CÁc nhân tố RỦi ro rủi ro kinh tế



tải về 2.47 Mb.
trang1/13
Chuyển đổi dữ liệu10.05.2018
Kích2.47 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   13

B¶n c¸o b¹ch C«ng ty cæ phÇn Vinafco

MỤC LỤC


1. Phụ lục I: Bản sao hợp lệ giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh 97



  1. CÁC NHÂN TỐ RỦI RO

  1. RỦI RO KINH TẾ

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến tốc độ tăng trưởng của ngành công nghiệp. Đặc biệt Chính phủ cũng đã có chiến lược phát triển cho ngành hàng hải đến giai đoạn 2010. Những năm trở lại đây, Việt Nam có tốc độ tăng trưởng GDP khá cao và ổn định: năm 2003 là 7,23%; năm 2004 đạt 7,7%; năm 2005 đạt khoảng 8,4% và năm 2006 đạt 8,17%. Các chuyên gia phân tích đều cho rằng tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam duy trì ở mức 7 - 8%/năm trong các năm tới là hoàn toàn khả thi. Sự phát triển lạc quan của nền kinh tế có ảnh hưởng tốt đến sự phát triển của ngành. Do vậy, có thể thấy rủi ro biến động của nền kinh tế với Công ty là không cao.

  1. RỦI RO PHÁP LUẬT

Là doanh nghiệp Nhà nước loại 1 chuyển sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần, hoạt động của VINAFCO chịu ảnh hưởng của các văn bản pháp luật về cổ phần hóa, chứng khoán và thị trường chứng khoán. Luật và các văn bản dưới luật trong lĩnh vực này đang trong quá trình hoàn thiện, sự thay đổi về mặt chính sách luôn có thể xảy ra và khi xảy ra thì sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến hoạt động quản trị, kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác, là doanh nghiệp đa ngành, hoạt động trong nhiều lĩnh vực nên hoạt động của Công ty cũng chịu nhiều ảnh hưởng từ các chính sách của Nhà nước như định hướng phát triển ngành hàng hải, xu hướng khuyến khích hay hạn chế các ưu đãi đối với các doanh nghiệp sản xuất thép. Tất cả những xu hướng, chính sách này đều ảnh hưởng tới sự phát triển của Công ty.

  1. RỦI RO THỊ TRƯỜNG

Phát hành thêm cổ phiếu là một hình thức huy động vốn ngày càng được nhiều Công ty lựa chọn thực hiện. Hình thức phát hành này đã chứng tỏ được ưu thế của các Công ty trong việc huy động vốn từ công chúng. Tuy nhiên, thị trường Chứng khoán hiện nay vẫn còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố không thuộc về phạm trù hoạt động kinh doanh của các Công ty như yếu tố tâm lý của nhà đầu tư, động thái mua bán của nhà đầu tư nước ngoài, các thay đổi trong chính sách quản lý của cơ quan chủ quản, do đó giá chứng khoán trên thị trường - trong đó có cổ phiếu của VINAFCO - có nhiều biến động khó dự đoán. Nếu lựa chọn thời điểm không thích hợp để phát hành thêm thì có khả năng diễn biến trên thị trường sẽ tác động bất lợi đến đợt phát hành trên cả phương diện giá và khối lượng phát hành.

  1. RỦI RO TÀI CHÍNH

Hệ số nợ/vốn chủ sở hữu của Công ty khá cao, năm 2004 là 2,24; năm 2005 là 2,44; năm 2006 là 3,12 cho thấy Công ty đang kinh doanh dựa trên một cơ cấu tài chính khá rủi ro, khoản nợ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản tạo nên áp lực thanh toán lãi vay cũng như vốn vay. Chỉ tiêu về khả năng thanh toán phản ánh rõ rủi ro thanh toán của Công ty, hệ số thanh toán ngắn hạn năm 2004 là 0,72; năm 2005 là 0,66; năm 2006 là 0,83 hệ số thanh toán nhanh năm 2004 là 0,56 và năm 2005 là 0,47; năm 2006 là 0,51. Cơ cấu tài chính này phản ánh Công ty đang trong giai đoạn mở rộng ngành nghề, đa dạng hoá sản phẩm và dịch vụ cung cấp. Do vậy, Công ty đã, đang và sẽ có nhu cầu lớn về vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong giai đoạn tới, chắc chắn vẫn phải sử dụng các nguồn vay tín dụng. Đối với các khoản vay có thời hạn vay ngắn, sự biến động về lãi suất có thể sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của Công ty. Ngoài ra, khi Công ty có kế hoạch đầu tư mở rộng mạng lưới kinh doanh thì nhu cầu vay vốn dài hạn sẽ cần thiết để tài trợ cho các dự án. Với sự chuyển mình mạnh mẽ như vậy, nếu Công ty không có kế hoạch triển khai hợp lý có thể dẫn đến rủi ro trong khả năng chi trả lãi vay cũng như vốn vay. Để giải quyết thực trạng này, Công ty đã có kế hoạch sau khi Phát hành cổ phiếu sẽ sử dụng những ưu thế của thị trường chứng khoán để huy động vốn, tăng vốn điều lệ đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh được ổn định, phát triển bền vững.

  1. RỦI RO BIẾN ĐỘNG GIÁ

Đối với các hoạt động dịch vụ, rủi ro về giá chủ yếu do sự cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ trong cùng ngành. Cạnh tranh tất yếu dẫn đến sự giảm giá dịch vụ những vẫn phải đảm bảo chất lượng để giữ vững uy tín với khách hàng. Mặt khác, chi phí cho hoạt động vận tải của Công ty phụ thuộc khá lớn vào giá cả nhiên liệu như xăng, dầu. Trong giai đoạn gần đây, giá dầu trên thế giới luôn biến động theo chiều hướng tăng do những biến động về kinh tế chính trị tại Trung Đông, nơi tập trung các nước xuất khẩu dầu mỏ chủ yếu, dẫn đến việc tăng chi phí hoạt động, sẽ làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của Công ty.

Đối với hoạt động sản xuất thép, Công ty cũng phải chịu rủi ro về sự biến động giá cả nguyên liệu đầu vào do phải nhập khẩu phôi thép từ nước ngoài. Do đó, Công ty cũng luôn tính toán đảm bảo dự trữ nguyên liệu hợp lý, vừa tránh để tình trạng hàng tồn kho quá lớn đồng thời không để ảnh hưởng lớn tới kết quả sản xuất kinh doanh khi có biến động giá phôi thép trên thế giới.



  1. RỦI RO CỦA ĐỢT CHÀO BÁN

Trong đợt phát hành số cổ phần phân phối cho cổ đông hiện hữu, cho cán bộ công nhân viên và cho các đối tác của Công ty là không được bảo lãnh nên có thể xảy ra rủi ro cổ phiếu không được mua hết. Tuy nhiên, với sự phát triển ổn định và bền vững trong hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty trong những năm qua cùng với kế hoạch khả quan trong các năm tới nên cổ phiếu của Công ty Cổ phần VINAFCO (VINAFCO) nhận được sự quan tâm của nhiều nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Do đó rủi ro của đợt chào bán là không lớn đối với Công ty.

Hiện nay, Công ty đã có thoả thuận với một số ngân hàng về khả năng vay vốn đầu tư cho các dự án trọng điểm của Công ty. Về nguyên tắc, các ngân hàng cũng sẵn sàng cấp hạn mức tín dụng và giải ngân theo tiến độ của dự án. Vì vậy, trường hợp số tiền huy động từ đợt phát hành là chưa đủ đáp ứng cho các dự án đầu tư khi đó vốn vay từ Ngân hàng sẽ là sự đảm bảo để dư án vẫn đi theo tiến độ.



  1. RỦI RO CỦA CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ

Mục đích huy động vốn của VINAFCO trong năm 2007 là tài trợ dự án đầu tư nâng cao năng lực vận tải, đầu tư mua sắm tầu container, máy móc thiết bị cho mạng lưới kho bãi và nhu cầu vận chuyển ngày càng mở rộng, bổ sung vốn lưu động cho hoạt động của Công ty.

Phần lớn các dự án đầu tư của Công ty đều đã được nghiên cứu và lựa chọn đảm bảo lựa chọn phương án hiệu quả tối ưu để đầu tư, nhằm phát huy thế mạnh về ngành nghề cũng như về sử dụng vốn của Công ty. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các dự án đầu tư sẽ phát sinh các rủi ro ảnh hưởng đến kế hoạch cũng như hiệu quả đầu tư của từng dự án. Rủi ro cụ thể của từng dự án được trình bầy cụ thể trong phần giới thiệu các dự án đầu tư. Nhìn chung những rủi ro tiềm ẩn của các dự án là rủi ro chậm tiến độ và rủi ro trong quá trình bàn giao tầu, nhập khẩu và rủi ro trong quá trình chạy thử.



  1. RỦI RO PHA LOÃNG

Số cổ phiếu hiện đang lưu hành của VINAFCO là 6.775.627 cổ phần. VINAFCO dự kiến phát hành thêm 13.224.373 cổ phần khiến cho tỷ lệ số cổ phần phát hành thêm bằng 195,18% tổng số cổ phần đang lưu hành của Công ty. Việc phát hành thêm một khối lượng cổ phiếu khá lớn này sẽ dẫn đến việc điều chỉnh giảm của giá cổ phiếu do tác động pha loãng. Rủi ro pha loãng này sẽ giảm đi nếu Công ty sử dụng số tiền huy động được từ đợt chào bán một cách hiệu quả nhất.

  1. RỦI RO KHÁC

Các rủi ro khác như thiên tai, dịch hoạ.v.v... là những rủi ro bất khả kháng và khó dự đoán, nếu xảy ra sẽ gây thiệt hại lớn cho tài sản, con người và tình hình hoạt động chung của Công ty.

  1. NHỮNG NGƯỜI CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH ĐỐI VỚI NỘI DUNG BẢN CÁO BẠCH

1. TỔ CHỨC PHÁT HÀNH

Ông Trịnh Ngọc Hiến Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng giám đốc Công ty cổ phần Vinafco

Nguyễn Phương Mai Chức vụ: Kế toán trưởng Công ty Cổ phần Vinafco

Phạm Thị Tuyết Anh Chức vụ: Trưởng Ban kiểm soát Công ty Cổ phần Vinafco

Chúng tôi đảm bảo rằng các thông tin và số liệu trong Bản cáo bạch này là phù hợp với thực tế mà chúng tôi được biết, hoặc đã điều tra, thu thập một cách hợp lý.

2. TỔ CHỨC TƯ VẤN

Ông Nguyễn Quang Vinh Chức vụ: Tổng Giám đốc, Đại diện theo pháp luật của Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt

Bản cáo bạch này là một phần của hồ sơ đăng ký Phát hành do Công ty Cổ phần Chứng khoán Bảo Việt tham gia lập trên cơ sở hợp đồng tư vấn với Công ty Cổ phần VINAFCO. Chúng tôi đảm bảo rằng việc phân tích, đánh giá và lựa chọn ngôn từ trên Bản cáo bạch này đã được thực hiện một cách hợp lý và cẩn trọng dựa trên cơ sở các thông tin và số liệu do Công ty Cổ phần VINAFCO cung cấp.



  1. CÁC KHÁI NIỆM

    • Công ty Công ty Cổ phần VINAFCO

    • Tổ chức Phát hành Công ty Cổ phần VINAFCO

    • TGĐ Tổng Giám đốc

    • VNC Tên tắt của Công ty Cổ phần VINAFCO

    • TSCĐ Tài sản cố định

    • TNHH Trách nhiệm hữu hạn

    • Cổ phiếu Cổ phiếu Công ty Cổ phần VINAFCO

    • Điều lệ Điều lệ Tổ chức và hoạt động Công ty Cổ phần VINAFCO

    • HĐQT Hội đồng quản trị

    • ĐHĐCĐ Đại hội đồng cổ đông

    • VFC Mã Giao dịch tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP. Hồ Chí Minh của Công ty Cổ phần VINAFCO



  1. TÌNH HÌNH VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA TỔ CHỨC PHÁT HÀNH

  1. TÓM TẮT QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

1.1. Lịch sử hình thành

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ 6 Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986, cả nước bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện về quản lý kinh tế, xoá bỏ tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang cơ chế thị trường theo định hướng XHCN.

Thực hiện chủ trương này, Bộ Giao thông Vận tải cũng thực hiện đổi mới với việc cắt giảm biên chế khối hành chính sự nghiệp, chuyển chức năng quản lý kinh tế kỹ thuật trực tiếp xuống các doanh nghiệp và thành lập các doanh nghiệp mới. Cũng trong thời kỳ này, hệ thống dịch vụ vận tải đang khủng hoảng, do đó Bộ có chủ trương thành lập một đơn vị dịch vụ vận tải Trung ương với mục đích phối hợp hoạt động của 3 Công ty Đại lý vận tải I, Đại lý vận tải II và Đại lý vận tải III để phát triển ngành dịch vụ vận tải. Ngày 16/12/1987, Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải đã ký quyết định số 2339A/TCCB thành lập Công ty Dịch vụ vận tải Trung ương với tổng số cán bộ ban đầu chỉ có 40 người được điều động từ các Vụ của Văn phòng Bộ chuyển sang và tài sản chỉ có 9 gian nhà cấp 4 tại 80B Trần Hưng Đạo của Bộ Giao thông Vận tải cho mượn và 1 chiếc xe ô tô cũ.

Từ khi thành lập cho đến năm 1992, Công ty đã nhanh chóng phát triển về quy mô, thành lập thêm Xí nghiệp trực thuộc, các đại diện tại một số tỉnh, đầu tư mua thêm tàu biển.



Năm 1993, toàn quốc thực hiện bước chuyển mạnh về đổi mới quản lý, sắp xếp lại các doanh nghiệp Nhà nước theo Nghị định 388/HĐBT ngày 20/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng. Một quyết định quan trọng cần đặt ra với Công ty là thành lập lại, giải thể hoặc sáp nhập vào doanh nghiệp khác. Ngày 2/8/1993, Bộ Giao thông Vận tải có quyết định số 1542QĐ/TCCB-LĐ thành lập lại Công ty Dịch vụ vận tải Trung ương là một Doanh nghiệp Nhà nước.

Năm 1995, Bộ Giao thông Vận tải thành lập Tổng Công ty Dịch vụ vận tải trong đó Công ty Dịch vụ vận tải Trung ương là thành viên của Tổng Công ty.

Năm 1997, Bộ Giao thông Vận tải giải thể Tổng Công ty Dịch vụ vận tải và Công ty Dịch vụ vận tải Trung ương trở về trực thuộc Bộ Giao thông Vận tải.

Trong giai đoạn 1993 - 1997, Công ty đã liên doanh, liên kết với các đối tác trong và ngoài nước, tăng cường đầu tư để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh như ký hợp đồng đại lý cho hãng DANZAS của Thụy Sỹ, liên doanh với Công ty Điện tử Hà Nội (HANEL) và 2 đối tác của Nhật thành lập Công ty TNHH Tiếp vận Thăng Long (DRACO).

Giai đoạn 1998 - 2000, Công ty phải đối mặt với sự cạnh tranh quyết liệt trước hệ thống các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ ngày càng phát triển nhanh, đa dạng và chất lượng ngày càng cao. Trước tình hình đó, Công ty đã đầu tư đổi mới công nghệ, cơ sở vật chất, nhanh chóng mở rộng thị trường, nâng cao chất lượng dịch vụ. Trong giai đoạn này, tổng vốn đầu tư của Công ty lên tới hơn 58 tỷ đồng để tài trợ cho dây chuyền vận chuyển NH3, đầu tư thêm kho bãi, mua máy cắt phôi, dàn cán thép, mua tàu chở container...

Năm 2001, thực hiện chủ trương lớn của Chính phủ là cổ phần hoá các Doanh nghiệp Nhà nước, Công ty Dịch vụ vận tải Trung ương cũng chính thức chuyển sang công ty cổ phần theo Quyết định số 211/2001/QĐ/BGTVT của Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải chuyển Doanh nghiệp Nhà nước Công ty Dịch vụ vận tải Trung ương thành Công ty cổ phần, với tên gọi đầy đủ là Công ty Cổ phần Dịch vụ vận tải Trung ương, gọi tắt là Công ty Cổ phần VINAFCO.

Công ty Cổ phần khi mới thành lập có vốn điều lệ là 7,23 tỷ đồng trong đó vốn Nhà nước là 1,8 tỷ đồng. Sau gần 5 năm hoạt động, Công ty đã liên tục tăng vốn điều lệ, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, lợi nhuận sau thuế liên tục tăng qua các năm; tỷ lệ cổ tức trả cổ đông duy trì ở mức khá cao; giá trị đóng góp cho ngân sách Nhà nước ngày càng tăng và đời sống người lao động liên tục được cải thiện.

Từ khi thành lập đến nay, Công đã được nhiều thành tích, được nhiều bằng khen của Bộ Giao thông Vận tải, của Chính phủ:


  • Năm 1996: được nhận Bằng khen của Bộ Giao thông Vận tải;

  • Năm 1997: được nhận “Huân chương lao động hạng 3” của Nhà nước;

  • Năm 1999: được nhận Bằng khen “Đơn vị hoàn thành nghĩa vụ nộp Ngân sách Nhà nước năm 1999” do Cục Thuế thành phố Hà Nội tặng;

  • Năm 2000: Công đoàn ngành Giao thông vận tải tặng cờ Công đoàn cơ sở vững mạnh xuất sắc;

  • Năm 2001: được Thủ tướng Chính phủ tặng cờ luân lưu cho Công ty và bằng khen cho Tổng Giám đốc Công ty;

  • Năm 2002: nhận Huân chương lao động hạng nhì của Nhà nước trao tặng;

  • Năm 2005: được Bộ Giao thông Vận tải tặng cờ Đơn vị xuất sắc năm 2005.

Ngoài ra, rất nhiều cá nhân trong Công ty đã được vinh dự nhận bằng khen của Bộ Giao thông Vận tải, của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam.

Hội nhập cùng xu thế mới của thị trường, nắm bắt được thời cơ và cơ hội mới của thương hiệu VINAFCO trên thị trường Việt Nam ngày 26 tháng 6 năm 2006 theo giấy phép niêm yết số 53/GPNY do Chủ tịch Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước cấp. Theo đó Cổ phiếu của công ty cổ phần VINAFCO được niêm yết tại Sở giao dịch Chứng khoán TP.HCM với mã giao dịch là VFC. Và ngày 24 tháng 07 năm 2006 cổ phiếu của công ty cổ phần VINAFCO đã chính thức giao dịch tại Sở giao dịch Chứng khoán TP.HCM với giá khớp lệnh phiên giao dịch đầu tiên là 30.000đ/1CP.



    1. Giới thiệu về Công ty

    • Tên Công ty: Công ty Cổ phần VINAFCO

    • Tên tiếng Anh: VINAFCO JOINT STOCK CORPORATION

    • Tên viết tắt: VINAFCO

    • Biểu tượng của Công ty:



    • Vốn điều lệ hiện tại: 67.756.270.000 đồng (Sáu mươi bẩy tỷ, bẩy trăm năm mươi sáu triệu, hai trăm bẩy mươi nghìn đồng).

Quá trình tăng vốn điều lệ như sau:

Đơn vị tính: nghìn đồng

Thời điểm

Vốn tăng thêm

Nguồn tăng

Vốn điều lệ

Vốn NN

Tỷ lệ

Khi thành lập

 




7.230.000

1.800.000

24,90%

Lần 1 (08/2001)

2.770.000

Phát hành thêm

10.000.000

1.800.000

18,00%

Lần 2 (02/2002)

10.000.000

Phát hành thêm

20.000.000

1.800.000

9,00%

Lần 3 (08/2002)

5.000.000

Phát hành thêm

25.000.000

1.800.000

7,20%

Lần 4 (04/2003)

6.000.000

Phát hành thêm: 4.894.100

Trả cổ tức 2002 bằng CP: 1.105.900



31.000.000

2.091.700

6,75%

Lần 5 (09/2003)

4.177.900

Phát hành thêm: 2.252.600

Miễn thuế TNDN 2001: 1.225.300

Miễn thuế TNDN 2002 (đợt 1): 700.000


35.177.900

2.393.200

6,80%

Lần 6 (05/2004)

6.740.500

Phát hành thêm: 4.997.400

Miễn thuế TNDN 2002 (đợt 2): 1.743.100



41.918.400

2.548.700

6,08%

Lần 7 (01/2005)

5.967.800

P/hành thêm: 1.789.100

Tăng vốn Nhà nước: 4.178.700



47.886.200

6.727.400

14,05%

Lần 8 (03/2005)

3.336.410

Trả cổ tức 2004 bằng cổ phiếu

51.222.610

6.930.290

13,53%

Lần 9 (03/2006)

3.800.000

Phát hành lần đầu ra công chúng

55.022.610

6.930.290

12,60%

Lần 10 (06/2006)

733.660

Phát hành cổ phiếu thưởng

55.756.270

7.020.500

12,59%

Lần 11 (06/2007)

1.200.000

Phát hành thêm cổ phiếu huy động vốn

67.756.270

7.020.500

10,36%

    • Trụ sở chính: Số 36 đường Phạm Hùng, xã Mỹ Đình, huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

    • Điện thoại: (84-4) 7684464/7684469

    • Fax: (84-4) 7684465

    • Website: www.vinafco.com.vn

    • Email: info@vinafco.com.vn

    • Giấy phép thành lập: Quyết định số 211/2001/QĐ-BGTVT ngày 18/01/2001 của Bộ Giao thông Vận tải phê duyệt phương án cổ phần hoá và quyết định chuyển Công ty Dịch vụ vận tải TW thành Công ty cổ phần.

    • Giấy CNĐKKD: Số 0103000245 đăng ký lần đầu ngày 12/02/2001, đăng ký thay đổi lần thứ 16 ngày 01/06/2007 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp.




    • Ngành nghề kinh doanh:

  • Vận tải hàng hoá bằng đường biển, đường sông, ôtô trong và ngoài nước;

  • Đại lý vận tải hàng hoá;

  • Kinh doanh vật tư và dịch vụ các mặt hàng: than, thạch cao, apatite, quặng các loại, cát, xỉ perit, đá vôi, gỗ, muối;

  • Giao nhận kho vận quốc tế;

  • Dịch vụ vận tải quốc tế, trong đó có vận tải hàng hoá quá cảnh;

  • Đại lý vận tải tàu biển và môi giới hàng hải;

  • Nhận uỷ thác đại lý giao nhận, nhận uỷ thác vận tải hàng không;

  • Kinh doanh vận tải và xếp dỡ, bảo quản các loại hàng hoá;

  • Kinh doanh kho bãi, bãi container và thu gom hàng hoá;

  • Dịch vụ sửa chữa thiết bị giao thông vận tải và tàu biển cho các hãng tàu;

  • Nhận uỷ thác xuất nhập khẩu, làm thủ tục xuất nhập khẩu hàng hoá cho các chủ hàng;

  • Kinh doanh dịch vụ mặt hàng phân bón các loại, khí NH3 hoá lỏng, klinke;

  • Kinh doanh nhập khẩu phương tiện thiết bị giao thông vận tải;

  • Kinh doanh cung ứng mặt hàng lương thực (ngô, sắn, thức ăn gia súc...);

  • Sản xuất, chế biến và kinh doanh sắt thép xây dựng;

  • Sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng;

  • Buôn bán thức ăn và nguyên liệu sản xuất thức ăn cho nuôi trồng thuỷ sản, thức ăn chăn nuôi gia cầm, gia súc, vật tư, máy móc, thiết bị, hàng tiêu dùng;

  • Buôn bán lắp đặt bảo hành máy thiết bị bưu chính viễn thông (điện thoại, điện thoại di động, tổng đài);

  • Đại lý mua bán ký gửi hàng hoá;

  • Khai thác và chế biến khoảng sản (trừ khoáng sản Nhà nước cấm);

  • Cho thuê văn phòng và các dịch vụ cho thuê văn phòng.

  1. CƠ CẤU TỔ CHỨC CÔNG TY

Công ty Cổ phần VINAFCO được tổ chức và hoạt động theo Luật doanh nghiệp đã được Quốc hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khoá XI kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005. Các hoạt động của Công ty tuân thủ Luật doanh nghiệp, các Luật khác có liên quan và Điều lệ Công ty được Đại hội đồng cổ đông nhất trí thông qua ngày 10 tháng 03 năm 2006.

Từ ngày 01/01/2006, Công ty Cổ phần VINAFCO thực hiện chuyển đổi mô hình tổ chức thành Tổng Công ty. Công ty đã thành lập các đơn vị thành viên độc lập và đã hoàn thành việc góp vốn cho các đơn vị thành viên từ ngày 31/03/2006.





  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   13


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương