BÁo cáo nghiên cứu khả NĂng việt nam gia nhập công ưỚc viêN 1980 VỀ HỢP ĐỒng mua bán hàng hóa quốc tế (cisg) Phần I: Giới thiệu chung


Công ước Viên 1980 – Tại sao gia nhập ? Tại sao không ?



tải về 448.53 Kb.
trang3/6
Chuyển đổi dữ liệu02.09.2016
Kích448.53 Kb.
1   2   3   4   5   6

1. Công ước Viên 1980 – Tại sao gia nhập ? Tại sao không ?

1.1 Anh


Sau 30 năm ra đời, CISG vẫn chưa được Vương quốc Anh phê chuẩn. Tuy nhiều quốc gia đã trở thành thành viên của Công ước (trong đó có Hoa Kỳ, Canada, Trung Quốc,…) nhưng cường quốc này vẫn đứng ngoài cuộc và không hề có động thái chính thức nào về việc tham gia. Nhiều lý do đã đưọc đưa ra để giải thích tại sao CISG được áp dụng phổ biến tại các quốc gia nhưng Vương quốc Anh vẫn chưa gia nhập Công ước này142. Giải thích phổ biến nhất là Luật mua bán hàng hóa năm 1979 của Anh là một văn bản có sức ảnh hưởng rất lớn trong mua bán hàng hóa quốc tế, và là niềm tự hào của các luật gia Anh. Việc tham gia CISG có thể làm giảm sức ảnh hưởng này và với một quốc gia bảo thủ như Vương quốc Anh, đây không phải là điều họ mong muốn.

Hai cuộc khảo sát năm 1989 và 1997 lấy ý kiến của các doanh nghiệp Anh về việc gia nhập CISG cho thấy đa số các tập đoàn kinh tế lớn không mấy hứng thú với Công ước này, trong đó có ICI, BP, Shell,… và rất nhiều tổ chức bỏ phiếu thuận năm 1989 cũng thay đổi ý định của mình vào năm 1997. Hầu hết họ cho rằng việc tham gia Công ước sẽ càng gây thêm nhiều tranh chấp và làm giảm tầm ảnh hưởng của luật Anh trên trường quốc tế. Tham gia một chuẩn mực như CISG sẽ làm giảm đi đáng kể thu nhập từ việc xét xử các vụ tranh chấp hợp đồng tại nước này theo luật Anh. Trong khi đó, với sức mạnh kinh tế của mình, tính đến thời điểm hiện tại, nền kinh tế Anh không hề bị ảnh hưởng tiêu cực bởi việc không gia nhập CISG.

Theo nhiều luật sư Anh, một số điều khoản của Công ước được xem là “cái bẫy” dẫn tới việc không áp dụng luật Anh hoặc gây khó khăn cho các luật sư đã quen áp dụng luật Anh. Angelo Forte – giảng viên Luật của Đại học Aberdeen, Scotland143 – đã chỉ rõ những “cái bẫy” này trong một bài nghiên cứu của mình. Thứ nhất, nếu là thành viên của CISG thì CISG sẽ trở thành luật áp dụng trong các hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế ngay cả khi quy phạm tư pháp quốc tế dẫn chiếu đến luật của Anh (quy định tại khoản b của Điều 1.1), trừ khi Anh thực hiện bảo lưu điều 1.1(b). Điều này đồng nghĩa với việc loại bỏ Luật của Anh ra khỏi vị trí ưu tiên áp dụng, và điều này thì chắc chắn những nhà lập pháp của Anh không hề mong đợi. “Cái bẫy” thứ 2 ở điều 16.2(a) về điều kiện “chào hàng không thể bị hủy”. Công ước quy định rằng chào hàng không thể bị hủy nếu nó ấn định một thời hạn xác định để chấp nhận hay khẳng định rằng nó không thể bị hủy”. Nhưng trong luật của Anh, chào hàng không thể bị hủy chỉ khi “có hồi âm từ người được chào hàng” và “người chào hàng cam đoan không hủy”, tức là 2 điều kiện này phải đồng thời diễn ra. Vì những rủi ro tiềm ẩn như vậy, các luật sư phải hết sức cẩn thận khi soạn thảo và thương thuyết hợp đồng.

Thêm nữa, như đã nói ở trên, quy phạm pháp lý quốc gia hiện hành tại Vương quốc Anh và các điều khoản của Công ước 1980 không hoàn toàn giống nhau. Vì vậy chỉ cần một cách diễn đạt hay lối hành văn bị hiểu sai là có thể dẫn đến sự tổn thất nghiêm trọng cho hệ thống Luật quốc gia của Anh. Ví dụ, những thuật ngữ quá chung được sử dụng trong công ước như “tính Quốc tế”, “việc áp dụng thống nhất Công ước”, “tuân thủ trong thương mại Quốc tế” tại Điều 7 sẽ gây nhiều tranh cãi trong cách hiểu và áp dụng.

Nói một cách khác, tính “truyền thống” của pháp luật Anh và sự “bảo thủ” của” nước này đã ngăn cản họ tham gia CISG.

1.2. Hàn Quốc144


Trong vòng 20 năm trở lại đây, Hàn Quốc đã có bước tiến dài trong lĩnh vực mua bán hàng hóa quốc tế với sự tăng trưởng ấn tượng về kim ngạch và khối lượng xuất nhập khẩu. Hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế trở thành nhu cầu thiết thân đối với nước này. Vì vậy, sau nhiều năm thảo luận nội bộ, cùng với “sức ép” tạo ra từ sự gia nhập CISG lần lượt của các bạn hàng lớn, trong đó có các đối tác thương mại lớn như Hoa Kỳ, Canada, Trung Quốc… Hàn Quốc đã có quyết định cuối cùng: gia nhập CISG vào ngày 17/2/2004, và chính thức áp dụng các điều khoản của Công ước vào các giao dịch hàng hóa Quốc tế vào ngày 1/3/2005.

Trước thời điểm này, các tổ chức kinh doanh của Hàn Quốc luôn bị động khi chọn luật cho hợp đồng mua bán và thường có xu hướng chấp nhận luật nước ngoài, đặc biệt là luật của Hoa Kỳ và Anh. Điều này làm các doanh nghiệp Hàn Quốc khó có thế chủ động khi xảy ra tranh chấp, từ đó làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa. Vì lý do này, việc gia nhập CISG đã được tính đến. Tuy nhiên một số người vẫn bất đồng ý kiến với việc gia nhập CISG vì lo ngại rằng gia nhập thành viên Công ước sẽ đem lại nhiều rủi ro pháp lý và ngỡ ngàng cho nhiều luật sư và doanh nhân Hàn Quốc đã quen áp dụng các bộ luật sẵn có, nhất là việc dịch Công ước sang tiếng quốc ngữ. Đây cũng là quan ngại chung của nhiều nước khi cân nhắc việc nên hay không nên trở thành thành viên của Công ước. Ngoài ra, họ cho rằng thời điểm gia nhập CISG là chưa chín muồi vì một số bạn hàng lớn lúc bấy giờ vẫn chưa có động thái tích cực đối với CISG, điển hình là Nhật Bản – một trong số những nước có khối lượng giao dịch hàng hóa lớn nhất với Hàn Quốc và có hệ thống quy phạm pháp luật gần giống Hàn Quốc nhất.

Những quan điểm trên đã dần thay đổi khi hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế của Hàn Quốc ngày càng mở rộng. Sự thay đổi lớn nhất là sự bình thường hóa quan hệ mua bán với Trung Quốc – một nền kinh tế đang lớn mạnh một cách cực kỳ ấn tượng tại Châu Á từ năm 1992. Vào thời điểm đó Trung Quốc đã là thành viên của CISG. Chính sự gia tăng lượng giao dịch hàng hóa với Trung Quốc và sự chuẩn bị ráo riết của Nhật Bản trong tiến trình gia nhập CISG vào thời điểm đó là nguồn động lực lớn nhất để các học giả, luật sư và các nhà kinh tế Hàn Quốc đã ủng hộ mạnh mẽ xu hướng gia nhập Công ước.

1.3. Nhật Bản145


Nhật Bản đã gia nhập Công ước Viên 1980 ngày 1/8/2009, sau gần ba mươi năm CISG được phê duyệt và sau gần hai mươi năm kể từ khi CISG chính thức có hiệu lực. Tại sao cường quốc kinh tế lớn thứ hai thế giới này lại chậm trễ trong việc gia nhập CISG như vậy?

Chưa bao giờ Nhật Bản phản đối việc tham gia Công ước Viên 1980, tuy nhiên trong khoảng thời gian khủng hoảng kinh tế ưu tiên hàng đầu đối với Chính phủ Nhật là thoát khỏi khủng hoảng. Mặt khác, vào thập niên 90 chỉ có khoảng 30 nước tham gia CISG, chưa có một xu hướng rõ rệt hay câu trả lời chính xác rằng CISG sẽ được sử dụng rộng rãi hay không cùng với việc thiếu sự hậu thuẫn về kinh tế từ các tập đoàn kinh doanh lớn nên Nhật đã không tham gia CISG cho đến 1/8/2009. Có ba lý do chính cho sự thay đổi này:

Thứ nhất, việc tham gia và sử dụng CISG trong giao dịch thương mại quốc tế đã trở thành xu thế toàn cầu. Đã có hơn 70 quốc gia tham gia Công ước, ngay cả những nước chưa tham gia cũng có thể sử dụng công ước như một luật điều chỉnh hợp đồng.

Thứ hai, hiện nay nền kinh tế đã đi vào ổn định, Chính phủ Nhật đã có điều kiện tập trung thời gian cũng như nhân lực vào công tác nghiên cứu tác động của CISG, và đã sớm khẳng định những lợi ích mà CISG mang lại. Các thương gia chính là những người nhận thức rõ nhất lợi ích của việc tham gia CISG như giảm chi phí khi sử dụng một bộ luật thống nhất cho các giao dịch quốc tế, hay có thể cắt giảm chi phí cho việc đàm phán bộ luật điều chỉnh hợp đồng. Đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay, kim ngạch xuất nhập khẩu của Nhật Bản với các nước châu Á ngày càng tăng, chiếm khoảng 40% tổng kim ngạch. Nhiều nước châu Á là các nước đang phát triển, cần hoàn thiện hệ thống luật pháp nên việc xác định được một bộ luật thống nhất có ý nghĩa rất lớn trong quá trình giao thương này.

Thứ ba, nhiều thương gia, cũng như các nhà làm luật đã trở nên quen thuộc với CISG do nhiều điều khoản cũng như khái niệm của CISG đã được đưa vào luật dân sự của Nhật. Vì vậy tâm trạng e dè đối với việc tham gia CISG hầu như không còn nữa.

1.4. Các nước ASEAN

Một điều dễ nhận thấy khi nhìn vào danh sách 77 nước thành viên CISG là sự vắng mặt của hầu như tất cả các nước ASEAN (trừ Singapore) trong khi đây lại là một trong những khu vực năng động nhất thế giới, đặc biệt trong hoạt động xuất khẩu.

Theo ý kiến của Ông Luca Castellani, chuyên gia pháp luật thương mại quốc tế tại Ban Thư ký UNCITRAL thì việc các nước ASEAN chưa phải là thành viên CISG có thể xuất phát từ nhiều lý do. Thứ nhất, rất ít nước có đại diện tham gia vào quá trình đàm phán xây dựng CISG từ ban đầu và vì vậy họ không gia nhập CISG ngay từ thời điểm ký kết. Thời gian sau đó, các nước này lại bị cuốn vào rất nhiều mối quan tâm ưu tiên khác về pháp lý (trừ Singapore) và vì vậy họ chưa tham gia CISG chứ hoàn toàn không phải vì những lý do về nội dung của CISG. Một lý khác giải thích cho việc này là các nước ASEAN có tham vọng hình thành một khung pháp lý chung về hợp đồng cho các nước trong khu vực này, vì vậy họ không thật sự mặn mà với CISG. Tuy nhiên, khi mà khung pháp lý chung mà các nước ASEAN này chưa thành hình trong khi hoạt động thương mại ở khu vực này lại đang gia tăng nhanh chóng (đặc biệt sau khi ký kết Hiệp định thương mại tự do về hàng hóa ATIGA), xu hướng quay lại với CISG lại đang gia tăng ở khu vực này. Với việc gia nhập CISG của Hàn Quốc năm 2005 và Nhật Bản năm 2009, xu hướng ủng hộ CISG càng được cổ vũ hơn nữa. Thái Lan, Philippine, Indonesia đang tỏ rõ ý định gia nhập CISG.

2. Tác động của Công ước Viên với các nước đã gia nhập

2.1. Trung Quốc


Từ năm 1988 khi bắt đầu có hiệu lực, Công ước Viên đã và đang được áp dụng rất rộng rãi tại Trung Quốc146. Nhiều phán quyết của trọng tài Trung Quốc, chủ yếu là của CIETAC (China International Economic and Trade Arbitration Commission) có liên quan đến Công ước Viên 1980 đã được tập hợp. Con số này là khoảng 300 phán quyết147. Trong các phán quyết này, có thể thấy rõ vai trò của Công ước trong việc điều chỉnh các vấn đề mà pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa của Trung Quốc còn bất cập hoặc chưa điều chỉnh, nhờ đó những tranh chấp trong lĩnh vực ngoại thương được giải quyết nhanh chóng và hợp lý.

Theo nhận định của nhiều nhà phân tích thì Công ước Viên 1980 đã phát huy vai trò rất tích cực để thúc đẩy hoạt động ngoại thương của Trung Quốc. Vai trò này được thể hiện rõ nhất trong giai đoạn những năm 90 của thế kỷ trước, thời kỳ phát triển mạnh mẽ hoạt động ngoại thương của Trung Quốc148. Một mặt, các nhà kinh doanh Trung Quốc có một nguồn luật đã được chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới để áp dụng vào hợp đồng ký với đối tác nước ngoài. Mặt khác, các đối tác nước ngoài cũng tin tưởng và yên tâm hơn khi làm ăn với các doanh nghiệp Trung Quốc vì Công ước này đã được chấp nhận ở Trung Quốc. Số lượng các hợp đồng trong đó các bên lựa chọn Công ước Viên 1980 là luật áp dụng ngày càng gia tăng149.

Vai trò của Công ước ở Trung Quốc còn thể hiện ở việc nhiều điều khoản trong Luật Hợp đồng Trung Quốc ngày 15/03/1999 được tham khảo từ Công ước này. Các nhà lập pháp Trung Quốc đã chuyển hóa các nguyên tắc chung và một số quy định cụ thể của Công ước Viên 1980 vào pháp luật hợp đồng của mình, trước hết vì đó là những nguyên tắc và quy định được chấp nhận và áp dụng rộng rãi tại nhiều quốc gia trên thế giới. Trên thực tiễn áp dụng CISG, có nhiều trường hợp thậm chí tòa trọng tài Trung Quốc còn áp dụng CISG cho cả quan hệ thương mại giữa hai bên cùng có trụ sở ở Trung Quốc,150 hoặc một bên Trung Quốc, một bên Hồng Kông, Macao hoặc Đài Loan.151 Trong đó CISG thể hiện rất rõ vai trò “lấp lỗ trống” pháp lý trong pháp luật thương mại hợp đồng của Trung Quốc.152

2.2. Châu Âu


Các nước Tây Âu là nơi khởi nguồn ý tưởng thành lập một công ước quốc tế nhằm thống nhất quy định về hợp đồng mua bán quốc tế. Pháp, Đức, Ý đều là thành viên của các Công ước La Hay 1964, tiền thân của CISG. Cũng chính các nước này đã tham gia đóng góp rất nhiều vào việc soạn thảo và xây dựng Công ước Viên. Chính vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi đây cũng là các nước tham gia Công ước sớm nhất (Pháp tham gia CISG năm 1982, Ý năm 1985, Đức tham gia năm 1989) và Công ước Viên cũng có ảnh hưởng rất lớn ở các nước này.

Đức là nơi mà CISG có dấu ấn rõ nét nhất, với khối lượng khổng lồ các vụ kiện áp dụng CISG (các vụ kiện này chiếm tới gần 1/3 toàn bộ các vụ kiện được báo cáo tại CLOUT153 và PACE). Năm 2002, CISG đã chính thức trở thành một phần của Bộ luật Dân sự của Đức.154 Các nghiên cứu ở nước này cho thấy CISG được phổ biến rất rộng rãi và 100% các luật sư, thẩm phán được phỏng vấn đều có những hiểu biết nhất định về CISG. Công ước Viên cũng được ghi nhận trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua Luật về các nghĩa vụ (“Schuldrechtsreform”) năm 2002 theo khuôn mẫu CISG) trong rất nhiều hợp đồng mẫu về mua bán hàng hóa.

Pháp là quốc gia thứ hai (sau Đức) có số lượng vụ kiện lớn về CISG155. Thực tiễn áp dụng CISG tại Pháp cũng có nhiều thăng trầm. Trong thời gian đầu, sự khác biệt trong một số quy định của CISG và pháp luật về mua bán hàng hóa ở Pháp đã dẫn tới một số khó khăn nhất định trong việc áp dụng CISG156. Do đó, trong thời gian này, nhiều phán quyết của tòa án Pháp liên quan đến CISG đã bị chỉ trích là không hợp lý do các thẩm phán bị ảnh hưởng nặng nề bởi pháp luật quốc gia và vì thế đã diễn giải chưa đúng các điều khoản của Công ước157. Tuy vậy, cùng với thời gian, đặc biệt là với sự lên tiếng của các học giả Pháp bình luận các bản án chưa hợp lý thì chất lượng các bản án áp dụng CISG của tòa án Pháp ngày càng được nâng cao158. Cũng giống như ở Đức, Công ước Viên có vai trò đáng kể giúp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mua bán hàng hóa nói riêng và pháp luật về hợp đồng nói chung tại Pháp. Một số quy định của CISG đã làm thay đổi quan niệm cứng nhắc của các luật gia, các thẩm phán của Pháp, ví dụ về việc chấp nhận các hợp đồng có giá mở159, hay là giảm bớt các nghĩa vụ quá nặng nề của người bán160. Thậm chí, trong một bản án của mình, Tòa Phúc thẩm Pháp (Cour de cassation) còn dẫn chiếu đến CISG để “soi sáng” cho một số điều luật trong Bộ luật dân sự của Pháp161. Có thể nói, thành công của việc áp dụng CISG tại Pháp có được một phần lớn là nhờ nỗ lực của các nhà nghiên cứu. Ở Pháp có một lượng khổng lồ các học thuyết liên quan đến CISG, các công trình nghiên cứu về CISG cũng rất nhiều. Các nhà nghiên cứu, bằng những học thuyết và công trình của mình, đã góp phần vào việc tuyên truyền, phổ biến về CISG, đồng thời cũng tác động tới quá trình áp dụng CISG của các thẩm phán và quá trình hoàn thiện pháp luật quốc gia của các nhà lập pháp.

Tại Ý, một vấn đề gây khó khăn trong việc thực thi Công ước là tiếng Ý không nằm trong 06 ngôn ngữ chính thức của Công ước (là tiếng Anh, tiếng Trung Quốc, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ả rập). Hiện ở Ý tồn tại nhiều bản dịch CISG, nhưng chưa có bản dịch nào được chính thức công nhận. Tuy nhiên, các tòa án không mấy khi để ý so sánh các bản dịch này. Trong một số trường hợp các thẩm phán buộc phải dẫn chiếu đến một trong 06 bản ngôn ngữ chính thức của CISG (như bản tiếng Anh hoặc tiếng Pháp) để đảm bảo tính chính xác khi diễn giải các điều khoản của Công ước. Mặc dù không có những số liệu cụ thể chính xác, nhiều nghiên cứu và đánh giá cho thấy nhận thức về Công ước Viên trong giới luật sư, thẩm phán tại Ý là tương đối thấp. Một số tòa án từ chối áp dụng CISG và thay bằng Bộ luật Dân sự của Ý (“Codice Civile”) trong những trường hợp mà lẽ ra CISG phải được áp dụng. Tuy nhiên trong thời gian gần đây giới hành nghề luật tại Ý ngày càng nhận thức tốt hơn về Công ước, thể hiện ở việc ngày càng nhiều hợp đồng mẫu về mua bán hàng hóa sử dụng CISG như một công cụ soạn thảo. Đây là một ví dụ điển hình cho việc áp dụng CISG ở các nước không nói ngôn ngữ chính thức của CISG.


2.3. Hoa Kỳ


Là một trong những nước đầu tiên tham gia Công ước Viên từ năm 11/12/1986 nhưng quá trình thực thi Công ước tại Hoa Kỳ lại cho một bức tranh hoàn toàn trái ngược với Trung Quốc, Đức và Pháp.

Là cường quốc lớn nhất thế giới về kinh tế và thương mại quốc tế, trong suốt 12 năm đầu thực hiện Công ước, Hoa Kỳ chỉ đóng góp vào thư viện vụ kiện CISG khoảng 18 vụ kiện,162 thấp hơn rất nhiều so với quy mô giao dịch thương mại của quốc gia này. Đáng lưu ý trong số đó rất nhiều trường hợp các tòa án Hoa Kỳ viện dẫn Điều 6 của CISG để từ chối áp dụng Công ước.163 Tương tự, hầu hết các luật sư và nhà tư vấn pháp lý tại Hoa Kỳ đều khuyến khích khách hàng quy định điều khoản không áp dụng CISG trong thỏa thuận thương mại của mình.164 Ngoài ra, trong những trường hợp khác khi CISG được áp dụng, các thẩm phán Hoa Kỳ thường có xu hướng sử dụng các khái niệm của UCC để diễn giải Công ước trái với yêu cầu về tính quốc tế của nó.165 Điều này theo nhiều chuyên gia được giải thích bởi 03 lý do sau:

Thứ nhất, Bộ luật thương mại thống nhất (UCC) năm 1952 của Hoa Kỳ là một bộ luật hết sức chi tiết về hợp đồng mua bán hàng hóa, hiện được áp dụng rộng rãi tại 50 trong tổng số 51 bang của Hoa Kỳ. Chính phủ Hoa Kỳ đã mất một thời rất dài để thống nhất hóa được luật pháp về thương mại theo UCC, vì vậy việc áp dụng CISG cho mua bán hàng hóa quốc tế tồn tại song song với UCC đã tạo ra sự xáo trộn không nhỏ. Các thương nhân Hoa Kỳ đã quen áp dụng UCC 1952 và nếu áp dụng CISG thì họ phải thay đổi một số cách thức và thói quen làm ăn đã được thực hành từ rất lâu giữa các thương nhân Hoa Kỳ và thương nhân nước ngoài. Đây là điều họ không muốn. Vì vậy, trong các điều kiện giao dịch chung (điều kiện chung về bán hàng hay điều kiện chung về mua hàng), họ đều loại trừ việc áp dụng Công ước Viên 1980. Trong trường hợp họ có thế và lực trong đàm phán, họ thường quy định áp dụng UCC hoặc pháp luật của một bang nào đó của Hoa Kỳ thay vì áp dụng CISG.

Thứ hai, CISG dường như không giành được sự quan tâm của giới nghiên cứu học thuật cũng như giới hoạt động thực tiễn ở Hoa Kỳ. Trên thực tế, các luật sư Hoa Kỳ cũng thấy khó khăn trong việc tư vấn cho khách hàng áp dụng CISG và ở Hoa Kỳ hiện chưa có nhiều vụ kiện áp dụng CISG. Bên cạnh đó, số lượng sinh viên, luật sư và thậm chí các thẩm phán hiểu biết về CISG rất ít nếu so với các nước thuộc EU như Pháp, Đức, Ý. Nghiên cứu của học giả Hoa Kỳ, Sukurs166 cho thấy CISG không được giảng dạy trong các khóa học về hợp đồng thương mại, chỉ có khoảng 30% thẩm phán tại Bang Florida có kiến thức vừa phải về CISG. Trong số 10 luật sư Hoa Kỳ được hỏi về CISG có tới 8 đến 9 người trả lời rằng họ thực sự không biết CISG là gì.

Thứ ba, một số quy định và khái niệm cơ bản của CISG khác với các quy định tương ứng của Hoa Kỳ, điều này khiến cho việc xét xử có thể trở nên khó khăn. Ví dụ như khái niệm “thiện chí” trong CISG không hề xuất hiện trong hệ thống luật Hoa Kỳ.167 Vì vậy ngay cả các thẩm phán cũng “lưỡng lự” trong việc áp dụng CISG và thường có xu hướng né tránh áp dụng.

Các lý do trên cũng đúng đối với hầu hết các nước theo hệ thống thông luật (Common law) như Anh, New Zealand, Canada, Úc, Singapore.168 Tuy nhiên, trong 10 năm trở lại đây, trước áp lực rất lớn của cộng đồng quốc tế, tình hình áp dụng Công ước Viên tại Hoa Kỳ đã được cải thiện ít nhiều. Chỉ trong 10 năm từ 2001-2010, số lượng vụ kiện CISG của Hoa Kỳ được báo cáo tại UNILEX đã tăng gấp hơn 3 lần so với 12 năm trước đó (từ 1998-2000), nhiều học giả và nhà hành nghề luật tại Hoa Kỳ đã nêu lên nhu cầu phải thống nhất hóa luật quốc tế về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo khuôn khổ CISG do khối lượng giao dịch thương mại ngày càng tăng giữa các quốc gia thành viên của Công ước.169




1   2   3   4   5   6


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương