Sạt-đe rằng: Nầy là lời phán của Đấng có bảy vì thần Đức Chúa Trời và bảy ngôi sao
files -> HƯỚng dẫn càI ĐẶt và SỬ DỤng phần mềm tạo bài giảng e-learning
files -> VIỆn chăn nuôi trịnh hồng sơn khả NĂng sản xuất và giá trị giống của dòng lợN ĐỰc vcn03 luậN Án tiến sĩ NÔng nghiệp hà NỘI 2014
files -> ĐẠi học quốc gia hà NỘi trưỜng đẠi học khoa học tự nhiên nguyễn Thị Hương XÂy dựng quy trình quản lý CÁc công trìNH
files -> PHỤ LỤC 2 TỔng hợp danh mục tài liệu tham khảO
files -> BÁo cáo quy hoạch vùng sản xuất vải an toàn tỉnh bắc giang đẾn năM 2020 (Thuộc dự án nâng cao chất lượng, an toàn sản phẩm nông nghiệp và phát triển chương trình khí sinh học ) Cơ quan chủ trì
files -> BỘ TÀi nguyên và MÔi trưỜng
files -> 1. Mục tiêu đào tạo: Mục tiêu chung


1   ...   8   9   10   11   12   13   14   15   16


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương