BÁo cáo nghiên cứu khả NĂng việt nam gia nhập công ưỚc viêN 1980 VỀ HỢP ĐỒng mua bán hàng hóa quốc tế (cisg) Phần I: Giới thiệu chung



tải về 448.53 Kb.
trang1/6
Chuyển đổi dữ liệu02.09.2016
Kích448.53 Kb.
  1   2   3   4   5   6
BÁO CÁO NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG VIỆT NAM GIA NHẬP CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ (CISG)

Phần I: Giới thiệu chung

  1. Sơ lược lịch sử hình thành Công ước

  2. Tình hình thực thi Công ước

  3. Những nội dung cơ bản của Công ước

Phần II: Thực trạng các doanh nghiệp Việt Nam trong giao dịch thương mại quốc tế

1. Tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam

2. Các chủ thể tham gia hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế

3. Thực tế tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế



Phần III: So sánh nội dung Công ước Viên 1980 và pháp luật hợp đồng của Việt Nam

1. Các quy định chung

2. Giao kết hợp đồng

3. Mua bán hàng hóa

4. Các bảo lưu

Phần IV: Hệ thống các vụ kiện liên quan đến Công ước Viên

1. Nhận định chung

2. Các hàng hóa thường xảy ra tranh chấp

3. Các vấn đề thường xảy ra tranh chấp và hướng giải quyết của các cơ quan tài phán



Phần V: Kinh nghiệm của các nước trong việc gia nhập Công ước Viên

1. Công ước Viên 1980 – Tại sao gia nhập ? Tại sao không ?

1.1 Anh

1.2 Hàn Quốc

1.3 Nhật Bản

1.4 Các nước ASEAN

2. Tác động của Công ước Viên với các nước đã gia nhập


2.1 Trung Quốc

2.2 Châu Âu

2.3 Hoa Kỳ

3. Bài học kinh nghiệm



Phần VI : Khả năng Việt Nam gia nhập Công ước Viên 1980

  1. Những lợi ích của việc Việt Nam gia nhập Công ước Viên 1980

  2. Những điểm bất cập của Công ước Viên 1980 mà Việt Nam cần lưu ý

  3. Điều kiện và thủ tục gia nhập

  4. Yêu cầu sau gia nhập

Kết luận và đề xuất

Phần I: Giới thiệu chung

  1. Sơ lược lịch sử hình thành Công ước

Công ước Viên của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (viết tắt theo tiếng Anh là CISG- Convention on Contracts for the International Sale of Goods) được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) trong một nỗ lực hướng tới việc thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.

Trên thực tế, nỗ lực thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đã được khởi xướng từ những năm 30 của thế kỷ 20 bởi Unidroit (Viện nghiên cứu quốc tế về thống nhất luật tư). Unidroit đã cho ra đời của hai Công ước La Haye1 năm 1964: một Công ước có tên là “Luật thống nhất về thiết lập hợp đồng mua bán quốc tế các động sản hữu hình”, Công ước thứ hai là về “Luật thống nhất cho mua bán quốc tế các động sản hữu hình”2. Công ước thứ nhất điều chỉnh việc hình thành hợp đồng (chào hàng, chấp nhận chào hàng). Công ước thứ hai đề cập đến quyền và nghĩa vụ của người bán, người mua và các biện pháp được áp dụng khi một/các bên vi phạm hợp đồng. Tuy vậy, hai Công ước La Haye năm 1964 trên thực tế rất ít được áp dụng. Lý do là vì hai Công ước này do một thiết chế tư (Unidroit) soạn thảo nên không gây được ảnh hưởng rộng rãi trên thế giới. Hơn nữa, chỉ có những quốc gia Châu Âu (theo hệ thống luật Civil Law) tham gia vào việc soạn thảo hai Công ước và vì vậy, chúng hầu như chỉ được biết đến và được áp dụng tại các quốc gia này.

Năm 1968, UNCITRAL đã khởi xướng việc soạn thảo một Công ước thống nhất về pháp luật nội dung áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhằm thay thế cho hai Công ước La Haye năm 1964. Được soạn thảo dựa trên các điều khoản của hai Công ước La Haye, song Công ước Viên có những điểm đổi mới và hoàn thiện cơ bản. Công ước này được thông qua tại Viên (Áo) ngày 11 tháng 04 năm 1980 tại Hội nghị của Ủy ban của Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế với sự có mặt của đại diện của khoảng 60 quốc gia và 8 tổ chức quốc tế. CISG có hiệu lực từ ngày 01/01/1988.

2. Tình hình thực thi Công ước:

Cho đến nay, CISG đã trở thành một trong các công ước quốc tế về thương mại được phê chuẩn và áp dụng rộng rãi nhất. Với 77 quốc gia thành viên3 (tính đến ngày 1/11/2011), ước tính Công ước này điều chỉnh các giao dịch chiếm đến hai phần ba thương mại hàng hóa thế giới4. Trong danh sách 77 quốc gia thành viên của Công ước Viên, có sự góp mặt của các quốc gia thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau, các quốc gia phát triển cũng như các quốc gia đang phát triển, các quốc gia tư bản chủ nghĩa cũng như các quốc gia theo đường lối xã hội chủ nghĩa trên mọi châu lục. Hầu hết các cường quốc về kinh tế trên thế giới (Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Canada, Australia, Nhật Bản…) đều đã tham gia CISG.

Sự thành công của Công ước Viên được khẳng định trong thực tiễn với hơn 2500 vụ kiện5 có liên quan6 (tức là các phán quyết, quyết định giải quyết các tranh chấp hợp đồng sử dụng hoặc dựa trên các quy định của CISG) . Điểm cần nhấn mạnh là 2500 vụ kiện này không chỉ phát sinh tại các quốc gia thành viên. Tại các quốc gia chưa phải là thành viên, Công ước vẫn được áp dụng, hoặc do các bên trong hợp đồng lựa chọn Công ước Viên như là luật áp dụng cho hợp đồng, hoặc do các tòa án, trọng tài dẫn chiếu đến để giải quyết tranh chấp7.

Năm 2008 đánh dấu sự thành công mới của Công ước Viên tại Châu Á, khi mà Nhật Bản tham gia Công ước này. Với ảnh hưởng mạnh mẽ và rộng lớn về thương mại hàng hóa của Nhật Bản ở Châu Á và trên thế giới, các chuyên gia dự báo việc Nhật Bản- nền kinh tế hùng mạnh nhất Châu Á gia nhập Công ước Viên sẽ kéo theo nhiều hồ sơ gia nhập hay phê chuẩn từ các quốc gia khác, đặc biệt là các quốc gia Châu Á8.


3. Những nội dung cơ bản của Công ước


Công ước Viên 1980 gồm 101 Điều, được chia làm 4 phần với các nội dung chính sau:

Phần 1: Phạm vi áp dụng và các quy định chung (Điều 1- 13)


Phần này quy định trường hợp nào CISG được áp dụng (từ Điều 1 đến Điều 6), đồng thời nêu rõ nguyên tắc trong việc áp dụng CISG, nguyên tắc diễn giải các tuyên bố, hành vi và xử sự của các bên, nguyên tắc tự do về hình thức của hợp đồng. Công ước cũng nhấn mạnh đến giá trị của tập quán trong các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế.


  1   2   3   4   5   6


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương