Các khái niệm về hệ quản trị csdl



tải về 1.1 Mb.
trang5/15
Chuyển đổi dữ liệu17.08.2016
Kích1.1 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   15

    1. Giới thiệu:

SQL Server là một hệ quản trị CSDL quan hệ được phát triển bởi Microsoft. Nó cung cấp nền tảng quản trị dữ liệu ở mức xí nghiệp(Enterprise) cho một tổ chức. SQL Server 2005 là phiên bản mới nhất của họ gia đình SQL Server.

SQL Server 2005 bao gồm nhiều chức năng mới và các công cụ tạo cho nó trở thành một CSDL nổi bật và một nền phân tích dữ liệu. Ngoài ra, nó cũng tập trung vào các lĩnh vực như xử lý giao dịch trực tuyến (OLTP), kho dữ liệu, và các ứng dụng thương mại điện tử.



Trong chương này, các chức năng của SQL Server 2005, các thành phần của nó và các CSDL sẽ được mô tả một cách chi tiết. Chương này ngoài ra cũng đề cập đến kiến trúc SQL Server 2005 và các file CSDL. Khoá và các chức năng nâng cao của SQL Server 2005 cũng được đưa ra trong chương này.

    1. SQL Server 2005:

SQL Server 2005 (tên mã là Yukon) là sản phẩm SQL Server được phát hành hiện nay. SQL Server 2005 được xem như là một hệ thống CSDL quan hệ cho các ứng dụng dữ liệu ở mức xí nghiệp. Hơn nữa, nó còn hỗ trợ cho việc phát triển mạnh mẽ các ứng dụng phía Server. SQL Server không đơn thuần là một RDBMS mà còn cung cấp các khả năng báo cáo, phân tích dữ liệu và khai phá dữ liệu và các chức năng cho xử lý dữ liệu trong khi đợi dữ liệu đồng bộ hoá với ứng dụng đầu cuối (front-end).

      1. Các chức năng SQL Server 2005

Chức năng chính của SQL Server cũng như các chức năng nâng cao được liệt kê dưới đây:

  • Các chức năng cơ bản

    • Dễ dàng cài đặt

SQL Server 2005 cung cấp một tập hợp các công cụ quản trị và phát triển để dễ dàng cài đặt, triển khai và quản trị.

SQL Server có một máy CSDL là một phần lõi quan trọng của RDBMS và lưu trữ dữ liệu trong các bảng. Trong SQL Server 2005, máy CSDL tích hợp và hỗ trợ cho ngôn ngữ đánh dấu mở rộng (XML), vì thế hỗ trợ rất tốt cho phát triển web. Nó cung cấp tính trải rộng, tính sẵn sàng, và chức năng bảo mật, những tính năng này rất cần để vận hành các thành phần lưu trữ dữ liệu cho các website lớn. Ngoài ra, SQL Server 2005 còn hỗ trợ các chức năng như English Query để xử lý các truy vấn người dùng một cách thân thiện và dịch vụ Microsoft Search cung cấp khả năng tìm kiếm mạnh mẽ trong các ứng dụng Web.

    • Tính trải rộng và tính sẵn sàng

Một trong những phiên bản SQL Server 2005 là Enterprise Edition, cung cấp sự hỗ trợ cho cân bằng tải và xử lý tải qua nhiều máy Server, tính toán và lưu trữ các khung nhìn(view) lại với nhau bởi các truy vấn và hỗ trợ bộ nhớ lớn. Các chức năng này kết hợp với khả năng tương thích đa nền tảng cho phép SQL Server 2005 cung cấp các cấp độ thực thi được yêu cầu bởi các website lớn.

    • Hỗ trợ cho mô hình Client/Server

SQL Server được thiết kế theo mô hình client/server. Trong mô hình này, client và server tương ứng từng phần trong mô hình yêu cầu-phúc đáp. Một ứng dụng chạy trên client, và yêu cầu dữ liệu từ server. Server xử lý yêu cầu, và gửi trả lại dữ liệu mà client yêu cầu. Theo như phân tích ở trên, công việc của client và server được phân chia một cách rõ ràng. Công việc của client là yêu cầu dữ liệu thông qua các câu lệnh, ngược lại công việc của Server là xử lý yêu cầu, và gửi trả kết quả lại cho client.

    • Tương thích Hệ điều hành

SQL Server 2005 là sản phẩm của Microsoft nên nó tương thích với Windows NT Server 4, và Windows 2000. Một hệ thống Windows NT Server 4 cần cài đặt Service Pack 5 (SP5) chạy được SQL Server 2005.

    • Kho dữ liệu

SQL Server cung cấp một vài công cụ cho việc xây dựng các kho dữ liệu. Dịch vụ biến đổi dữ liệu (DTS) người thiết kế có thể được dùng để định nghĩa các bước, lược đồ công việc, và biến đổi dữ liệu để xây dựng các kho dữ liệu từ một vài nguồn dữ liệu khác. SQL Server bao gồm các công cụ đồ hoạ và đồ thuật cho việc phân tích dữ liệu dựa vào các câu hỏi trong ngôn ngữ tiếng Anh.

    • Thực thi theo ANSI/ISO SQL-92

SQL Server tuân theo chuẩn ANSI/ISO SQL-92. Microsoft cũng thêm vào một số ngôn ngữ mở rộng được gọi là Transact-SQL

    • Hỗ trợ nhân bản dữ liệu

SQL Server 2005 hỗ trợ sự nhân bản dữ liệu. Điều này có nghĩa là hai hay nhiều bản sao của CSDL được đồng bộ hoá, vì thế sự thay đổi của một trong những bản sao được ánh xạ đến các bản sao khác.

    • Tìm kiếm Full-Text

Tìm kiếm full-text cho phép một người dùng tìm kiếm toàn bộ từ và cụm từ trong dữ liệu văn bản được lưu trữ trong CSDL SQL Server.

    • Sách hướng dẫn trực tuyến

Đây là một thành phần được thêm vào SQL Server. Sách trực tuyến là cách tốt nhất để tìm kiếm sự trợ giúp tại bất kỳ chủ đề nào.

  • Chức năng mới trong SQL Server 2005

    • Các dịch vụ thông báo

Các dịch vụ thông báo là một trong những chức năng nâng cao được bao gồm trong SQL Server 2005. Như tên gọi đã chỉ ra, các dịch vụ thông báo là cơ sở cho việc phát triển các ứng dụng có tính chịu đựng cao, mà gửi và nhận các thông báo. Ví dụ, một người dùng có thể thông báo bằng email hoặc SMS khi giá cổ phiếu của một công ty nào đó lên hoặc xuống tại sàn giao dịch. Một ví dụ khác, một hành khách có thể muốn điện thoại di động của anh ta hoạt động ở sóng tầng khác khi chuyến bay của anh ta bị trễ hoặc bị thay đổi lịch.

Việc thêm vào các dịch vụ thông báo cho SQL Server 2005 đã tạo nên sự thuận lợi cho hầu hết các dịch vụ thông báo như có thể thông báo cho số lượng lớn người nhận đang sử dụng vùng diện rộng của các thiết bị. Sự kết hợp các dịch vụ thông báo với SQL Server 2005 có thể làm cho các ứng dụng trải rộng hơn mà không làm thay đổi hiệu năng của nó.



    • Dịch vụ báo cáo

Dịch vụ báo cáo là một trong những dịch vụ quan trọng được sử dụng báo cáo dựa trên server. Nó hỗ trợ báo cáo cho tác giả, sự phân phối, việc quản lý và người dùng đầu cuối truy cập.

    • Môi giới dịch vụ

Môi giới dịch vụ là một kỹ thuật hoàn toàn mới trong SQL Server 2005, nó hỗ trợ cài đặt kiến trúc hướng dịch vụ (SOA). Dịch vụ này cài đặt một hệ thống hàng đợi thông điệp cho sự giao tiếp tin cậy và bảo mật từ CSDL-đến-CSDL. Sử dụng môi giới dịch vụ, một CSDL có thể gửi một thông điệp đến CSDL khác mà không đợi sự hồi âm. Thông điệp sẽ được đặt trong hàng đợi cho đến khi chúng được lấy đi bởi dịch vụ mà chúng được trông đợi.

    • Sự cải tiến máy CSDL

Máy CSDL SQL Server 2005 được giới thiệu với các chức năng mới và các chức năng được cải tiến như Transact-SQL cải tiến, chức năng XML mới, các kiểu dữ liệu mới và nhiều hơn thế nữa. Nó cũng được bao gồm các sự cải tiến để tăng tính trải rộng và tính sẵn sàng của các CSDL.

      1. SQL Server 2005 Editions

SQL Server 2005 nhắm đến phạm vi khách hàng rất rộng lớn từ doanh nghiệp, trường học, các cơ quan chính phủ và các lĩnh vực khác. Những người sử dụng khác nhau có thể có những nhu cầu khác nhau. Vì thế, SQL Server 2005 đưa ra nhiều phiên bản khác nhau, hoàn toàn phù hợp giá cả và các yêu cầu thực thi của những tổ chức khác nhau. Các phiên bản đó là:

Đây là một trong những phiên bản được sử dụng rộng rãi nhất. Nó hỗ trợ hai loại: 32-bit và 64-bit. Enterprise Edition là sự lựa chọn lý tưởng nhất nếu người dùng muốn có CSDL với kích thước không bị giới hạn và hỗ trợ xử lý phiên giao dịch trực tuyến (OLTP) ở môi trường xí nghiệp. Nó bao gồm đầy đủ các chức năng của CSDL SQL Server và các chức năng phân tích. Nó cung cấp tính trải rộng ở mức cao nhất và tính sẵn sàng trong tất cả các phiên bản SQL Server 2005.

  • SQL Server 2005 Standard Edition

SQL Server 2005 Standard Edition là một sự lựa chọn khá đầy đủ cho các tổ chức nhỏ và trung bình. Nó bao gồm các chức năng cơ bản cho thương mại điện tử, kho dữ liệu, và các giải pháp hướng đến doanh nghiệp loại trừ một số chức năng nâng cao chỉ hỗ trợ trong phiên bản Enterprise Edition.

  • SQL Server 2005 Workgroup Editon

Đây là đối thủ mới trong dòng sản phẩn của SQL Server editon groups. Nó được giới thiệu như là một “SQL Server cho doanh nghiệp nhỏ” cho các tổ chức nhỏ mà yêu cầu một CSDL không có giới hạn nào về kích thước hoặc số lượng người dùng. Workgroup Edition bao gồm lõi các chức năng CSDL của SQL Server và có thể phục vụ như là Web Server đầu cuối hoặc cho các hoạt động lưu trữ bên dưới (back-end).

  • SQL Server 2005 Developer Edition

SQL Server 2005 Developer Edition tương tự như Enterprise Edition, nhưng có một giấy phép công nhận người dùng đầu cuối đặc biệt cho kiểm thử và phát triển (EULA), phiên bản này không cho phép triển khai sản phẩm. Nó cho phép các nhà phát triển xây dựng và kiểm thử các ứng dụng trên SQL Server.

SQL Server Express là một sản phẩm CSDL miễn phí nó dễ dàng sử dụng và rất đơn giản để quản lý. Phiên bản này không chứa đựng hầu hết các chức năng như Management Studio, Notification Services, Analysis Service, Integration Services, và Report Builder. Lựa chọn này là ý tưởng khi người dùng cần một phiên bản đơn giản (tripped-down) của SQL Server 2005 cho các ứng dụng doanh nghiệp nhỏ.

      1. Sự thuận lợi của SQL Server 2005

Dựa trên các chức năng đã được mô tả từ trước, sự thuận lợi của SQL Server 2005 có thể được tổng kết như sau:

  • Quản trị dữ liệu xí nghiệp mở rộng

  • Tính hiệu quả cho người phát triển

  • Tăng tính thông minh trong giao dịch

  • Tính năng cạnh tranh cao

    1. Các thành phần SQL Server 2005

SQL Server 2005 bao gồm nhiều thành phần và dịch vụ ở phạm vi rộng. Các thành phần và các dịch vụ tạo cho nó một nền tảng mạnh mẽ cho việc phát triển các ứng dụng xí nghiệp. Các thành phần và các dịch vụ quan trọng được mô tả trong phần tiếp theo và miêu tả trong hình 3.1



Hình 3.1: Các thành phần của SQL Server 2005

  • Máy CSDL Quan hệ

Như đã đề cập từ trước, máy CSDL quan hệ SQL Server cung cấp một môi trường hiện đại, khả năng trải rộng cao và môi trường bảo mật cho việc lưu trữ, truy xuất, và hiệu chỉnh dữ liệu trong quan hệ hoặc theo định dạng XML. Tùy theo yêu cầu nghiệp vụ, các đối tượng được ánh xạ đến các bảng, lấy ví dụ như nhân viên, tài khoản ngân hàng hoặc khách hàng.

Máy CSDL quan hệ khả năng trải rộng cao như tự động điều chỉnh. Vì thế, nó yêu cầu các tài nguyên động khi nhiều người dùng kết nối vào CSDL và sau đó giải phóng tài nguyên ngay sau khi người dùng đăng xuất.



Máy CSDL quan hệ cũng rất bảo mật như chứng thực đăng nhập có thể được kết hợp với sự chứng thực của Windows như là các mật khẩu không được lưu trữ ở SQL Server mà cũng không gửi đi trên mạng.

  • Dịch vụ phân tích

Dịch vụ phân tích là nguồn của giải pháp giao dịch thông minh mạnh mẽ mà hỗ trợ các ứng dụng xử lý phân tích trực tuyến (OLAP) và khai phá dữ liệu. Dịch vụ phân tích dễ dàng phân tích dữ liệu đã được lưu trữ trong kho dữ liệu. Môt kho dữ liệu là một kho chứa dữ liệu của một lịch sử giao dịch của tổ chức dựa vào các sự kiện kinh doanh đặc thù. Lấy ví dụ, các phiên giao dịch ngân hàng hoặc bán sản phẩm có thể nghĩ đó là các sự kiện kinh doanh. Dịch vụ phân tích sắp xếp dữ liệu từ kho dữ liệu với dữ liệu đã được tính toán trước để mà cung cấp các câu trả lời nhanh chóng cho các câu truy vấn phức tạp.

  • Dịch vụ chuyển đổi dữ liệu

Hầu hết các tổ chức cần tập trung dữ liệu của họ để tăng khả năng truy cập ngay cả khi dữ liệu được lưu trữ từ các vị trí khác nhau. Bằng việc sử dụng DTS, kho dữ liệu có thể được xây dựng dựa vào SQL Server bằng cách nhập và chuyển dữ liệu từ các nguồn khác nhau có tương tác lẫn nhau hoặc thực hiện tự động dựa trên các quy tắc. Dịch vụ chuyển đổi dữ liệu cung cấp các giải pháp cho việc nhập, xuất và thậm chí chuyển đổi dữ liệu trong khi nó đang được chuyển.

  • Dịch vụ thông báo

Như tên của nó đưa ra, dịch vụ thông báo cung cấp một dịch vụ trung gian cho một người dùng về một sự kiện mà đã xảy ra trong CSDL.

  • Hỗ trợ HTTP thuần

SQL cung cấp hỗ trợ HTTP thuần cho các ứng dụng dựa trên nền web. Hỗ trợ cho HTTP cho phép các người dùng xây dựng các dịch vụ dựa trên SQL Server mà có thể được sử dụng bởi một vùng rộng lớn các ứng dụng ở máy trạm.

  • Sự tích hợp .NET CLR

Một công nghệ khác của Microsoft, được gọi là .NET, bộ thực hiện lệnh (runtime) của nó được kết hợp với máy CSDL SQL Server 2005 để cài đặt các đối tượng CSDL với mã được viết trong ngôn ngữ .NET. Với Common Language Runtime (CLR) của .NET, những người dùng có thể cài đặt các chức năng CSDL đặc biệt vào trong SQL Server 2005.

  • Các dịch vụ báo cáo

SQL Server 2005 bao gồm các dịch vụ báo cáo, được sử dụng để phát triển các báo cáo từ dữ liệu trong CSDL SQL Server hoặc dịch vụ phân tích. Điều này giúp cho việc xây dựng SQL Server 2005 như là một nền mạnh mẽ cho các ứng dụng giao dịch thông minh.

  • Người môi giới dịch vụ

Người môi giới dịch vụ là một thành phần mới được giới thiệu trong SQL Server 2005. Nó cung cấp một kỹ thuật hàng đợi thông điệp đáng tin cậy, sự giao tiếp dựa trên phiên giao dịch giữa các dịch vụ phần mềm.

  • SQL Server Agent

SQL Server Agent là một máy tác vụ được hoạch định mà tự động bảo trì CSDL và quản lý các tác vụ, các sự kiện, và các cảnh báo.

  • Bản sao

Bản sao là một kỹ thuật cho việc sao chép và phân tán dữ liệu và các đối tượng CSDL từ một CSDL này đến một CSDL khác để mà tận dụng khả năng sự thực thi toàn bộ hệ thống, trong khi bảo đảm rằng tất cả các bản copy khác được giữ đồng bộ. Lấy ví dụ, một cửa hàng có thể giám sát dữ liệu bán hàng trên máy chủ của cửa hàng nhưng sử dụng bản sao để cập nhật dữ liệu bán hàng trên máy tính liên hợp.

  • Tìm kiếm toàn văn bản

Tìm kiếm toàn văn bản cho phép đánh chỉ mục nhanh chóng và mềm dẻo cho truy vấn dựa trên từ khoá của dữ liệu văn bản được lưu trữ trong CSDL SQL Server

    1. Kiến trúc ứng dụng xí nghiệp

Một xí nghiệp có thể là một doanh nghiệp sử dụng các máy tính trong một mạng hoặc là một nhóm các mạng có mối liên hệ với nhau mà có thể trải rộng ở các nơi khác nhau về mặt địa lý. Thông thường, các mạng này có một vài sự khác biệt về nền tảng,hệ điều hành, các giao thức hoặc kiến trúc mạng. Vì có các công nghệ khác nhau này, các ứng dụng phát triển cho một xí nghiệp có thể có khá nhiều thách thức. Các ứng dụng phân tán có thể được sử dụng trong các xí nghiệp để thoả mãn yêu cầu đó.

Một ứng dụng phân tán là một phần tiến trình của nó được phân tán trên nhiều máy tính trên mạng. Xí nghiệp hoặc kiến trúc phân tán được dựa vào sự phát triển của mô hình ba tầng, ở đó ứng dụng đầu cuối được đặt tên là giao diện người sử dụng là nằm ở một mạng, và các quy luật kinh doanh và CSDL, là nằm ở một mạng khác.

SQL Server đóng vai trò chính trong kiến trúc ứng dụng phân tán. Việc thiết kế SQL Server cho một giải pháp xí nghiệp dựa vào kiểu của kiến trúc và xử lý logic được phân tán qua các ứng dụng.

Bản chất của thương mại là các phiên giao dịch giữa khách hàng và tổ chức. Trong suốt phiên giao dịch, một lượng rất lớn dữ liệu sinh ra.

Kiến trúc ứng dụng xí nghiệp chứa nhiều tầng logic khác nhau. Các tầng này mô tả sự trình bày dữ liệu, ứng dụng logic, và các dịch vụ dữ liệu. Điều này được miêu tả trong hình 3.2



Hình 3.2: Kiến trúc ứng dụng xí nghiệp


  • Tầng trình bày dữ liệu

Tầng trình bày dữ liệu còn được gọi là dịch vụ người dùng, nó cho phép người dùng duyệt và truy cập vào dữ liệu. Tầng ứng dụng logic cung cấp các dịch vụ cho tầng trình bày dữ liệu.

  • Tầng logic ứng dụng

Tầng logic ứng dụng chứa logic ứng dụng, cái định nghĩa các luật và các quy trình. Tầng logic ứng dụng tăng lên tính trải rộng; tốt hơn truy cập một CSDL một cách trực tiếp bởi nhiều client (với mỗi client yêu cầu một kết nối riêng biệt), các client có thể kết nối vào các dịch vụ kinh doanh cái mà sẽ kết nối vào các máy chủ CSDL. Các dịch vụ kinh doanh có thể là các thành phần hoặc các ứng dụng tích hợp và các dịch vụ, như là dịch vụ web. Tầng logic ứng dụng cũng có thể chứa các thành phần sử dụng dịch vụ giao dịch, dịch vụ thông điệp, hoặc đối tượng và dịch vụ quản lý kết nối.

  • Tầng dịch vụ dữ liệu

Tầng dịch vụ dữ liệu chứa logic truy cập dữ liệu và khu lưu trữ dữ liệu. Các dịch vụ này có thể kết hợp với SQL Server lưu trữ các thủ tục để kiểm soát sự di chuyển dữ liệu và tính toàn vẹn trên máy chủ CSDL.

      1. Các mô hình được phân tầng

Vì các ứng dụng xí nghiệp rất lớn và phức tạp, lựa chọn tốt nhất để thiết kế các ứng dụng là sử dụng phương pháp module hóa. Nó bao hàm việc chia nhỏ dự án lớn thành các phần (molule) có thể quản lý được, mỗi phần được thiết kế để thực hiện một chức năng khác nhau. Các phần này có thể được kiểm thử một cách độc lập với các phần khác, và sau đó kết hợp lại thành dự án cuối cùng. Các phần này, cũng còn được gọi là các thành phần độc lập, có thể được sử dụng lại trong các dự án khác có cùng yêu cầu về chức năng.

Cùng với sự thay đổi về nhu cầu của khách hàng và sự phát triển của công nghệ trong công nghiệp phần mềm, những năm đầu của thập kỷ 90 ta đã thấy sự thay đổi trong cách mà các ứng dụng xí nghiệp được phát triển. Các nhà cung cấp ứng dụng xí nghiệp truyền thống đã thay đổi từ hai tầng, mô hình ứng dụng client-server sang mô hình ứng dụng ba tầng. Sự phát triển nhanh chóng của mô hình mới này đã thúc đẩy sự giới thiệu về các dịch vụ trung gian khác nhau như là dịch vụ giám sát phiên giao dịch, dịch vụ hướng thông điệp, và đối tượng yêu cầu dịch vụ. Trong mô hình ba tầng, các business logic (nghiệp vụ) được đặt trong tầng trung gian. Các ứng dụng xí nghiệp được triển khai trên mạng intranet hoặc internet. Vì thế, nó tạo ra xu thế yêu cầu các máy trạm nhỏ và nhẹ tạo điều kiện dễ dàng cho việc triển khai.



  • Sử dụng mô hình hai tầng

Với sự xuất hiện của máy tính cá nhân, nhiệm vụ chạy ứng dụng và xử lý dữ liệu được chia sẻ giữa trung tâm máy chủ và các máy trạm đầu cuối (PCs). Các máy trạm sẽ gửi yêu cầu đến máy chủ, các yêu cầu sẽ được xử lý và kết quả sẽ được gửi trả về. Máy trạm sau đó có thể xử lý dữ liệu này theo các yêu cầu. Kịch bản này được biết đến như là tính toán client-server và đã được đưa ra trong hình 3.3:



Hình 3.3: Mô hình hai tầng

Như vậy, trong kiến trúc client-server, xử lý được chia sẻ giữa các client (máy trạm) và các server (máy chủ) và chúng vượt qua được khoảng cách về mặt địa lý.

Để sử dụng mô hình này, giao diện và logic ứng dụng có thể được đặt trên client và các dịch vụ dữ liệu được đặt trên server. Tuy nhiên, logic ứng dụng viết trong các thủ tục lưu trữ có thể được đặt trên server. Một giải pháp hoà trộn cũng có thể được sử dụng ở đó ứng dụng logic được chia ra giữa client và server.

Các mô hình hai tầng ít khi được sử dụng khi được so sánh với các mô hình ứng dụng nhiều tầng, bởi vì sự phát triển ngày càng phổ biến của các ứng dụng internet. Cũng bởi vì, chúng không có khả năng trải rộng như ứng dụng đa tầng.



  • Sử dụng mô hình ba tầng

Trong khi phát triển các ứng dụng, người dùng có thể đạt độ chính xác và độ tin cậy cao nếu tuân thủ theo các qui tắc của một chuẩn nào đó. Một mô hình được Microsoft đề nghị là mô hình dịch vụ ba tầng, ngoài ra còn được gọi là mô hình ứng dụng.

Mô hình ứng dụng chia ứng dụng thành ba nhóm dịch vụ. Dịch vụ này có thể trích dữ liệu từ một file hoặc CSDL, hiệu chỉnh dữ liệu, xác thực dữ liệu hoặc hiển thị nó ở phía người dùng đầu cuối.

Một dịch vụ là một mã nguồn mà cài đặt một số chức năng trong chương trình. Ba nhóm dịch vụ được cung cấp bởi mô hình đó là:


      • Dịch vụ người dùng

Tầng này cũng còn được biết đến đó là giao diện. Nó được liên kết với giao diện người sử dụng, mà mô tả dữ liệu ở phía người dùng. Nó có thể là một chương trình thực thi được chạy trên máy trạm hoặc một thành phần cụ thể được đặt trên đối tượng khung chứa (container) chẳng hạn như là một biểu mẩu. Khi chương trình được thực thi, đối tượng biểu mẫu (form) xuất hiện như là một cửa sổ ở phía người dùng.

      • Dịch vụ kinh doanh

Tầng này được biết như là “tầng ứng dụng-server”, đây là một tầng nằm giữa giao diện người dùng và CSDL. Về mặt vật lý tiến trình của client “nói chuyện” với server đặt tại tầng này. Đây là tầng bao gồm các tác vụ như là nghiệp vụ kinh doanh và cài đặt logic, xác thực dữ liệu, và truy cập logic dữ liệu.

Thông thường, các nghiệp vụ kinh doanh thường có sự thay đổi nhiều hơn là tác vụ thực cần được thực thi bởi chương trình. Vì thế, chúng tốt nhất được thực thi như là các thành phần, ở đó toàn bộ chương trình không cần phải thay đổi, chỉ thành phần nào cần thiết thì mới được thay đổi



      • Dịch vụ dữ liệu

Đây là tầng liên quan đến sự tương tác với nguồn dữ liệu thực tế. Bốn vùng chức năng trong tầng dữ liệu đó là: truy xuất dữ liệu, chèn dữ liệu, cập nhật dữ liệu, và xoá dữ liệu. Kịch bản của kiến trúc ba tầng được mô tả trong hình 3.4



Hình 3.4: Mô hình đa tầng

Mô hình đa tầng, cũng còn được biết như là mô hình n-tầng hoặc mô hình ba tầng, nó cho phép phân tán logic xuyên qua các ứng dụng. Các nghiệp vụ kinh doanh có thể được cách ly khỏi client hoặc CSDL. Khi mô hình này được đưa vào Internet, dịch vụ trình diễn được chia ra giữa trình duyệt ở phía client và Web Server. Web Server định dạng các trang web mà trình duyệt hiển thị.

Mô hình đa tầng có tính trải rộng cao cho phép số lượng client lớn và rất nhiều ứng dụng, việc xử lý có thể được chia sẻ trên nhiều máy tính. Mô hình đa tầng có hệ thống và dễ dàng quản lý bởi vì bất kỳ sự thay đổi nào được tạo ra từ một nghiệp vụ kinh doanh có thể được cô lập mà không ảnh hưởng đến các tầng khác.


    1. CSDL Hệ thống

Trong SQL Server 2005, tất cả hệ thống liên quan đến thông tin được lưu trữ trong hệ thống CSDL. Tất cả CSDL người dùng, mà được tạo ra bởi người sử dụng, được quản lý bởi hệ thống CSDL. Bảng 3.1 mô tả sự khác nhau giữa CSDL Hệ thống trong SQL Server 2005.

CSDL Hệ thống

Mô tả

CSDL master

Ghi lại tất cả thông tin mức hệ thống của SQL Server

CSDL msdb

Được sử dụng bởi SQL Server Agent cho việc hoạch định cảnh báo và các công việc.

CSDL model

Được sử dụng như là mẫu cho tất cả các CSDL được tạo ra trên SQL Server. Những sự thay đổi trên CSDL model, như thay đổi kích thước CSDL, thứ tự, khôi phục model, và các lựa chọn CSDL khác, được thêm vào cho bất kỳ CSDL nào được tao ra sau này.

CSDL Resource

Là một CSDL chỉ đọc chứa đựng các đối tượng hệ thống được bao gồm với SQL Server 2005. Đối tượng hệ thống về mặt vật lý được mô tả trong CSDL Resource, nhưng về mặt logic chúng xuất hiện trong lược đồ sys của mỗi CSDL.

CSDL tempdb

Là một không gian làm việc chứa các đối tượng tạm thời hoặc các tập kết quả trung gian.

Bảng 3.1: SQL Server 2005 – CSDL hệ thống

    1. Các file CSDL và các nhóm file

Trong SQL Server 2005, mỗi CSDL được ánh xạ qua một tập hợp các file. Dữ liệu và thông tin nhật ký được bảo trì trong các file riêng biệt, và mỗi file được sử dụng bởi chỉ một CSDL.

Về cơ bản có ba kiểu file trong CSDL SQL Server 2005. Mỗi kiểu file được mô tả như bên dưới



  • Các file dữ liệu sơ cấp

Mỗi CSDL có một file dữ liệu chính. File dữ liệu chính là điểm bắt đầu của CSDL và trỏ đến các file khác trong CSDL. Tên file mở rộng được khuyến nghị cho các file dữ liệu chính là .mdf.

  • Các file dữ liệu thứ yếu

Các file dữ liệu thứ yếu chứa đựng tất cả các file dữ liệu, trừ ra các file dữ liệu chính. Tên file phần mở rộng được khuyến nghị cho các file dữ liệu thứ yếu là .ndf. Một số CSDL có thể không có bất kỳ file dữ liệu thứ yếu nào, trong khi một số CSDL có nhiều hơn một file dữ liệu thứ yếu.

  • Các file nhật ký

Các file nhật ký chứa đựng tất cả thông tin nhật ký được sử dụng để phục hồi CSDL. Phải có ít nhất một file nhật ký cho mỗi CSDL, nhưng có thể có nhiều hơn một. Tên file mở rộng được khuyến nghị cho các file nhật ký là .ldf.

Không bắt buộc phải sử dụng phần mở rộng tên file là .mdf, .ndf và .ldf, nhưng các phần mở rộng này giúp nhận dạng các loại file và sử dụng của chúng.



      1. Các nhóm file CSDL

Các nhóm file là tập hợp của các đối tượng CSDL và các file cho sự cấp phát dữ liệu và các mục đích quản trị. Có hai kiểu nhóm file đó là:

  • Sơ cấp (Primary)

Nhóm file sơ cấp chứa đựng file dữ liệu chính và cũng là các file không được gán một cách đặt biệt cho bất kỳ nhóm file nào.

  • Người dùng định nghĩa

Nhóm file người dùng định nghĩa là bất kỳ nhóm file nào mà được chỉ ra bằng việc sử dụng từ khoá FILEGROUP tại thời điểm tạo ra hoặc hiệu chỉnh một CSDL

Các file nhật ký không bao giờ là một thành phần của nhóm file. Không gian nhật ký được quản lý một cách riêng biệt từ không gian dữ liệu. Không có file nào có thể là thành viên của nhiều hơn một nhóm file. Các bảng, chỉ mục và đối tượng dữ liệu mới có thể được liên kết với một nhóm file được chỉ định. Một nhóm file trong mối CSDL được định rõ như là một nhóm file mặc định. Chỉ một nhóm file tại một thời điểm có thể là nhóm file mặc định. Nếu không có nhóm file mặc định được chỉ rõ, thì nhóm file chính là nhóm file mặc định.

Các file trong SQL Server 2005 có thể có các tên file logic và vật lý. Chúng được miêu tả như sau:


  • logic_file_name

Các file vật lý trong các câu lệnh Transact-SQL được tham chiếu bởi tên file logic. Tên file logic phải tuân theo các luật cho các định danh SQL Server và sẽ là duy nhất nằm trong số các tên file logic trong CSDL.

  • os_file-name

os_file_name liên quan đến các file vật lý bao gồm đường dẫn thư mục. Nó phải tuân theo các luật cho các tên file hệ điều hành.

    1. Kiến trúc CSDL

Trong SQL Server 2005, các file và các CSDL được tổ chức theo một cách riêng biệt. Trong chương này mô tả kiến trúc vật lý SQL Server 2005 và làm thế nào các thành phần của CSDL làm việc kết hợp với nhau để việc quản lý dữ liệu đạt được sự hiệu quả.

Dữ liệu trong CSDL được sắp xếp có phương pháp thành một số lượng các thành phần logic mà hiện hữu với những người sử dụng. Mặt khác, CSDL bản thân nó được cài đặt một cách vật lý vào hai hoặc nhiều file trên đĩa cứng.



Hình 3.5 minh hoạ cơ bản sự khác nhau giữa cách nhìn của người dùng và sự cài đặt vật lý của CSDL. Một người dùng căn bản truy cập vào một CSDL qua các thành phần logic (như là, lấy ví dụ, các bảng, các khung nhìn, và các thủ tục). Sự cài đặt vật lý của các file là nhiều hoặc ít hơn việc xoá và mở. Nó là người quản trị CSDL người thường sẽ liên quan với sự cài đặt vật lý của các file.



Hình 3.5: Khung nhìn người dùng và sự cài đặt vật lý của một CSDL

      1. Các thành phần CSDL logic

Các thành phần CSDL logic bao gồm các đối tượng CSDL, đăng nhập, người dùng, vai trò, nhóm và sự sắp xếp.

  • Các đối tượng CSDL

Khi một người dùng đã kết nối vào một CSDL SQL Server 2005, CSDL xuất hiện như là một sự tổ chức của các thành phần khác nhau. Bảng 3.2 đưa ra một sự mô tả vắn tắt cho các đối tượng chính trong một CSDL.

Đối tượng

Sự mô tả

Bảng(Table)

Một đối tượng trong một CSDL để lưu trữ dữ liệu như một tập hợp của các hàng và các cột.

Kiểu dữ liệu (Data Type)

Một thuộc tính để chỉ ra kiểu của dữ liệu mà có thể được lưu trữ trong một cột, tham số, hoặc biến. SQL Server 2005 hỗ trợ cả dữ liệu được hệ thống-cung cấp cũng như là kiểu dữ liệu người dùng định nghĩa.

Khung nhìn (View)

Một đối tượng CSDL có thể được tham chiếu theo cách tương tự như một bảng trong các câu lệnh SQL. Các khung nhìn được tạo ra bởi việc sử dụng câu lệnh SELECT và có thể so sánh với một đối tượng chứa đựng tập kết quả của cùng câu lệnh SELECT.

Thủ tục lưu trữ (Stored procedure)

Một thủ tục lưu trữ là một tập hợp của các câu lệnh đã viết và đã được biên dịch được lưu dưới một tên và được xử lý như là một đơn vị trong CSDL. Nếu có cùng truy vấn được tìm thấy được sử dụng lại nhiều lần, ta nên đặt nó thành một thủ tục được lưu trữ. SQL Server cung cấp các thủ tục lưu trữ cho việc quản lý SQL Server và cho việc hiển thị thông tin về các CSDL và những người dùng. SQL Server đã cung cấp các thủ tục lưu trữ được biết đến như là các thủ tục lưu trữ hệ thống.

Hàm (Function)

Tương tự như các ngôn ngữ lập trình, SQL Server 2005 cũng hỗ trợ cách sử dụng hàm. Hàm là một đoạn mã nguồn mà hoạt động như một đơn vị logic. Mỗi hàm có một tên và được định nghĩa để chấp nhận các tham số đầu vào và trả về một trạng thái hoặc tuỳ chọn các tham số đầu ra.

Chỉ mục (index)

Một đối tượng CSDL cung cấp sự truy cập nhanh đến dữ liệu của một bảng dựa vào giá trị khoá của nó.

Ràng buộc (Constraint)

Ràng buộc là một thuộc tính mà có thể được gán vào một cột hoặc gán vào các cột trong một bảng để tăng tính toàn vẹn dữ liệu. Các ràng buộc được thêm vào để ngăn chặn các dữ liệu không phù hợp nhập vào cho một bảng. Lấy ví dụ, một ràng buộc UNIQUE hoặc PRIMARY KEY hạn chế nhập dữ liệu trùng vào một bảng; một ràng buộc CHECK tác dụng lên toàn vẹn miền giá trị bởi sự giới hạn các giá trị mà được chấp nhận bởi một cột, NOT NULL ngăn chặn các giá trị rỗng.

Bẫy lỗi (Trigger)

Các Trigger là các thủ tục được lưu trữ đặc biệt mà được thực hiện để phúc đáp cho bất kỳ sự thay đổi đã thực hiện cho một bảng.

Bảng 3.2 SQL Server 2005 – Các đối tượng CSDL

  • Đăng nhập(Login), Người dùng(User), Vai trò(Role), và Nhóm(Group)

SQL Server 2005 thực thi bảo mật theo các đối tượng đăng nhập, người dùng, vai trò, và nhóm. Sự chứng thực trong SQL Server định danh người dùng sử dụng định danh đăng nhập (ID) cho các CSDL. Nếu sự chứng thực thành công, thì người dùng được kết nối vào SQL Server. Người dùng chỉ có thể truy cập vào các bảng và các khung nhìn theo phạm vi được cấp phép phép cho họ trên các CSDL. Bảng 3.3 mô tả vắn tắt cho mỗi kiểu của cơ chế bảo mật.

Kỹ thuật bảo mật

Sự mô tả

Đăng nhập (Login)

Một người dùng phải được gán với một nhận dạng đăng nhập để kết nối vào SQL Server 2005. SQL Server nhận dạng hai kỹ thuật chứng thực đăng nhập: Chứng thực dựa trên Windows và chứng thực dựa trên SQL Server. Cả hai kỹ thuật có các kiểu tài khoản đăng nhập khác nhau.

Người dùng (User)

Các tài khoản người dùng nhận dạng một người dùng trong phạm vi một CSDL. Sau khi một người dùng đã được chứng thực bởi Windows hoặc SQL Server và đã được cho phép đăng nhập vào SQL Server, thì người dùng phải có tài khoản trong một CSDL. Tất cả sự cho phép và quyền sở hữu của các đối tượng trong CSDL được điều khiển bởi tài khoản người dùng. Ví dụ tài khoản người dùng JOHN trong CSDL bán-hàng là khác với tài khoản người dùng JOHN trong CSDL kho-hàng mặc dù cả hai tài khoản có cùng ID.

Vai trò (Role)

Các vài trò được sử dụng để nhúng các người dùng vào một vai hoặc một nhóm, một vai hoặc nhóm tương ứng với tập hợp các quyền được cung cấp. Các quyền được cung cấp tự động khi những người dùng trở thành thành viên của vai trò .

Nhóm (Group)

Các nhóm SQL Server cung cấp một cách thuận lợi để tổ chức một lượng lớn server vào các nhóm có thể quản lý được. Một nhóm server có thể được đặt tên và được mô tả để cho phép người sử dụng dễ dàng tìm kiếm các server.

Bảng 3.3: SQL Server 2005 – Đăng nhập, người dùng, vai trò và nhóm

  • Thứ tự sắp xếp

Thứ tự sắp xếp chỉ ra các quy luật cho việc sắp xếp và so sánh các chuỗi dữ liệu ký tự, dựa vào quy tắc của các ngôn ngữ và địa phương cụ thể. Thứ tự sắp xếp điều khiển cách thức các chuỗi ký tự trong SQL Server 2005 được lưu trữ bên trong nó. Lấy ví dụ, để sắp xếp một số dữ liệu, một người nói tiếng Anh sẽ sắp xếp chuỗi ký tự “China” trước “Columbia” trong thứ tự tăng dần. Nhưng một người nói tiếng Tây Ban Nha có thể yêu cầu các từ bắt đầu với “Ch” xuất hiện tại vị trí cuối của các từ bắt đầu với “C”. Vì thế, tổng quát sắp xếp tiếng Anh sẽ sắp xếp “China” trước “Columbia” trong thứ tự tăng dần, trong khi đó sắp xếp theo tiếng Tây Ban Nha truyền thống sẽ sắp xếp “China” sau khi “Columbia”.

      1. Kiến trúc vật lý của CSDL

Trong phần này, sẽ mô tả các file và các CSDL được tổ chức như thế nào trong SQL Server 2005. Bởi vì, trong khi tạo một CSDL, điều quan trọng là SQL Server lưu trữ dữ liệu như thế nào để tính toán và xác định không gian đĩa trống cấp phát cho CSDL đó.

  • Trang và Phạm vi (Pages and Extents)

Trang là đơn vị nhỏ nhất của việc lưu trữ dữ liệu trong SQL Server 2005 . SQL Server cấp phát 8KB cho mỗi trang.

Mỗi trang bắt đầu với phần đầu trang chứa các thông tin về loại trang, không gian trống trong trang và định danh(identifier-ID) của người sở hữu trang. Dữ liệu trong mỗi hàng được chứa tuần tự trên các trang và chứa dữ liệu thực. Cấu trúc của trang được mô tả như hình 3.6.





Hình 3.6: Các mục nhập trong khoảng chừa trống và các hàng trong bảng.

Phạm vi là đơn vị gốc trong các không gian được cấp phát đến các bảng. Tất cả các trang được lưu trữ và quản lý hiệu quả trong các phạm vi. Một phạm vi là một tập hợp của 8 trang liên tiếp nhau và có kích thước 64KB.



  • Nhóm tập tin (Filegroup) và các tập tin CSDL (Database Files)

SQL Server 2005 ánh xạ các CSDL của nó sang một tập hợp các tập tin hệ thống. Dữ liệu và thông tin nhật ký không bao giờ được trộn chung trong cùng một tập tin và các tập tin riêng rẻ chỉ được sử dụng bởi các CSDL riêng rẻ.

  • Sự cấp phát vùng trống và tái sử dụng

SQL Server 2005 cấp phát nhanh chóng các vùng nhớ đến các đối tượng và tái sử dụng các vùng trống tự do bằng cách xóa các hàng. Các quá trình xử lý này xảy ra bên trong hệ thống và các cấu trúc dữ liệu đã sử dụng sẽ không hữu hình đối với người sử dụng. Tuy nhiên, các xử lý và các cấu trúc này thỉnh thoảng được tham chiếu trong các thông điệp của SQL Server.

  • Kiến trúc bảng và chỉ mục (Table and Index Architecture )

Cấu trúc bảng và chỉ mục trong SQL Server 2005 sẽ mô tả cách các trang dành cho các bảng và chỉ mục được tổ chức như thế nào. Mỗi một bảng hoặc một chỉ mục, các hàng dữ liệu được lưu trữ trong các trang 8KB liền kề nhau. Phần đầu trang chứa các nhận dạng là bảng chủ sỡ hữu của trang.

Các bảng SQL Server 2005 sử dụng một trong hai phương thức sau để tổ chức các trang dữ liệu của chúng:



    • Bảng Clustered

Bảng Clustered là các bảng có một chỉ mục clustered. Chỉ mục clustered là chỉ mục mà gần như nó sắp xếp và lưu trữ các hàng dữ liệu trong bảng dựa vào các giá trị khóa. Trong trường hợp này, sự sắp xếp vật lý của các hàng dữ liệu được xác định bằng sự sắp xếp logic của các giá trị khóa.

    • Heaps

Heap là bảng không có chỉ mục clustered. Các hàng dữ liệu không được lưu trữ theo một thứ tự nhất định.

  • Kiến trúc nhật kí giao dịch

Mỗi một CSDL SQL Server 2005 đều có một nhật ký giao dịch, nó ghi lại tất cả các giao dịch và sự thay đổi CSDL được thực hiện bởi các giao dịch. Vì vậy, việc ghi lại các giao dịch và các thay đổi của chúng hỗ trợ 3 thao tác sau:

    • Phục hồi các giao dịch riêng lẻ.

    • Phục hồi tất cả các giao dịch chưa hoàn tất khi SQL Server đã được bắt đầu.

    • Hoàn trả lại trạng thái CSDL ban đầu nếu lỗi xảy ra.

      1. Kiến trúc bộ máy CSDL quan hệ

Trong phần này sẽ mô tả các đặc trưng của một bộ máy CSDL và các thành phần máy chủ trong SQL Server 2005. Máy chủ (server) nhận các câu lệnh SQL từ phía máy khách (client) và xử lý tất cả các hành động được yêu cầu để hoàn thành các câu lệnh.

Bộ máy CSDL quan hệ có 2 phần chính: phần quan hệ và phần lưu trữ. Một điểm thay đổi kiến trúc quan trọng nhất của SQL Server 2005 là đã tách biệt hoàn toàn phần quan hệ và phần lưu trữ trong máy chủ. Hình 3.7 chỉ ra các thành phần chính của bộ máy CSDL.





Hình 3.7: Các thành phần trong bộ máy CSDL quan hệ

  • Cấu trúc xử lý truy vấn

Chỉ các lệnh được gửi từ các ứng dụng client đến SQL Server 2005 là các câu lệnh SQL . Điều này có nghĩa là tất cả các công việc được thực hiện bởi một phiên bản SQL Server là kết quả của việc chấp nhận, biên dịch và thực thi các câu lệnh SQL. Các câu lệnh SQL được thực thi bởi SQL Server sử dụng một trong các cách sau:

    • Xử lý từng câu lệnh SQL đơn.

    • Xử lý lô.

    • Thực thi các thủ tục lưu trữ và bẫy lỗi.

    • Thực thi kế hoạch lưu trữ tạm và tái sử dụng

    • Xử lý truy vấn song song.

  • Cấu trúc bộ nhớ

Microsoft SQL Server 2005 có thể tự động cấp phát và giải phóng vùng nhớ nếu nó cần. Trên thực tế, người quản trị có thể điều khiển được việc cấp phát này.

Một trong những mục đích chính khi thiết kế phần mềm CSDL là giảm đến mức tối đa dung luợng I/O (vào/ ra), bởi vì việc đọc và ghi đĩa nằm trong số các thao tác đòi hỏi tài nguyên nhiều nhất. SQL Server tạo ra một vùng đệm trong bộ nhớ để lưu trữ các trang đọc từ CSDL. Nhiều đoạn mã trong SQL Server được dành để giảm bớt số lần đọc và ghi vật lý giữa đĩa và vùng đệm. SQL Server cố gắng giành một khoảng trống giữa hai đối tượng.



  • Cấu trúc luồng và thao tác

Luồng là đặc trưng của hệ điều hành, nó hỗ trợ các con đường thực thi khác nhau để chạy đồng thời các ứng dụng logic. Đặc trưng này hữu ích khi các ứng dụng phức tạp có nhiều tác vụ cần thiết thực hiện cùng một thời điểm.

Khi một hệ điều hành thực thi một thể hiện của một ứng dụng, nó tạo một phương thức để quản lý thể hiện đó. Mỗi một phương thức có một luồng thực thi. Ứng dụng có thể dành luồng này bằng cách bắt đầu các xử lý riêng biệt cho mỗi thao tác. Tuy nhiên, bắt đầu một phương thức đòi hỏi tài nguyên hệ điều hành. Thay vì vậy, một ứng dụng bắt đầu các luồng riêng rẽ.

Các luồng cho phép các ứng dụng phức tạp để tăng hiệu quả sử dụng CPU ngay cả khi làm việc trên máy tính với CPU đơn.


  • Cấu trúc Input/Output (vào ra)

Các thao tác vào/ra tiêu tốn một khối lượng lớn tài nguyên .

SQL Server 2005 cấp phát một khối lượng lớn cho vùng nhớ ảo của nó để làm vùng nhớ đệm và sử dụng làm giảm việc vào/ra vật lý.

Việc vào/ra từ một thể hiện của SQL Server 2005 được chia làm 2 loại vào/ra logic và vào/ra vật lý. Việc đọc logic xuất hiện mỗi lần máy CSDL yêu cầu một trang từ vùng nhớ đệm. Việc đọc vật lý được thi hành khi dữ liệu yêu cầu không tìm thấy trong vùng nhớ đệm. Vùng nhớ đệm sử dụng đơn giản các trang mà chúng thực sự xuất hiện trong bộ nhớ máy tính. Việc ghi logic xuất hiện khi dữ liệu bị thay đổi trong trang trong bộ nhớ. Việc ghi vật lý xuất hiện khi một trang được ghi lên đĩa.


  • Cấu trúc truy vấn phân tán

Đối với ứng dụng tập trung, CSDL có thể được đặt ở các vùng từ xa thông qua mạng máy tính. Trong viễn cảnh như vậy, các câu lệnh SQL được trao đổi qua mạng để xử lý và truy lục dữ liệu đến các client. Đây là khái niệm về cấu trúc trúc vấn phân tán.

Truy vấn phân tán có thể truy xuất dữ liệu từ nhiều nguồn dữ liệu hỗn hợp được lưu trữ trên các máy tính cục bộ hoặc từ xa. SQL Server 2005 hỗ trợ truy vấn phân tán sử dụng OLE DATABASE Provider.



TÓM TẮT BÀI HỌC

  • SQL Server 2005 là một hệ quản trị CSDL quan hệ và cũng hoạt động như một hệ nền dữ liệu ở cấp độ xí nghiệp.

  • Một số chức năng mới và sự cải tiến mới của SQL Server 2005 là dịch vụ thông báo, môi giới dịch vụ, dịch vụ báo cáo và sự cải tiến máy CSDL.

  • Dịch vụ thông báo là một trong những thành phần mới được thêm vào trong SQL Server 2005, mà cung cấp sự thông báo đến CSDL người dùng trong trường hợp có bất kỳ sự thay đổi nào trong CSDL.

  • Tầng dịch vụ dữ liệu trong kiến trúc ba tầng tương tác với nguồn dữ liệu thật. Bốn vùng chức năng trong tầng dịch vụ dữ liệu đó là: truy xuất dữ liệu, chèn dữ liệu, cập nhật và xoá dữ liệu.

  • SQL Server 2005 có hai kiểu CSDL: CSDL hệ thống và CSDL người sử dụng, các CSDL hệ thống là nơi lưu trữ thông tin để thực hiện và quản lý SQL Server, trong khi CSDL người dùng được tạo ra bởi người dùng.

  • Người quản trị hệ thống SQL Server có thể sao lưu và phục hồi các file riêng biệt hoặc các nhóm file thay vì sao lưu hoặc khôi phục một thực thể CSDL. Các file sao lưu hoặc nhóm file là cần thiết trên các CSDL lớn để có được một chiến lược sao lưu và phục hồi một cách hiệu quả.

  • SQL Server kiểm tra người dùng tại hai cấp độ của sự chứng thực thông qua sự chứng thực SQL Server, hoặc sự chứng thực Windows NT.

  • Máy CSDL quan hệ của SQL Server 2005 căn bản gồm có như sau:

    • Kiến trúc bộ xử lý truy vấn

    • Kiến trúc bộ nhớ

    • Kiến trúc luồng và tác vụ

    • Kiến trúc vào/ra

    • Kiến trúc truy vấn phân tán




: files
files -> Sạt-đe rằng: Nầy là lời phán của Đấng có bảy vì thần Đức Chúa Trời và bảy ngôi sao
files -> HƯỚng dẫn càI ĐẶt và SỬ DỤng phần mềm tạo bài giảng e-learning
files -> VIỆn chăn nuôi trịnh hồng sơn khả NĂng sản xuất và giá trị giống của dòng lợN ĐỰc vcn03 luậN Án tiến sĩ NÔng nghiệp hà NỘI 2014
files -> ĐẠi học quốc gia hà NỘi trưỜng đẠi học khoa học tự nhiên nguyễn Thị Hương XÂy dựng quy trình quản lý CÁc công trìNH
files -> PHỤ LỤC 2 TỔng hợp danh mục tài liệu tham khảO
files -> BÁo cáo quy hoạch vùng sản xuất vải an toàn tỉnh bắc giang đẾn năM 2020 (Thuộc dự án nâng cao chất lượng, an toàn sản phẩm nông nghiệp và phát triển chương trình khí sinh học ) Cơ quan chủ trì
files -> BỘ TÀi nguyên và MÔi trưỜng
files -> 1. Mục tiêu đào tạo: Mục tiêu chung


1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   15


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương