Bột Ngọt (monosodium glutamate msg) chấT ĐỘC! Hồ sơ tội ác của nàng bột ngọt !



tải về 113.04 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu23.08.2016
Kích113.04 Kb.
Bột Ngọt (monosodium glutamate - MSG) – CHẤT ĐỘC!

Hồ sơ tội ác của nàng bột ngọt”!

Năm 1908, tiến sĩ Kikunae Ikeda (khoa Hóa Viện đại học Hoàng gia ở Đông Kinh) phát hiện trong loại rong lá ấy có một hoạt chất làm cho thức ăn ngon ngọt. Đấy chính là chất “bột ngọt” ngày nay. Tại Mỹ, bột ngọt được gọi là Mono sodium glutamate. Tại Nhật, nó được gọi là Ajinomoto (“Aji” nghĩa là nguồn gốc, “moto” nghĩa là hương vị, “Ajinomoto”: nguồn gốc của những hương vị).

Năm 1909, Ikeda và dược sĩ Saburosuke Suzuki mở một công ty chuyên kinh doanh bột ngọt. Đến năm 1933, sản xuất bột ngọt tại Nhật Bản đã đạt đến 4500 tấn/năm. Bột ngọt trở thành gia vị quan trọng, nhất là tại các nước phương Đông.

Nếu ta đưa dư acid amin vào, cụ thể là bột ngọt, chúng sẽ được gan và thận làm việc “hết công suất” để biến thành dạng hòa tan, có thể ra ngoài theo nước tiểu. Nếu bt ngt đưa vào nhiu quá, gan và thn phi làm vic quá sc, t phi có ngày “hết pin”. T đó dn đến mt s ri lon khác. Bột ngọt còn là một chất truyền dẫn thần kinh. Chất này não có thể tự tiết ra khi cần (gọi là glutamat nội sinh). Dùng nhiu bt ngt, lượng glutamat tha s gây ri lon, làm suy thoái não.

Nguyên nhân gây nhiều căn bệnh

Bột ngọt còn là nguyên nhân của nhiều “tội ác”:

Gây suyễn: Năm 1981, bác sĩ Gary Backer thấy những bệnh nhân suyễn bị nặng hơn sau khi ăn các món của người Hoa. Tác động gây suyễn của bột ngọt đã được công bố.

Gây trầm cảm: Năm 1978, bác sĩ Artheur Colman phát hiện ra chứng trầm cảm ở một số bệnh nhân do sử dụng bột ngọt. Họ bị căng thẳng, buồn nôn, đau bụng nhẹ…

Nhức đầu: Triệu chứng này hay gặp nhất với những người nhạy cảm với bột ngọt.

Ảnh hưởng đến kinh nguyệt.



Giải pháp: thức ăn không bột ngọt

Nói chung, càng tránh dùng bột ngọt chừng nào càng tốt chừng nấy. Cách nấu không cần bột ngọt:

Nguyên liệu phải tươi.

Phải công phu mới có nước lèo ngọn, ngọt: nấu nhiều xương, củ cãi trắng, mía lau đập dập, võ tôm và đầu tôm cho vào túi vải mỏng hầm chung với xương.

Món kho có thể dùng đường thay thế. Không dùng bột ngọt cho trẻ em dưới 6 tuổi.

Lượng bột ngọt có thể cho vào thức ăn của người lớn là 2g nửa muỗng café) cho 0.5kg thịt, cá hay rau.

(Theo Dược sĩ Huy Cường / Vệ sinh dinh dưỡng và vệ sinh thực phẩm)

ADD:


Một công trình nghiên cứu khoa học của nhà nghiên cứu người Mỹ gốc Hàn Quốc Hwo Woong Zhong đăng trên tờ tạp chí Khoa học Mỹ số 7/1996 (Science No.7) với tên: “Hội chứng Cao Lâu hay Hội chứng món ăn nhà hàng Tàu” (Chinese Restaurant Syndromes) đã công bố những tác hại của việc dùng bột ngọt trong chế biến thực phẩm:

Nếu dùng bột ngọt nhiều sẽ gây những tác hại cho các nơron thần kinh duy trì chức năng trí nhớ. Mặc dù muối Natri gốc Axít glutamic có tác dụng làm giảm lượng Amoniắc trong hệ tuần hoàn não nên phần nào có tác dụng làm giảm đau đầu (một thời có người đã chữa chứng đau đầu bằng... ăn nhiều bột ngọt!). Nhưng sau đó, chính nó lại hạn chế khả năng trao đổi chất của các tế bào thần kinh, gây nên lão hoá. Đó chính là nguyên nhân làm suy giảm trí nhớ.

Từ công trình nghiên cứu khoa học trên đây, WHO và Tổ chức Lương Nông thế giới - FAO đã khuyến cáo: Không nên dùng bột ngọt trong chế biến cho trẻ em dưới 6 tuổi.

Theo thống kê thì Châu Âu và các nước phát triển hầu như không sử dụng bột ngọt trong chế biến thực phẩm.

Các nước sản xuất nhiều bột ngọt chỉ để...xuất khẩu (Mỹ tiêu thụ nội địa 0,7% sản lượng; Pháp 0,9%; Braxin 1%). Ngay tại Nhật, nước phát minh ra bột ngọt cũng chỉ làm ra để xuất khẩu, chứ tiêu thụ nội địa chỉ 1,5% sản lượng.

Một số trắc nghiệm của các nhà khoa học nghiện cứu hoá thực phẩm tại Anh và Mỹ còn chỉ ra rằng: Ăn nhiu bt ngt trong thc ăn mt ln có th gây triu chng bun nôn, chóng mt, nga d ng toàn thân hoc tng phn; đc bit là phn ng tăng nhanh nhp tim... rt nguy him cho người cao huyết áp.

Hiện nay, bột ngọt, bột canh (có bột ngọt với tên gọi chất điều vị) luôn là bạn đường thuỷ chung của các món ăn, nhà bếp Việt Nam. Bất kỳ món ăn nào của ta hiện nay cũng đều được nêm cỡ 1 muỗng cà phê bột ngọt là ít nhất. Ngay cả mì ăn liền cũng có tới 4gr bột ngọt/1 gói.

Ở Việt Nam có 2 nhà mày lớn sản xuất bột ngọt ở Việt Trì, Vedan ở Đồng Nai, cộng với nhiều nhà máy lớn nhỏ khác cũng chưa cung cấp đủ nhu cầu trong nước.

Hàng năm Việt Nam vẫn phải nhập khẩu bột ngọt từ Nhật, Đài Loan, Hàn Quốc, Braxin, và nhất là bột ngọt 3 không (không nhãn, không hạn sử dụng, và không xuất xứ nhà sản xuất) được nhập từ biên giới Trung Quốc.

Chúng ta đang tự đầu độc hoặc bị đầu độc bằng chất độc mang cái tên ngọt ngào “Bột ngọt”.

Đã đến lúc các nhà khoa học, các phương tiện thông tin đại chúng cần vào cuộc tuyên truyền, uốn nắn một thói quen có hại của việc lạm dụng bột ngọt trong chế biến thực phẩm.

Đừng để đến lúc các tác hại của hội chứng lạm dụng bột ngọt phát tác thì sẽ là quá muộn.

http://scvnlive.net/vbb/archive/index.php/t-5057.html

Bột ngọt 'ba không': đừng đùa giỡn mạng sống

Thứ hai, 26 Tháng 7 2010 10:39

http://www.angi.com.vn/an-toan-thuc-pham/diem-den/465-bot-ngot-ba-khong

"Không nhãn mác, không xuất xứ, không hạn sử dụng", đó là những đặc tính của bột ngọt này.

"Ngọt hơn, ngon hơn và chất lượng hơn" là những câu trả lời của hầu hết tiểu thương và người dân đang sử dụng loại bột ngọt "ba không" được nhập lậu từ Thái Lan, một loại bột ngọt đang tràn ngập các tỉnh miền Trung.

Không giống với loại "bột ngọt xá" cánh to trước đây, với giá chỉ bằng một nửa hoặc 2/3 so với các sản phẩm có tên tuổi, loại bột ngọt "ba không" nhập lậu từ Thái Lan được bán với giá tương đương những sản phẩm có tên tuổi trên thị trường.

Bà Hạnh, chủ một sạp hàng bán đồ gia vị tại chợ Đông Ba (Huế), cho biết: Ở TP Huế, những người đi chợ vẫn thích mua bột ngọt Thái "ba không" nhãn hiệu "cái muôi" vì là hàng ngoại mà giá rẻ. Còn lý giải tại sao gọi là bột ngọt "cái muôi", nhiều tiểu thương cho biết vì sản phẩm không có nhãn phụ tiếng Việt mà chỉ in hình cái muôi!

Tuy nhiên, về thời hạn sử dụng thì chẳng thấy ghi ở đâu ngoài "truyền miệng" của người bán rằng "hạn dùng là 5 năm". Chị Nhung, tiểu thương kinh doanh thực phẩm khô ở chợ Đông Hà (Quảng Trị), cho biết: "So với một số hiệu bột ngọt sản xuất tại VN, loại bột ngọt "ba không" giá tương đương hoặc cao hơn từ 2.000 - 3.000 đồng, thế nhưng người dân vẫn sử dụng nhiều. Tôi bán hàng gần chục năm nay, thấy người mua ưa dùng loại bột ngọt này; họ không quan tâm đến nhãn nhập khẩu, hạn sử dụng nên rất nguy hiểm nếu sản phẩm quá "đát".

Theo tìm hiểu của chúng tôi, loại bột ngọt này được nhập lậu vào VN qua đường biên giới với Lào tại cửa khẩu Lao Bảo (Quảng Trị) và cửa khẩu Cầu Treo (Hà Tĩnh). Sau đó, chúng được chuyển vào VN theo các tuyến xe khách về Huế, Quảng Trị... và được phân phối về các chợ.

Điều đáng nói, mặc dù là hàng nhập lậu, không có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng nhưng loại hàng này hiện chiếm tới 50% - 70% thị phần tại hầu hết các chợ thuộc nhiều tỉnh miền Trung như Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Đà Nẵng...

(nguồn: tin nhanh 24h)



BỘT NGỌT

 Bột ngọt, tên chính thức là monosodium glutamate, thường viết tắt là MSG, là một loại muối glutamic acid, một thứ amino acid có tự nhiên trong cơ thể con người, trong protein thịt động vật và trong thực vật, như nấm rơm, đậu peas, cà rốt, rong biển, v...v...

 Mặc dầu bột ngọt là một trong 24 amino acid của protein nhưng nó không nằm trong nhóm 8 loại amino acid thiết yếu cho cơ thể, mà cơ thể không tự tạo ra được. Nếu trong khẩu phần ăn bình thường hàng ngày của chúng ta có đủ lượng amino acid từ các loại thực phẩm thì đã có đủ lượng glutamic. Nếu sự cung cấp qua con đường ăn uống không đủ thì cơ thể có thể tự tạo ra được. Thực sự cơ thể chúng ta không cần glutamic dưới dạng bột ngọt.

 Được biết, người Nhật đã khám phá ra đầu tiên chất bột ngọt lấy từ tinh chất rong biển (seaweed) và sản xuất thương mại, từ hơn hai nghìn năm nay. Người Trung Hoa cũng dùng bột ngọt rất phổ thông, từ nhà đến nhà hàng, từ các loại bánh kẹo đến các món ăn.

Dưới đây là bảng kê một số thực phẩm có chứa chất bột ngọt "glutamate tự nhiên":

Nước cà chua, 1 cup 0,827 mg glutamate


Cà chua, 3 slices 0,339 mg
Meat loaf dinner, 9 oz. 0,189 mg
Sữa người, 1 cup 0,176 mg
Sữa bò, 1 cup 0,032 mg
Nấm rơm, 1 cup 0,376 mg
Bắp ngô, 1 cup 0,062 mg
Đậu peas, 1 cup 0,048 mg

Source: U.S. Food and Drug Administration

Ngày nay, bột ngọt được làm bằng tinh bột, tinh đường mía, tinh đường củ cải đỏ, và tinh đường bắp ngô. Bột ngọt cũng được chế tạo bởi tiến trình biến chế thực phẩm qua dạng lên men (fermantation) hay qua tiến trình thủy phân, nhiệt phân hay bằng phân hóa tố enzymes.

 Chất bột ngọt chế tạo bởi tiến trình biến chế thủy phân chất đạm được gọi là "free glutamic acid" hay "free glutamate" và cơ quan FDA đặt chỉ danh là Monosodium Glutamate MSG nếu sản phẩm đạt 99% pure MSG. Tuy nhiên, khi chất đạm đã thủy phân (hydrolyzed protein) chứa ít hơn 99% pure MSG, cơ quan FDA không đòi hỏi phải kê khai MSG. Một số chỉ danh như hydrolyzed soy protein, sodium caseinate và autolyzed yeast.. được ghi nơi nhãn hiệu thực phẩm đều có ngầm chứa chất bột ngọt MSG.

Bột ngọt MSG được dùng như một chất thêm vào thực phẩm nhằm kích thích khẩu vị để gia tăng mùi vị thơm ngon của thực phẩm. Tuy nhiên, nó cũng đã trở nên vấn đề tranh luận từ 30 năm qua bởi vì có những nghiên cứu cho hay có nhiều trường hợp bị phản ứng khi dùng bột ngọt.

Nhiều nghiên cứu khoa học trong thập niên 1970's đã cho biết có ít nhất 25% dân số Hoa Kỳ bị phản ứng khi ăn chất bột ngọt MSG, t chng nhc đu, chóng mt, mt ni đ, đến ói ma. Cơ quan FDA tha nhn loi bt ngt b phn ng là loi bt ngt sn xut qua tiến trình biến chế, tc là loi "free glutamic acid" MSG.

 Ti Trung Quc, vì có quá nhiu người ăn bt ngt b ng đc hay d ng hen phế qun, ni m đay nên trong sách y khoa ca h có nhóm t "hi chng cao lâu Trung Quc" đ ch đnh bnh liên h đến bt ngt.

Có nhiều nghiên cứu cũng đã cho biết, tr em là nhóm d b nguy him nht, và vì vy các nhà sn xut bt ngt ti Hoa Kỳ đã đng ý loi b cht bt ngt MSG trong các thc phm baby food t năm 1970. Tuy nhiên, ngày nay, các nhà khoa hc đã tìm thy nhng s liên h gia bt ngt và các chng bnh liên h đến não b như Parkinsonism, Huntington's disease, và Alzheimer's disease, mà chúng thường xy ra nơi người già. Trước đây họ nghĩ rằng nơi người lớn, các tế bào não bộ được bảo vệ khỏi sự xâm nhập của bột ngọt, nay h tin rng có ít nht năm vùng trong não b không được bo v.

 Năm 1959, FDA đã sắp loại bột ngọt MSG như là một loại thực phẩm an toàn như các loại gia vị khác, salt, vinegar, hoặc baking powder. Năm 1986, FDA cũng lập lại rằng chất bột ngọt an toàn.

Các thực phẩm rau, đậu và trái cây có chứa nhiều chất bột ngọt tự nhiên nên những người ăn chay hay không ăn chay không cần thiết phải tìm kiếm một thứ bột ngọt hãy còn trong vòng tranh cãi. Khi đi chợ hãy mua rau, đậu, và trái tươi, tránh các thực phẩm biến chế, nếu quá cần thiết phải mua, nên đọc cho kỹ nhãn hiệu thực phẩm. Ngoài chữ monosodium glutamate chỉ danh bột ngọt, còn có những chữ như monopotassium glutamate, autolyzed yeast, hydrolyzed soy protein, sodium cascinate, cũng đều có chứa chất bột ngọt msg. Những thực phẩm loại broth, bouillon, hay có đề chữ natural flavoring, và natural flavor cũng ẩn chứa chất bột ngọt msg vì cơ quan FDA không đòi hỏi nhà sản xuất thực phẩm phải kê khai rõ khi dùng hydrolyzide protein trong thành phần cấu tạo sản phẩm.

Nói tóm li, bt ngt ch là mt cht gia v ph thuc, không cha thành phn dinh dưỡng nào cn thiết đi vi cơ th, vì vy quý bà ni tr không nên dùng. Hãy nên tạo ra vị ngon ngọt thực sự của các món ăn bằng thực phẩm tự nhiên.

 Nếu vì do thói quen từ lâu đã dùng bột ngọt khó từ bỏ ngay được, nên thay thế tạm bằng bột nêm chay loại natural vegetarian seasoning, như một "optional", có bày bán tại các tiệm thực phẩm chay.

Có nhiều loại bột nêm chay, nhưng loại natural vegetarian seasoning mang nhãn hiệu Chef's Magic Natural Vegetarian Seasoning của công ty All Vegetarian Inc. ở Hoa Kỳ và Spice of Natural Mushroom Drop của công ty Hsin Sui ở Taiwan, được làm bằng tinh bột nấm rơm "shiitake mushroom extract powder", và "vegetable & fruit powder".

 Nhà sản xuất nói rõ là không có chất bột ngọt MSG (monosodium glutamate) và chất hóa học preservative. Tin hay không tin về những lời nói của nhà sản xuất tùy thuộc thẩm quyền nơi quý độc giả. Tuy nhiên, nếu "có" mà họ ghi "không có" nơi nhãn hiệu thực phẩm là hành động vi phạm luật an toàn thực phẩm liên bang Hoa Kỳ.



http://www.saigonbao.com/am-thuc-doc.htm

Bột Ngọt và Sự Nguy Hại Của Nó

Bột ngọt là loại gia vị đuợc nhiều người ưa dùng, thậm chí đã trở thành thói quen trong những bữa ăn hàng ngày. Tuy nhiên, sử dụng bột ngọt như thế nào cho đúng, mà không có hại cho sức khoẻ.

Theo các kết quả nghiên cứu, một người có trọng lượng 110lbs. thì mỗi ngày không nên dùng quá 6gr bột ngọt. Do khả năng phân giải rất cao của bột ngọt, 1gr bột ngọt có nồng độ vẫn cao trong 3000 gr nước, nên các bà nội trợ chớ có quá tay mỗi lần sử dụng nó.

Liều lượng đủ cho hàng ngày

Thành phần chính trong bột ngọt là một loại muối axit amin. Khi dùng đủ liều lượng sẽ làm tăng quá trình trao đổi chất trong não và làm giảm hàm lượng amoniac trong huyết dịch. Nhưng duới tác dụng nhiệt (khoảng 155 độ C) trong khoảng 30-60phút, chất này sẽ bị cháy, không những không còn tác dụng mà còn sinh ra một loạt độc tố.

Mặc dù các hãng sản xuất cho biết rằng bột ngọt được chiết xuất từ các loại cây thiên nhiên (mía, khoai mì) nhưng theo bác sĩ Xuân Vũ, quá trình sản xuất bột ngọt vẫn phải dùng tới một số loại phụ gia và hóa chất vô cơ tổng hợp. Nhng ph gia và lượng hóa cht này t ra không thích hp lm đi vi cơ th con người nên ngui ta khuyến cáo phi hn chế dùng bt ngt càng nhiu càng tt.

Các nghiên cứu về dịch tễ học cho thấy, nếu dùng nhiều bột ngọt người ta có thể mắc các bệnh như rối loạn tiêu hóa, cao huyết áp hay rối loạn vi giác. Tuy nhiên, vẫn chưa có kết luận chính thức của giới y học về tác hại của bột ngọt đến mức cấm sử dụng hoàn toàn.



Tác dụng của bột ngọt

Trong bột ngọt có 13% muối natri. Nếu bn dùng quá liu lượng s tăng phn nguy him vi nhng ngui mc chng bnh cao huyết áp, thn, tim, và có hi cho c ngui kho mnh.

Điều đó không có nghĩa là bột ngọt không có tác dụng. Ngoài tác dụng là gia vị làm tăng thêm độ ngọt của thức ăn mà không làm thay đổi mùi vị của thức ăn, bột ngọt còn tác động vào thần kinh vị giác, kích thích dạ dày tiết dịch dồi dào và tăng cuờng sự hoạt động của các men, do đó tăng cường sự hấp thụ các chất dinh dưỡng của cơ thể.

Tuy nhiên, bột ngọt chỉ có tác dụng sau khi hòa tan vào thức ăn nóng. Với từng loại thức ăn khác nhau có phương pháp dùng bột ngọt phù hợp.

Các chuyên gia về dinh dưỡng cũng khuyên rằng, nên hạn chế ăn ngoài tiệm vì bạn không thể kiểm soát được lượng bột ngọt sử dụng trong thức ăn. Nếu ăn tiệm nên lưu ý chủ tiệm hay đầu bếp về luợng bột ngọt mà họ sẽ cho vào món ăn bạn mua. Vi tr em, không nên cho ăn bt ngt vì nó rt hi cho trí não ca các em.

Dùng bột ngọt chế biến thức ăn

Một nguyên tắc cần ghi nhớ là không nên dùng bột ngọt rắc lên trên món ăn vì độ hòa tan không bảo đảm như ý. Đối với rau vừa xào hoặc nấu xong, nên múc ra bát, dùng một ít nước rau đó hòa tan bột ngọt rồi đổ vào bát canh nấu hoặc xào đã múc ra và trộn đều. Không nên ướp bt ngt trc tiếp vào thc ăn sng.

Riêng các loại gỏi, rau trộn nộm hay các món ăn nước, có thể lấy nước sôi hòa tan bột ngọt rồi trộn đều lên. Các đồ ăn có tính axít cao như các loại đồ chua không nên sử dụng bột ngọt, vì bột ngọt rất khó hòa tan trong các món này. Với các đồ ăn có tính kiềm cao như­ trứng, muối cũng vậy vì bột ngọt sẽ phát vị khai chua.

Khi sử dụng bột ngọt chung với các gia vị khác như muối, đường, dấm, xì dầu, nước mắm, cần lưu ý về trình tự nêm các gia vị. Nguyên tắc cơ bản là loại thấm uớt yếu phải cho vào nước trước, loại thấm uớt mạnh cho vào sau. Còn bột ngọt thì tất nhiên phải bỏ sau cùng, khi món ăn đã nấu xong nhưng còn nóng.

Muốn xào một món phải cho đường, trước tiên cho đường vào, sau đó nêm muối ăn, dấm, xì dầu hay nuớc mắm, bột ngọt. Nếu trình tự trên bị đảo lộn, cho muối ăn vào trước, đường vào sau thì sẽ ảnh hưởng tới tác dụng của đường vì sau khi cho muối ăn vào, thức ăn mau chóng cứng lại, nhất là phần vỏ ngoài và làm cho đường không thấm vào được. Mặt khác, muối và đường có thể chịu được nhiệt trong thời gian dài nhưng các loại gia vị có hương vị đặc trứng như dấm và xì dầu, nuớc mắm thì không chịu được nhiệt trong thời gian dài, nếu cho chúng vào truớc đường và muối sẽ làm bay hết mùi vị đặc trưng đó.

http://www.vvfoods.com/new%20webpage/bi%20mat%20nha%20hang/bot%20ngot%20&%20suc%20khoe.htm

Bột ngọt: Chất độc đối với cơ thể!

6th Oct 2007 Ngày 06 tháng 10 năm 2007

http://www.worldwidehealthcenter.net/articles-445.html

INTRODUCTION GIỚI THIỆU

Monosodium Glutamate, a food ingredient, was invented in 1908 in Japan, by Kikunae Ikeda.

Bột ngọt, một thành phần thực phẩm, được phát minh vào năm 1908 tại Nhật Bản, bởi Kikunae Ikeda.

A year later, with a partner, he formed a company, Ajinomoto, to produce the product.

Một năm sau, với một đối tác, ông thành lập một công ty, Ajinomoto, để sản xuất các sản phẩm.

The food additive did not appear in the United States to any degree until the late 1940s, following the Second World War.

Các phụ gia thực phẩm không xuất hiện tại Hoa Kỳ ở mức độ nào cho đến cuối những năm 1940, sau Thế chiến thứ hai.

During the war, it had been noted that Japanese soldiers' rations tasted better than the rations used by our soldiers.

Trong chiến tranh, nó đã được ghi nhận rằng binh lính Nhật Bản 'nếm khẩu phần tốt hơn so với khẩu phần sử dụng bởi các binh sĩ của chúng tôi.

The difference was believed to be "monosodium glutamate." Sự khác biệt được cho là "bột ngọt."

Today, "monosodium glutamate" or its reactive component, "processed free glutamic acid," is found in almost all of the processed foods that are manufactured in the United States.

Hôm nay, "bột ngọt" hoặc thành phần hoạt tính của nó, "xử lý miễn phí acid glutamic," được tìm thấy ở gần như tất cả các thực phẩm chế biến được sản xuất tại Hoa Kỳ.

ADVERSE EFFECTS OF MSG

TÁC DỤNG CỦA bột ngọt

In 1957, Lucas and Newhouse found that normal neonatal mice suffered acute degenerative lesions in the inner retina when "monosodium glutamate" was administered by feeding tube.1 In 1968, during a replication of this study at Washington University Medical School, St., Louis, Missouri, Dr. John W. Olney2 noted that, some of the mice had become grotesquely obese.

Năm 1957, Lucas và Newhouse thấy rằng những con chuột bình thường ở trẻ sơ sinh bị tổn thương cấp tính thoái hóa võng mạc ở bên trong khi "bột ngọt" được quản lý bởi ăn tube.1 Năm 1968, trong một bản sao của nghiên cứu này tại Trường Y khoa Đại học Washington, St Louis , Missouri, tiến sĩ John W. Olney 2 lưu ý rằng, một số các con chuột đã trở thành grotesquely béo phì.

He decided to sacrifice some of the mice to confirm his belief that lesions would be found in the hypothalamus region of the brain.

Ông quyết định hy sinh một số các con chuột để xác nhận niềm tin của ông rằng các tổn thương có thể được tìm thấy ở vùng dưới đồi của não.

Not only was his suspicion confirmed, but further testing indicated that there were also other neuroendocrine effects from the "monosodium glutamate."

Không chỉ là nghi ngờ của ông khẳng định, nhưng còn có thử nghiệm chỉ ra rằng cũng có những hiệu ứng thần kinh nội tiết khác từ "bột ngọt."

His findings were published in 1969.2 Dr. Olney, a National Academy of Science scientist who is credited for the voluntary removal of MSG from baby food in the 1970s, continues to publish research3-5 on the toxicity of glutamic acid, often using "monosodium glutamate." phát hiện của ông đã được xuất bản năm 1969,2 Tiến sĩ Olney, một nhà khoa học Viện Khoa học Quốc gia có uy tín để loại bỏ tự nguyện của bột ngọt từ thức ăn trẻ em trong những năm 1970, tiếp tục xuất bản research3-5 về độc tính của axit glutamic, thường sử dụng "bột ngọt . "

In 1968, the New England Journal of Medicine published a Letter to the Editor in which Ho Man Kwok, MD, asked for help in determining why he and his friends suffered reactions shortly after eating in some Chinese restaurants, though he never experienced such reactions when he lived in China.

Năm 1968, New England Journal of Medicine công bố một văn gửi Ban Biên tập, trong đó Hồ Man Kwok, MD, nhờ giúp đỡ trong việc xác định lý do tại sao ông và bạn bè của anh đã bị phản ứng ngay sau khi ăn uống ở một số nhà hàng Trung Quốc, mặc dù ông không bao giờ có kinh nghiệm phản ứng như vậy khi ông sống tại Trung Quốc. The journal titled the letter "Chinese Restaurant Syndrome,"6 and researchers from around the country wrote the journal to suggest that Dr. Kwok and his friends' problem was intolerance to MSG. Các tạp chí lá thư có tiêu đề "Hội chứng Nhà hàng Trung Quốc," 6 và các nhà nghiên cứu từ khắp nơi trên đất nước đã viết trên tạp chí cho thấy Tiến sĩ Kwok và vấn đề người bạn của ông đã không dung nạp với bột ngọt. One letter indicated that 30% of the population reacted to MSG. Một lá thư chỉ ra rằng 30% dân số phản ứng để bột ngọt.

In 1969, concerned with the bad reports regarding "monosodium glutamate," the glutamate industry formed a nonprofit organization to defend the safety of MSG, the International Glutamate Technical Committee. Năm 1969, liên quan với các báo cáo xấu về "bột ngọt," ngành công nghiệp glutamate hình thành một tổ chức phi lợi nhuận để bảo vệ sự an toàn của bột ngọt, các Ủy ban kỹ thuật Glutamate quốc tế. Later, in 1977, they increased their efforts with the development of a nonprofit subsidiary, The Glutamate Association, primarily operating as a public relations arm of the glutamate industry. Sau đó, vào năm 1977, họ gia tăng nỗ lực của họ với sự phát triển của một công ty phi lợi nhuận, Hiệp hội Glutamate, chủ yếu hoạt động như một cánh tay quan hệ công chúng của ngành công nghiệp glutamate. In about 1990, the glutamate industry turned to the International Food Information Council (IFIC), another nonprofit industry-funded organization, to be their spokesman and to promote the safety of MSG along with the other products that they represent. Trong khoảng năm 1990, ngành công nghiệp glutamate quay sang thực phẩm Thông tin Quốc tế của Hội đồng (IFIC), một ngành công nghiệp tài trợ tổ chức phi lợi nhuận, được phát ngôn viên của họ và thúc đẩy sự an toàn của bột ngọt cùng với các sản phẩm khác mà họ đại diện.

MSG IS TOXIC TO HUMANS! MSG IS độc cho con người!

The literature is clear in demonstrating that MSG is toxic to humans and that over 25% of the population suffer adverse reactions from MSG7-36. văn học là rõ ràng chứng minh rằng bột ngọt là một chất độc cho con người và có hơn 25% dân số bị phản ứng bất lợi từ MSG7-36. In the opinion of this writer, the subject is only controversial because of the input of the three organizations mentioned above and because of research they have funded to discredit findings of others and to tell the story that the glutamate industry wants told, research that is flawed to the point of being worthless. Theo quan điểm của nhà văn này, chủ đề là chỉ gây tranh cãi vì các đầu vào của ba tổ chức nói trên và bởi vì các nghiên cứu mà họ đã tài trợ để phát hiện mất uy tín của người khác và để kể câu chuyện rằng ngành công nghiệp glutamate muốn nói, nghiên cứu đó là sai lầm đến mức bị vô giá trị.

"Monosodium glutamate" is approximately 78% processed free glutamic acid and 22% sodium (salt) and moisture, with about 1% contaminants. "Bột ngọt" là khoảng 78% được xử lý miễn phí acid glutamic và 22% natri (muối) và độ ẩm, với khoảng 1 chất gây ô nhiễm%. It is the processed free glutamic acid that causes people to suffer adverse reactions, and, unfortunately, there are over 40 food ingredients other than "monosodium glutamate" that contain processed free glutamic acid in varying amounts.37 Consequently, consumers refer to all processed free glutamic acid as MSG, regardless of the name of the ingredient. Đây là xử lý acid glutamic tự do mà làm cho người ta bị phản ứng bất lợi, và, không may, có trên 40 thành phần thực phẩm khác hơn là "bột ngọt" có chứa acid glutamic xử lý miễn phí tại khác nhau amounts.37 Do đó, người tiêu dùng tham khảo cho tất cả miễn phí xử lý glutamic acid như bột ngọt, không phân biệt tên của thành phần này.

People differ in their tolerances to MSG, but typically always suffer similar reactions each time they ingest amounts of MSG that exceed their tolerances for the substance. Người khác nhau về dung sai của họ để bột ngọt, nhưng thông thường luôn luôn bị phản ứng tương tự mỗi khi họ bị nhiễm một lượng của bột ngọt vượt quá dung sai của họ đối với chất này. Reactions experienced vary dramatically, as if MSG finds the weak link in the body.38 Typically, people will suffer reactions at approximately the same time each time they ingest amounts of MSG that exceed their tolerance levels. Có kinh nghiệm phản ứng khác nhau đáng kể, như bột ngọt thấy liên kết yếu trong body.38 Thông thường, người ta sẽ bị phản ứng ở cùng một khoảng thời gian mỗi khi họ bị nhiễm một lượng của bột ngọt vượt quá mức chịu đựng của họ. However, that time lapse can vary among people from immediately following ingestion of MSG up to 48 hours following ingestion. Tuy nhiên, thời gian trôi đi có thể khác nhau giữa những người từ ngay lập tức sau khi uống bột ngọt lên tới 48 giờ sau khi uống. Use of alcohol or exercise prior to, during or following an MSG-containing meal will exacerbate an MSG reaction in many people. Sử dụng rượu hoặc tập thể dục trước, trong hoặc sau một bữa ăn có chứa bột ngọt sẽ làm trầm trọng thêm một phản ứng bột ngọt ở nhiều người. MSG-sensitive people will typically suffer similar reactions to aspartame. người nhạy cảm với bột ngọt thông thường sẽ bị phản ứng tương tự như aspartame.

Neuroscientists believe that the young and the elderly are most at risk from MSG. Nhà thần kinh học tin rằng các bạn trẻ và người cao tuổi có nhiều nguy cơ từ bột ngọt. In the young, the blood-brain barrier is not fully developed, exposing the brain to increased levels of MSG that has entered the bloodstream. Trong giới trẻ, các hàng rào máu não chưa phát triển đầy đủ, để lộ bộ não với các mức tăng của bột ngọt đó đã nhập vào dòng máu. The elderly are at increased risk because the blood-brain barrier can be damaged by aging, by disease processes, or by injury, including hypertension, diabetes, hypoglycemia, and stroke. Những người lớn tuổi có nguy cơ cao bởi vì các hàng rào máu-não có thể bị hư hỏng do lão hóa, bằng các quá trình bệnh tật, hoặc do chấn thương, bao gồm tăng huyết áp, tiểu đường, hạ đường huyết, và đột quỵ. Throughout life, the blood-brain barrier is "leaky" at best. Trong suốt cuộc đời, các hàng rào máu-não là "rò rỉ" tại tốt nhất.

MSG has now been implicated in a number of the neurodegenerative diseases, including ALS (Lou Gehrig's disease), Parkinson's disease, Alzheimer's disease, multiple sclerosis and Huntington's disease39. MSG đã được liên quan đến một số các bệnh thoái hóa thần kinh, bao gồm ALS (bệnh Lou Gehrig), bệnh Parkinson, bệnh Alzheimer, bệnh đa xơ cứng và Huntington disease39.

In general, the natural glutamic acid found in food does not cause problems, but the synthetic free glutamic acid formed during industrial processing is a toxin. Nhìn chung, acid glutamic tự nhiên trong thực phẩm không gây ra vấn đề, nhưng tổng hợp acid glutamic tự do được hình thành trong quá trình chế biến công nghiệp là một chất độc. In addition, when MSG is formed using hydrochloric acid the final product includes carcinogens.40 Ngoài ra, khi bột ngọt được hình thành bằng cách sử dụng acid hydrochloric sản phẩm cuối cùng bao gồm carcinogens.40

MSG IN INFANT FORMULA: BAD FOR YOUR BABY! MSG TRONG CÔNG THỨC TRẺ: BAD cho em bé!

A Canadian Study41 conducted, leaves no room for doubt that ingredients that contain processed free glutamic acid (MSG) and free aspartic acid — known neurotoxins— are used in baby formula. Một người Canada Study41 tiến hành, lá không có chỗ cho nghi ngờ rằng các thành phần có chứa acid glutamic xử lý miễn phí (bột ngọt) và acid aspartic miễn phí - được biết đến neurotoxins-được sử dụng trong sữa bột trẻ em. The fact that neurotoxins are present in baby formula is of particular concern since the blood brain barrier is not fully developed in infants, allowing neurotoxins to be more accessible to the brain than is the case in healthy adults. Thực tế là neurotoxins có mặt trong sữa bột trẻ em được quan tâm đặc biệt kể từ khi hàng rào máu não chưa phát triển đầy đủ ở trẻ sơ sinh, cho phép neurotoxins được dễ tiếp cận hơn cho não hơn là trường hợp ở người lớn khỏe mạnh.

In studies using experimental animals, neuroscientists have found that glutamic acid and aspartic acid load on the same receptors in the brain, cause identical brain lesions and neuroendocrine disorders, and act in an additive fashion. Trong các nghiên cứu sử dụng động vật thí nghiệm, nhà thần kinh học đã tìm thấy rằng glutamic acid và acid aspartic tải trên cùng một thụ thể trong não, gây tổn thương não và rối loạn thần kinh nội tiết giống hệt nhau, và hành động trong một thời trang phụ gia.

You will note that the level of neurotoxins found in the hypoallergenic formula was far greater than the level of neurotoxins found in the other formulas. Bạn sẽ lưu ý rằng mức độ neurotoxins tìm thấy trong các công thức ít gây dị ứng là lớn hơn nhiều so với mức của neurotoxins tìm thấy trong các công thức khác. In reviewing the literature on hypoallergenic formulas, we have found short-term studies that concluded that hypoallergenic formulas are safe because babies tolerated them and gained weight. Khi xem xét các tài liệu về các công thức ít gây dị ứng, chúng tôi đã tìm thấy các nghiên cứu ngắn hạn mà kết luận rằng các công thức ít gây dị ứng là an toàn bởi vì em bé được chấp nhận cho họ và tăng cân. However, we have not seen any long-term studies on the safety of hypoallergenic formulas. Tuy nhiên, chúng tôi đã không thấy bất kỳ nghiên cứu dài hạn về an toàn của các công thức ít gây dị ứng. We believe that well designed long term studies would demonstrate that infants raised on hypoallergenic formulas, as compared to infants who are breastfed or fed on non-hypoallergenic formulas, will exhibit more learning disabilities at school age, and/or more endocrine disorders, such as obesity and reproductive disorders, later in life. Chúng tôi tin rằng cũng được thiết kế nghiên cứu dài hạn sẽ chứng minh rằng trẻ lớn lên trên các công thức ít gây dị ứng, so với trẻ sơ sinh được bú sữa mẹ hoặc ăn vào công thức không gây dị ứng, sẽ trưng bày nhiều khuyết tật học ở độ tuổi đi học, và / hoặc nhiều rối loạn nội tiết, chẳng hạn như béo phì và các rối loạn sinh sản, sau đó trong cuộc sống. Long-term studies on the effects of hypoallergenic formulas need to be done42. nghiên cứu lâu dài về hiệu quả của công thức ít gây dị ứng cần phải được done42.

To put these figures in perspective, consider that in an FDA-sponsored study dated July, 1992 entitled "Safety of Amino Acids Used in Dietary Supplements," the Federation of American Societies for Experimental Biology concluded, in part, that "...it is prudent to avoid the use of dietary supplements of L-glutamic acid by pregnant women, infants, and children. . . and. . . by women of childbearing age and individuals with affective disorders." Để đưa những con số này trong quan điểm, xem xét rằng trong một nghiên cứu FDA tài trợ ngày tháng bảy năm 1992 với tựa đề "An toàn của Amino axit được sử dụng trong ăn bổ sung," Liên bang của Mỹ Hội Sinh học Thực nghiệm đã kết luận, một phần, rằng "... nó là thận trọng để tránh việc sử dụng các chất bổ sung chế độ ăn uống của axit L-glutamic của phụ nữ mang thai, trẻ sơ sinh và trẻ em... và... của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, cá nhân có các rối loạn tình cảm. " (MSG is called glutamic acid or L-glutamic acid when used in supplements.)43 (Bột ngọt được gọi là glutamic acid hoặc axit L-glutamic khi được sử dụng trong chất bổ sung.) 43

During the 1960s, the food ingredient "monosodium glutamate" was routinely added to baby foods. Trong thập niên 1960, các thành phần thực phẩm "bột ngọt" được thường xuyên bổ sung vào thức ăn cho trẻ. The industry "voluntarily" ceased the practice after Congressional hearings in which concerned researchers warned of serious adverse effects. Các ngành công nghiệp "tự nguyện" đã không còn thực hành sau khi phiên điều trần của Quốc hội, trong đó các nhà nghiên cứu có liên quan cảnh báo về tác dụng phụ nghiêm trọng. However, for some years following the elimination of "monosodium glutamate," hydrolyzed proteins were used in place of "monosodium glutamate." Tuy nhiên, đối với một số năm tiếp theo việc loại bỏ "bột ngọt," protein thủy phân được sử dụng thay cho "bột ngọt." Hydrolyzed proteins always contain MSG. Thủy phân protein luôn có chứa bột ngọt.

Many consumers now know to avoid baby foods with hydrolyzed proteins. Nhiều người tiêu dùng bây giờ biết để tránh các loại thực phẩm bé với protein thủy phân. Yet how many parents realize that MSG lurks in every bottle of formula given to their infants? Tuy nhiên, có bao nhiêu bậc cha mẹ nhận ra rằng ẩn núp bột ngọt trong mỗi chai sữa bột cho trẻ sơ sinh của họ? Babies on hypoallergenic formulas receive about 1 gram of total neurotoxins per day, a level at which many MSG-sensitive individuals experience adverse reactions. Em bé về các công thức ít gây dị ứng được khoảng 1 gram tổng neurotoxins mỗi ngày, một mức độ mà ở đó nhiều cá nhân nhạy cảm với bột ngọt kinh nghiệm phản ứng phụ.

Our advice to you is to do your best to eliminate MSG from your diet. lời khuyên của chúng tôi với bạn là để làm tốt nhất của bạn để loại bỏ bột ngọt từ chế độ ăn uống của bạn. You will feel better. Bạn sẽ cảm thấy tốt hơn. That means avoiding all processed foods. Điều đó có nghĩa là tránh tất cả các thực phẩm chế biến. Our advice to investigators of school violence is to investigate the effects of excitotoxins in children's diets. lời khuyên của chúng tôi để các nhà điều tra của bạo lực học đường là để điều tra những ảnh hưởng của excitotoxins trong khẩu phần ăn của trẻ em. There are high levels of MSG in soy products and seasoning mixes used in school lunch programs, fast foods and snack foods. Có mức độ cao của bột ngọt trong các sản phẩm đậu tương và gia vị hỗn hợp được sử dụng trong các chương trình ăn trưa trường học, thức ăn nhanh và thức ăn nhẹ.

Written by Dr. George J Georgiou and Barbara Karafokas Người viết: Tiến sĩ Georgiou J George và Barbara Karafokas

DaVinci Natural Health Centre, Larnaca, Cyprus DaVinci Trung tâm Y tế tự nhiên, Larnaca, Cyprus

drgeorge@avacom.net drgeorge@avacom.net

www.naturaltherapycenter.com www.naturaltherapycenter.com

REFERENCES Tài liệu tham khảo

1. 1. Lucas, DR, and Newhouse, JP (1957) The toxic effect of sodium L-glutamate on the inner layers of the retina. Lucas, DR, và Newhouse, JP (1957) Ảnh hưởng độc hại của bột ngọt-L vào các lớp bên trong của võng mạc. AMA Arch Ophthal 58: 193-201. AMA Arch Ophthal 58: 193-201.

2. 2. Olney, JW (1969). Olney, JW (1969). Brain lesions, obesity, and other disturbances in mice treated with monosodium glutamate. tổn thương não, bệnh béo phì, và rối loạn khác ở những con chuột được điều trị bằng bột ngọt. Science 164: 719-721. Khoa học 164: 719-721.

3. 3. Olney, JW (1993, April). Olney, JW (1993, Tháng tư). Prepared statement for the public meeting (April 1993) pertaining to adverse reactions to monosodium glutamate (MSG). Chuẩn bị báo cáo cho cuộc họp công cộng (tháng 4 năm 1993) liên quan đến phản ứng bất lợi với bột ngọt (MSG). Presented at a public meeting conducted by the Federation of American Societies for Experimental Biology (FASEB), Bethesda, MD. Trình bày tại một cuộc họp công cộng được thực hiện bởi các Liên đoàn của Mỹ Hội Sinh học Thực nghiệm (FASEB), Bethesda, MD.

4. 4. Olney, JW and Price MT (1978). Olney, JW và MT Giá (1978). Excitotoxic amino acids as neuroendocrine probes. Excitotoxic amino acid như thăm dò thần kinh nội tiết. In EG McGeer, JW Olney, and PL McGeer (Eds.), Kainic Acid as a Tool in Neurobiology. Trong EG McGeer, Olney JW, và McGeer PL (biên soạn), Acid Kainic như một công cụ trong sinh học thần kinh. New York: Raven. New York: Raven.

5. 5. Olney, JW and Price, MT (1980). Olney, JW và Giá cả, MT (1980). Neuroendocrine interactions of excitatory and inhibitory amino acids. Thần kinh nội tiết tương tác của kích thích và ức chế các axit amin. Brain Research Bulletin 5: Suppl 2, 361-368. Nghiên cứu não Bulletin 5: Suppl 2, 361-368.

6. 6. Chinese restaurant syndrome. Hội chứng Nhà hàng Trung Quốc. (1990, January). (Năm 1990, tháng một.) Mayo Clinic Nutrition Letter. Mayo Clinic Dinh dưỡng Thư.

7. 7. Altman, DR, Fitzgerald, T. & Chiaramonte, LT (1994). Altman, DR, Fitzgerald, T. & Chiaramonte, LT (1994). Double-blind placebo-controlled challenge (DBPCC) of persons reporting adverse reactions to monosodium glutamate (MSG). Mù đôi dùng giả dược được kiểm soát thách thức (DBPCC) của người báo cáo phản ứng bất lợi với bột ngọt (MSG). J. Allergy and Clinical Immunology Abstracts 93:303 (Abstract 844). J. Dị ứng và Miễn dịch học lâm sàng tóm tắt 93:303 (Tóm tắt 844).

8. 8. Garattini, S. (1979). Garattini, S. (1979). Evaluation of the neurotoxic effects of glutamic acid. Đánh giá tác động thần kinh của axit glutamic. In RJ Wurtman, & JJ Wurtman (Eds.), Nutrition and the brain. Trong RJ Wurtman, và JJ Wurtman (biên soạn), Dinh dưỡng và não. New York: Raven Press. New York: Raven báo chí.

9. 9. Geha, R., Beiser, A., Ren, C., Patterson, R., Greenberger, P., Grammer, LC, Ditto, AM, Harris, KE, Shaughnessy, MA, Yarnold, P., Corren, J., Saxon, A. (1998). Geha, R., Beiser, A., Ren, C., Patterson, R., Greenberger, P., ngữ pháp, LC, Ditto, AM, Harris, KE, Shaughnessy, MA, Yarnold, P., Corren, J. , Saxon, A. (1998). Multicenter multiphase double blind placebo controlled study to evaluate alleged reactions to monosodium glutamate (MSG). Đa tướng đa trung tâm nghiên cứu mù đôi dùng giả dược được kiểm soát để đánh giá phản ứng bị cho bột ngọt (MSG). J. Allergy Clin Immunol Abstracts 101:S243 (Abstract 106). J. Dị ứng Clin Immunol tóm tắt 101: S243 (Tóm tắt 106).

10. 10. Germano, P., Cohen, SG, Hahn, B., and Metcalfe, DD (1991). Germano, P., Cohen, SG, Metcalfe Hahn, B., và, DD (1991). An evaluation of clinical reactions to monosodium glutamate (MSG) in asthmatics using a blinded, placebo-controlled challenge. Một đánh giá của các phản ứng lâm sàng để bột ngọt (MSG) ở bệnh nhân hen bằng cách sử dụng một thách thức, mù kiểm soát giả dược. J Allergy Clin Immunol Abstracts 87:177 (Abstract 155). J Allergy Clin Immunol tóm tắt 87:177 (Tóm tắt 155).

11. 11. Giacometti, T. (1979). Giacometti, T. (1979). Free and bound glutamate in natural products. Miễn phí và glutamate bị ràng buộc trong các sản phẩm tự nhiên. In LJ Filer, Jr., S. Garattini, MR Kare, WA Reynolds, and RJ Wurtman, (Eds), Glutamic acid: advances in biochemistry and physiology. Trong LJ Filer, Jr, S. Garattini, MR Kare, WA Reynolds, và RJ Wurtman, (Eds), acid glutamic: những tiến bộ trong sinh hóa và sinh lý học. New York: Raven. New York: Raven.

12. 12. Anantharaman, K. (1979). Anantharaman, K. (1979). In utero and dietary administration of monosodium L-glutamate to mice: reproductive performance and development in a multigeneration study. Trong tử cung và quản lý chế độ ăn uống của bột L-glutamate để chuột: năng suất sinh sản và phát triển trong một nghiên cứu multigeneration. In LJ Filer, Jr., S. Garattini, MR Kare, WA Reynolds, and RJ Wurtman, (Eds), Glutamic acid: advances in biochemistry and physiology. Trong LJ Filer, Jr, S. Garattini, MR Kare, WA Reynolds, và RJ Wurtman, (Eds), acid glutamic: những tiến bộ trong sinh hóa và sinh lý học. New York: Raven. New York: Raven.

13. 13. Auer, RN (1991). Auer, RN (1991). Excitotoxic mechanisms, and age-related susceptibility to brain damage in ischemia, hypoglycemia and toxic mussel poisoning. Excitotoxic cơ chế, và tính nhạy cảm với lứa tuổi liên quan đến tổn thương não ở hạ đường huyết, thiếu máu cục bộ và ngộ độc trai độc hại. NeuroToxicology 12:541-546. NeuroToxicology 12:541-546.

14. 14. Bunyan, J., Murrell, EA, and Shah, PP (1976). Bunyan, J., Murrell EA, và Shah, PP (1976). The induction of obesity in rodents by means of monosodium glutamate. Các cảm ứng của bệnh béo phì ở chuột bằng phương tiện của bột ngọt. Br J Nutr 35: 25-29. Br J Nutr 35: 25-29.

15. 15. Ebert, AG (1970). Ebert, AG (1970). Chronic toxicity and teratology studies of monosodium L-glutamate and related compounds. Ký hình học độc mãn tính và các nghiên cứu của các hợp chất ngọt L-glutamate và có liên quan. Toxicol Appl Pharmacol 17: 274. Toxicol Appl Pharmacol 17: 274.

16. 16. Federation of American Societies for Experimental Biology (FASEB) (1995). Liên đoàn của các xã hội Sinh học thử nghiệm Mỹ (FASEB) (1995). Analysis of adverse reactions to monosodium glutamate (MSG). Phân tích các phản ứng bất lợi với bột ngọt (MSG). Bethesda, MD: Life Sciences Research Office, FASEB. Bethesda, MD: Văn phòng Nghiên cứu khoa học đời sống, FASEB.

17 Fernstrom, JD, Cameron, JL, Fernstrom, MH, McConaha, C., Weltzin, TE, and Kaye, WH (1996). 17 Fernstrom, JD, Cameron, JL, Fernstrom, MH, McConaha, C., Weltzin, TE, và Kaye, WH (1996). Short-term neuroendocrine effects of a large, oral dose of monosodium glutamate in fasting male subjects. Ngắn hạn thần kinh nội tiết tác dụng của một lượng lớn miệng, của bột ngọt trong lúc đói đối tượng nam giới. J Clin Endocrinol Metab 81: 184-191. J Clin Endocrinol Metab 81: 184-191.

18. 18. Filer, LJ (1993). Filer, LJ (1993). Public Forum: analysis of adverse reactions to monosodium glutamate. Diễn đàn công cộng: phân tích các phản ứng bất lợi đến bột ngọt. Paper presented at open meeting of the Federation of American Societies for Experimental Biology, April 1993. Báo cáo trình bày tại cuộc họp mở của Liên bang của Mỹ Hội Sinh học Thực nghiệm, tháng 4 năm 1993.

19. 19. Kenney, RA (1979). Kenney, RA (1979). Placebo-controlled studies of human reaction to oral monosodium L-glutamate. Giả dược kiểm soát các nghiên cứu về phản ứng của con người để bột ngọt miệng-L. In LJ Filer, Jr., S. Garattini, MR Kare, WA Reynolds, and RJ Wurtman, (Eds), Glutamic acid: advances in biochemistry and physiology. Trong LJ Filer, Jr, S. Garattini, MR Kare, WA Reynolds, và RJ Wurtman, (Eds), acid glutamic: những tiến bộ trong sinh hóa và sinh lý học. New York: Raven. New York: Raven.

20. 20. Kenney, RA, and Tidball, CS (1972). Kenney, RA, và Tidball, CS (1972). Human susceptibility to oral monosodium L-glutamate. Con người nhạy cảm với bột ngọt miệng-L. AJ Clin Nutr 25:140-146. AJ Clin Nutr 25:140-146.

21. 21. Nemeroff, CB (1981). Nemeroff, CB (1981). Monosodium glutamate-induced neurotoxicity: review of the literature and call for further research. Bột ngọt-gây độc thần kinh: xem xét lại của văn học và kêu gọi nghiên cứu thêm. In SA Miller (Ed.), Nutrition & behavior. Trong SA Miller (Ed.), Dinh dưỡng và hành vi. Philadelphia: Franklin Institute Press. Philadelphia: Franklin Institute Press.

22. 22. Newman, AJ, Heywood, R., Palmer, AK, Barry, DH, Edwards, FP, and Worden, AN (1973). Newman, AJ, Heywood, R., Palmer, AK, Barry, DH, Edwards, FP, và Worden, AN (1973). The administration of monosodium L-glutamate to neonatal and pregnant rhesus monkeys. Chính quyền của bột L-glutamate cho trẻ sơ sinh và thai khỉ nâu. Toxicology 1: 197-204. Độc chất học 1: 197-204.

23. 23. Owen, G., Cherry, CP, Prentice, DE, and Worden, AN (1978). Owen, G., Cherry, CP, Prentice, DE, và Worden, AN (1978). The feeding of diets containing up to 4% monosodium glutamate to rats for 2 years. Các thức ăn chế độ ăn có chứa lên đến bột ngọt 4% để chuột trong 2 năm. Toxicol Lett 1: 221-226. Toxicol Lett 1: 221-226.

24. 24. Pulce, C., Vial, T., Verdier, F., et al. Pulce, C., lọ, T., Verdier, F., et al. (1992). (1992). The Chinese restaurant syndrome: a reappraisal of monosodium glutamate's causative role. Các hội chứng nhà hàng Trung Quốc: một đánh giá lại vai trò gây bệnh của bột ngọt. Adverse Drug Reaction Toxicology Review pp.19-39. Phản ứng bất lợi dược chất độc Review pp.19-39.

25. 25. Reif-Lehrer, L. (1977). Reif-Lehrer, L. (1977). A questionnaire study of the prevalence of Chinese restaurant syndrome. Một nghiên cứu câu hỏi của các tỷ lệ của hội chứng nhà hàng Trung Quốc. Fed Proc 36:1617-1623. Fed Proc 36:1617-1623.

26. 26. Reynolds, WA, Butler, V., Lemkey-Johnston, N. (1976). Reynolds, WA, Butler, V., Lemkey-Johnston, N. (1976). Hypothalamic morphology following ingestion of aspartame or MSG in the neonatal rodent and primate: a preliminary report. Đồi hình thái sau khi uống aspartame hoặc bột ngọt trong các động vật gặm nhấm sơ sinh và linh trưởng: một báo cáo sơ bộ. J Toxicol environmental Health 2: 471-480. J Toxicol môi trường y tế 2: 471-480.

27. 27. Reynolds, WA, Filer, LJ, and Stegink, LD (1991). Reynolds, WA, Filer, LJ, và Stegink, LD (1991). Letter to Dr. Kenneth G. Fisher, LSRO, FASEB. Thư gửi tiến sĩ Kenneth G. Fisher, LSRO, FASEB. May 31, 1991. Ngày 31 Tháng Năm 1991.

28. 28. Reynolds, WA, Lemkey-Johnston, N., Filer, LJ Jr., and Pitkin, RM (1971). Reynolds, WA, Lemkey-Johnston, N., Filer, Jr LJ, và Pitkin, RM (1971). Monosodium glutamate: absence of hypothalamic lesions after ingestion by newborn primates. Bột ngọt: không có tổn thương đồi sau khi ăn của động vật linh trưởng sơ sinh. Science 172: 1342-1344. Khoa học 172: 1342-1344.

29. 29. Samuels, A. (1995). Samuels, A. (1995). Monosodium L-glutamate: a double-blind study and review. Bột L-glutamate: một nghiên cứu mù đôi và xem xét. Letter to the editor. Thư gửi người biên tập. Food and Chemical Toxicology. Thực phẩm và chất độc hóa học. 33: 69-78. 33: 69-78.

30. 30. Schaumburg, HH, Byck, R., Gerstl, R. and Mashman, JH (1969) Monosodium L-glutamate: its pharmacology and role in the Chinese restaurant syndrome. Schaumburg, HH, Byck, R., Gerstl, R. và Mashman, JH (1969) Bột L-glutamate: dược và vai trò của nó trong hội chứng nhà hàng Trung Quốc. Science 163: 826-828. Khoa học 163: 826-828.

31. 31. Scopp, AL(1991). Scopp, AL (1991). MSG and hydrolyzed vegetable protein induced headache: review and case studies. Bột ngọt và thủy phân protein thực vật gây ra đau đầu: xem xét và nghiên cứu trường hợp. Headache 31:107-110. Nhức đầu 31:107-110.

32. 32. Takasaki, Y., Matsuzawa, Y., Iwata, S., O'Hara, Y., Yonetani, S., and Ichimura, M. (1979a). Takasaki, Y., Matsuzawa, Y., Iwata, S., O'Hara, Y., Yonetani, S., và Ichimura, M. (1979a). Toxicological studies of monosodium L-glutamate in rodents: relationship between routes of administration and neurotoxicity. Các nghiên cứu độc tính của bột ngọt-L ở động vật gặm nhấm: mối quan hệ giữa các tuyến đường của chính quyền và độc thần kinh. In LJ Filer, Jr., S. Garattini, MR Kare, WA Reynolds, and RJ Wurtman, (Eds), Glutamic acid: advances in biochemistry and physiology. Trong LJ Filer, Jr, S. Garattini, MR Kare, WA Reynolds, và RJ Wurtman, (Eds), acid glutamic: những tiến bộ trong sinh hóa và sinh lý học. New York: Raven. New York: Raven.

33 Takasaki, Y., Sekine, S., Matsuzawa, Y., Iwata, S., and Sasaoka, M. (1979b). 33 Takasaki, Y., Sekine, S., Matsuzawa, Y., Iwata, S., và Sasaoka, M. (1979b). Effects of parenteral and oral administration of monosodium L-glutamate (MSG) on somatic growth in rats. Ảnh hưởng của chính quyền nuôi và miệng của bột ngọt-L (bột ngọt) về tăng trưởng sinh dưỡng ở chuột. Toxicol Lett 4: 327-343. Toxicol Lett 4: 327-343.

34. 34. Taliferro, PJ (1995). Taliferro, PJ (1995). Monosodium glutamate and the Chinese restaurant syndrome: a review of food additive safety. Bột ngọt và hội chứng nhà hàng Trung Quốc: một đánh giá về an toàn thực phẩm phụ gia. J. Environmental Health 57: 8-12. J. sức khỏe môi trường 57: 8-12.

35. 35. Tarasoff, L and Kelly, MF (1993). Tarasoff, L và Kelly, MF (1993). Monosodium L-glutamate: a double-blind study and review. Bột L-glutamate: một nghiên cứu mù đôi và xem xét. Food Chem Toxic 31:1019-1035. Thực phẩm độc Chem 31:1019-1035.

36. 36. Yang, WH, Drouin, MA, Herbert, M., and Mao, Y. (1997). Yang, WH, Drouin, MA, Herbert, M., và Mao, Y. (1997). The monosodium glutamate symptom complex: Assessment in a double-blind, placebo-controlled, randomized study. Các bột ngọt triệu chứng phức tạp: Đánh giá trong một, nghiên cứu mù đôi dùng giả dược, ngẫu nhiên,. J Allergy Clin Immunol 99: 757-762. J Allergy Clin Immunol 99: 757-762.

37. 37. Daniels, DH, Joe, FL and Diachenko, GW (1995). Daniels, DH, Joe, FL và Diachenko, GW (1995). Determination of free glutamic acid in a variety of foods by high-performance liquid chromatography. Xác định acid glutamic tự do trong nhiều loại thức ăn bằng cách thực hiện sắc ký lỏng cao. Food Additives and Contaminants 12:21-29. Phụ gia thực phẩm và chất gây ô nhiễm 12:21-29.

38. 38. Blaylock, RL (1994). Blaylock, RL (1994). Excitotoxins: the taste that kills. Excitotoxins: hương vị mà chết. Santa Fe: Health Press. Santa Fe: Y tế báo chí.

39. 39. Taylor, SL (1993, April). Taylor, SL (1993, Tháng tư). Possible adverse reactions to hydrolyzed vegetable protein. Có thể có phản ứng bất lợi thủy phân protein thực vật. Paper submitted to the Federation of American Societies for Experimental Biology review panel. Giấy nộp cho Liên đoàn các xã hội cho người Mỹ xem xét lại bảng Sinh học thực nghiệm.

40. 40. Goldschmiedt, M., Redfern, JS, and Feldman, M. (1990). Goldschmiedt, M., Redfern, JS, và Feldman, M. (1990). Food coloring and monosodium glutamate: effects on the cephalic phase of gastric acid secretion and gastrin release in humans. Màu thực phẩm và bột ngọt: tác động trên giai đoạn xoay thai của tiết acid dạ dày và giải phóng gastrin ở người. Am J Clin Nutr 51: 794-797. Am J Clin Nutr 51: 794-797.

41. 41. Appreciation to Baby Love Products Inc. of Camrose, Alberta, Canada (www.kidalog.com) Thưởng cho Baby Love Sản phẩm Inc của Camrose, Alberta, Canada (www.kidalog.com)

42. 42. Taken from Jack Samuels and his wife, Adrienne Samuels, PhD, who are founders of Truth in Labeling, a nonprofit organization dedicated to accurate labeling of MSG and the removal of MSG from use in agriculture. Lấy từ Jack Samuels và vợ ông, Adrienne Samuels, Tiến sĩ, người sáng lập của chân lý trong nhãn, một tổ chức phi lợi nhuận dành riêng để ghi nhãn chính xác và loại bỏ bột ngọt của bột ngọt từ sử dụng trong nông nghiệp là người. For further information, see their website at www.truthinlabeling.org. Để biết thêm thông tin, xem trang web của họ tại www.truthinlabeling.org.

43. 43. Leibovitz, B. Safety of amino acids used as dietary supplements. Leibovitz, B. an toàn của các axit amin được sử dụng như là chất bổ sung chế độ ăn uống. Am. Am. J. Clinical Nutrition, Vol. J. Clinical Nutrition, Vol. 57, Issue 6, b -946, June 1, 1993 57, Issue 6, b -946, ngày 01 tháng 6 1993





: groups
groups -> Báo cáo tài chính, luồng tiền và các khoản thuế (Mức độ: Dễ, Dễ/Trung bình, Trung bình/Khó, và Khó) Phần I
groups -> Viettudan an ban/ Edition: unicode fonts Dau tranh cho Tu-do Ca-nhan & Nguyen-tac Dan-chu Xa-hoi tai Viet-Nam
groups -> Lời Tuyên Bố của các Công Dân Tự Do
groups -> PHẦn chuyển tiếp kính thưa quý vị và các bạn trẻ, giữa những ngưới Việt chúng ta, tôi nói
groups -> Ý Nga sưu tầm và cập nhật hóa ngày 21-4-2013, với nhạc của nhạc sĩ: TừYên, Hà Thúc Sinh vừa thêm vào
groups -> BÁo cáo môn: RÈn luyện nghiệp vụ SƯ phạM 3
groups -> Phản Bội hay Tự Do cho Việt Nam ?
groups -> Tin khoa hoc december 31, 2010 Những vụ phóng vệ tinh thất bại trong 2010 Trong năm 2010, một số quốc gia đã vấp phải các sự cố trong việc phóng vệ tinh vào không gian
groups -> Một Thời Bạn Học Revised 8/4/10 việt nam




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương