Có Và Không ht như Điển o0o Nguồn



tải về 1.14 Mb.
trang9/22
Chuyển đổi dữ liệu06.06.2018
Kích1.14 Mb.
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   ...   22

Huyền Trang



Ngài Huyền Trang Tam Tạng ở chùa Đại Từ Ân đời Đường họ Trần vốn tên tục là Vĩ, người ở Yển Sư. Anh ngài tên là Tiệp, xuất gia trước ở chùa Tịnh Độ tại Lạc Dương. Huyền Trang năm 13 tuổi cũng xuất gia vào ở chùa Tịnh Độ, theo Tuệ Cảnh nghe Kinh Niết Bàn, theo Nghiêm pháp sư học Nhiếp Đại Thừa Luận, nổi tiếng từ sớm. Năm Vũ Đức 1, Ngài và người anh cùng vào Trường An, được ít lâu thì tới Thành Đô, theo hai sư Đạo Cơ, Bảo Thiên học Nhiếp Luận; Tì Đàm, theo Chấn pháp sư nghe giảng Phát Trí Luận. Năm Vũ Đức 5 thì thụ giới Cụ Túc. Sư học Luật bộ xong rồi thì tới Kinh Châu giảng Nhiếp Luận; Tì Đàm. Tới Tương Châu yết kiến Tuệ Hưu. Tới Triệu Châu, học Thành Thực Luận ở Ngài Đạo Thâm. Ít lâu sau vào Trường An theo Đạo Nhạc học Luận Câu Xá. Bấy giờ có hai vị Đại Đức là Pháp Thường và Tăng Biện danh tiếng đứng đầu ở chốn Thượng kinh, giảng khắp Nhiếp Đại Thừa Luận. Ngài lại đến nghe, nhưng vì tông chỉ đường lối các sư mỗi vị mỗi khác, thánh điển cũng vốn có chỗ tối nghĩa nên không biết theo thuyết nào là đúng. Vì vậy Ngài định Tây Du để xác minh. Ngài dâng biểu xin, nhưng nhà vua không cho. Song nghĩ không vì thế mà chịu khuất. Tháng 8 năm Trinh Quán (có thuyết nói là năm Trinh Quán 1 hoặc tháng 4 năm Trinh Quán 3), Ngài đã một mình lên đường viễn du muôn dặm, nếm trải đủ mùi gian khổ, đi qua các nước Tây Phiên. Đến năm Trinh Quán 7 thì tới Ấn Độ. Trên đường đi, Ngài đã gặp Mộc-xoa-cúc-đa ở nước Khuất Chi, đã lễ răng Phật, chậu tắm của Phật tại chùa Nạp-phọc ở nước Phọc-hát, đã theo vị tăng tên là Bát-nhã Yết-la ở nước Lịch-ca để học Tỳ-bà-sa luận, đã lễ tượng đá lớn ở nước Phạ-diễn-na. Tới nước Ca-tất-thí, Ngài đã an cư ở chùa Sa-lạc-ca, đã cùng với vị tăng Đại Thừa là Mạt-nô-nhã-cù-sa và các vị tăng thuộc Tát-bà-đa bộ là A-lê-đa, Phạt-ma v.v... cùng nhau hội pháp tập. Khi vào tới cõi Ấn Độ, Ngài đã đến nước Na-yết-la-hát để chiêm bái thành tích Nhiên Đăng thụ ký. Ngài còn đến thành Phật đỉnh cốt để lễ đỉnh cốt của Phật, lễ áo Tăng-già-đê (Samghati) của Phật, lễ ảnh Phật ở động Long Vương Cù-bà-la. Khi vào thành Bố-lộ-sa-bố-la, nước Kiện-đà-la, Ngài đã đến thăm chỗ ngồi của 4 Đức Phật quá khứ dưới cây Tì-bát-la và thăm chùa vua Ca-sắc-nhị-ca v.v... Ngài đến nước Ô-trượng-.na, đi chiêm lễ các nơi linh địa, chỗ xưa kia đức Phật tu hành đạo Bồ-Tát, các nơi Bồ-Tát đã ngàn đời thí nhẫn, cắt chặt thân thể, đâm mình nuôi năm Dược-xoa v.v... Ngài còn đến thăm bái các di tích chỗ Bồ-Tát xả ngàn đầu, chỗ Bồ-Tát lao mình vào cho hổ đói ăn thịt v.v... ở các nước Đát-xoa-thủy-la v.v... Tới nước Ca-thấp-di-la, theo Tăng-Xứng pháp sư học Luận Câu-xá; Nhân minh; Thanh minh luận; Thuận chính lý luận v.v... Ngài còn cùng các học tăng Đại Thừa là Tì-thành-đà, Tăng-ha v.v... nghiên cứu các kinh luận. Tới nước Kiệt-ca, Ngài học Bách luận; Quảng bách luận v.v... ở chỗ vị Trưởng Niên Ba-la-môn. Ở nước Chí-na-bộc-để, Ngài theo Tì-nhị-đa-bát liệp-bà học Đối pháp luận; Hiển tông luận; Lý môn luận v.v... Tới nước Tụy-lộc-cần-na, Ngài theo Dà-xa-cúc-đa nghe giảng kinh bộ Tỳ-bà-sa. Tới nước Xà-lạn-đạt-la, Ngài theo Chiên-đạt-la-phạt-ma học Chúng sự Tỳ-bà-sa. Khi vào nước Mạt-để-bổ-la, Ngài theo Mật-đa-tư-na vốn là đệ tử của Đức Quang học Biện chân luận; Tùy phát trí luận. Tới nước Kiếp-tì-tha, Ngài đến chiêu lễ tháp ba đường thềm báu mà đức Phật đã từ cõi trời giáng hạ. Tới nước Yết-nhã-cúc-xà, Ngài cùng Tì-li-da-tê-na đọc Phật thuyết Tỳ-bà-sa. Ngài còn đi khắp các nước Bát-la-da-già v.v... để chiêm bái các thành tích như chốn Phật sinh, chốn Phật nhập Niết-bàn, chốn Phật chuyển pháp luân. Ở thành Phệ-đa-bổ-la, Ngài được Bồ-tát tạng kinh. Ngài còn đến nước Ma-kiệt-đà, ở đây Ngài đã tới tòa kim cương dưới gốc cây bồ đề. Ngài còn đi lễ ở các chốn linh địa như núi Kỳ-xà-quật, Trúc-lâm tịnh xá v.v..., vào chùa Na-lan-đà, tôn Giới Hiền làm thầy và học Du-già luận v.v... Ngài còn nghe giảng các Luận Thuận chính lý; Hiển dương; Đối pháp v.v... nghiên cứu Phạn thư. Sau Ngài tới nước Y-lan-nã-bát-phạt-đa cùng với Đát-tha-yết-đa cúc-đa v.v... cùng nhau đọc các luận như Tỳ-bà-sa luận... Tới nước Kiều-tát-la, Ngài theo học Tập lượng luận với vị Bà-la-môn. Tới nước Đà-na-yết-kiệt-ca, Ngài theo các vị tăng thuộc Đại chúng bộ là Tô-bộ-để v.v... học Đại chúng bộ căn bản A-tì-đạt-ma và các kinh luận Đại Thừa. Tới nước Bát-phạt-đa, Ngài theo Đại Đức học Chính lượng bộ A-tì-đạt-ma; Nhiếp chính pháp luận v.v... Quay về nước Ma-kiệt-đà, Ngài tới chỗ Thắng Quân pháp sư ở núi Trượng lâm, học Duy thức quyết trạch luận; ý nghĩa lý luận; Trang nghiêm kinh luận v.v... Sư Tử Quang giảng hai bộ luận là Trung luận và Bách luận, phá nghĩa Du-già, thuật 3000 bài tụng Hội tông luận. Quang then đến đỏ cả mặt phải tháo lui. Ngài lại gặp Thuận thế ngoại đạo, cùng họ biện luận, chế phục được họ. Ngài được Phá Đại thừa luận gồm 700 bài tụng của luận sư Tiểu Thừa ở nước Ô-đồ chế tác, Ngài liền chỉ trích luận thuyết sai lầm của họ và sáng tác Phá ác kiến luận gồm 1600 bài tụng. Vua Giới Nhật Vương rất kính trọng hậu đãi Ngài, vì Ngài đã mở đại hội, hạ lệnh sai các học giả am hiểu nghĩa lý đến họp ở thành Khúc Nữ. Ngài được thỉnh lên ngồi trên giường, một mực nghị luận chuyên ca ngợi Đại Thừa, không một người nào phát biểu phản bác bắt bẻ được. Ít lâu sau Ngài cùng với vua Giới Nhật Vương cùng đến nước Bát-la-da-gia để dự đại hội năm năm tổ chức một lần. Sau đó Ngài về nước, năm Trinh Quán 19 thì về tới kinh đô, mang theo 657 bộ kinh sách bản tiếng Phạn mà Ngài sưu tầm được dâng lên triều đình. Vua Thái Tông sai đem dịch ở chùa Hoằng Phước. Năm Vĩnh Huy 3 đởi vua Cao Tông, Ngài xin với triều đình xây tháp lớn theo phép Tây Vực ở chùa Từ Ân. Năm Hiển Thánh 4, vua Cao Tông lấy cung Ngọc Hoa làm chùa, cung tiến tiên đế và sai Ngài ở đó. Năm sau, tại đây Ngài đã dịch kinh Đại Bát-Nhã. Tháng 2 năm Lân Đức 1, sai đệ tử là Phổ Quang sao lục các kinh luận mà Ngài đã dịch tất cả là 75 bộ gồm 1335 quyển. Ngày 5 tháng đó, Ngài tịch, thọ 65 tuổi. Về sự tích của Ngài, có thể xem kỹ ở Đại Đường Tây Vực ký; Quảng Hoằng Minh tập; Tục Cao Tăng truyện, q.4; Đại Từ Ân tự Tam Tạng pháp sư truyện; Phật Tổ thông tải, q.12, v.v...

Về lý thú Bát Nhã, về tư tưởng Bát Nhã, về triết lý Bát Nhã v.v... đã được trình bày đầy đủ nơi bộ Đại Bát Nhã và phần nầy trong các tạng Đại Chánh Tân Tu, Đại Chánh, Càn Long, Tục Tạng v.v... đều có ghi lại rất rõ ràng.

Nếu ai đó bỏ công cả một đời thì mới đọc xong các Đại Tạng nầy; đó là chưa kể các Tạng Pali, Tạng Tây Tạng, Tạng Mông Cổ v.v... Mỗi một Đại Tạng như thế có một nét đặc thù của nó. Vì mỗi nước đều có những bậc Tổ Sư truyền thừa, có các bậc danh tăng trong nhiều thời đại khác nhau và cũng được đưa vào Đại Tạng của mỗi quốc gia để làm phong phú cho văn hóa của xứ sở mình.

Ví dụ bộ Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh nguyên là một tạng bằng chữ Hán; nhưng được san định, ghi chép tại Nhật Bản vào thời vua Đại Chánh, tức phụ hoàng vua Chiêu Hòa và nội tổ của vua Bình Thành trong hiện tại. Bộ nầy có tất cả chừng 250.000 trang kinh gồm 100 bộ kinh, luật. luận. Nếu dịch ra tiếng Việt cho hoàn thành, chắc phải gấp đôi hoặc gấp ba con số bên trên. Ở đây xin tìm hiểu một ít về Đại Tạng kinh để chúng ta có một cái nhìn khái quát hơn.


---o0o---



1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   ...   22


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương