BÀi giảng quản trị ngân hàng 2



tải về 0.83 Mb.
trang1/11
Chuyển đổi dữ liệu02.09.2016
Kích0.83 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


BÀI GIẢNG

QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG 2

PGS.TS. Lâm Chí Dũng & Th.s. Võ Hoàng Diễm Trinh, 2009

LỜI NÓI ĐẦU

----

Môn học Quản trị ngân hàng 2 là môn học tiếp nối của môn học Quản trị ngân hàng 1 trong chương trình đào tạo sinh viên chuyên ngành Ngân hàng.

Trong điều kiện chưa biên soạn được Giáo trình chính thức, tập Bài giảng này được xem là tài liệu học tập chính thức của sinh viên chuyên ngành ngân hàng.

Tập bài giảng gồm 5 chương. Các chương 1,2,3 do PGS.TS. Lâm Chí Dũng biên soạn. Các chương 4,5 do Th.s. Võ Hoàng Diễm Trinh biên soạn. PGS.TS. Lâm Chí Dũng chịu trách nhiệm chủ biên.

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực nhưng do đây là một môn học mới cả về nội dung và cách tiếp cận nên chắc chắn tập bài giảng này vẫn còn nhiều thiếu sót. Các tác giả chân thành mong muốn sẽ nhận được nhiều góp ý của quý đồng nghiệp và các sinh viên để hoàn thiện trong lần xuất bản tới dưới dạng Giáo trình.


CHƯƠNG 1

RỦI RO TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG

1.1. Tông quan về rủi ro trong kinh doanh Ngân hàng

1.1.1. Định nghĩa rủi ro trong kinh doanh ngân hàng

Có nhiều định nghĩa rủi ro tùy thuộc vào những yếu tố cơ bản sau:



  • Những ứng dụng đặc thù và bối cảnh

  • Tiếp cận rủi ro về mặt định tính hay định lượng

  • Tiếp cận tiêu cực hay tích cực

Tuy nhiên, xét chung nhất, rủi ro có 2 thuộc tính cơ bản:

  • Sự bất định

  • Hậu quả bất lợi

Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng có thể định nghĩa như sau:

Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là những tác động tiềm năng có tính tiêu cực đến tài sản hoặc giá trị của Ngân hàng phát sinh từ một vài tiến trình hiện tại hoặc sự kiện tương lai.

Cách tiếp cận rủi ro giúp mô hình hoá: Rủi ro là sự biến động tiềm ẩn của kết quả = Rủi ro là mức độ bất định của kết quả hoạt động KD của NH

Như vậy, có thể thấy: Số lượng các kết quả có thể có càng lớn, sai lệch giữa các kết quả có thể có càng cao thì rủi ro càng lớn.

1.1.2. Phân loại rủi ro

1.1.1.1. Căn cứ vào tác động

Rủi ro có thể phân loại thành 2 loại cơ bản:

(i) Rủi ro thuần tuý: là loại rủi ro chỉ thuần túy gây nên các tác động tiêu cực, ví dụ: các loại rủi ro hoạt động, rủi ro công nghệ trong kinh doanh ngân hàng…

(ii) Rủi ro suy đoán/ Rủi ro đầu cơ: là loại rủi ro mà có thể tạo nên 2 tác động: tiêu cực hay tích cực ví du: rủi ro lãi suất; rủi ro thị trường … trong kinh doanh Ngân hàng. Đối với những loại rủi ro này, Ngân hàng có thể thu lợi hoặc thiệt hại tùy theo từng bối cảnh cụ thể.

1.1.1.2. Căn cứ vào tính chất

Rủi ro có thể chia làm 2 loại:

(i) Rủi ro đặc thù (Specific risk/ unsystematic risk): là những rủi ro chỉ liên quan đến một lĩnh vực, một ngành, một hoạt động cụ thể…Loại rủi ro này có thể tối thiểu hóa nhờ đa dạng hóa. Vì vậy, loại rủi ro này còn được gọi là rủi ro đa dạng hóa (Diversified risk). Ví dụ: rủi ro tín dụng trong cho vay một doanh nghiệp do hoạt động quản trị yếu kém của doanh nghiệp này..

(ii) Rủi ro hệ thống (Systematic risk): là loại rủi ro thường liên quan đến bối cảnh chung của nền kinh tế và có ảnh hưởng đến tất cả các ngành, các lĩnh vực ví du: lạm phát; suy thoái, khủng hoảng kinh tế…Đây là những loại rủi ro không thể đa dạng hóa (Undiversified Risk)



1.1.3. Các loại rủi ro chủ yếu trong kinh doanh ngân hàng

Tùy theo cách tiếp cận mà rủi ro trong kinh doanh ngân hàng có thể được xem xét dưới các góc độ khác nhau. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu đều thống nhất về các rủi ro chủ yếu trong kinh doanh ngân hàng bao gồm các loại rủi ro sau:

- Rủi ro lãi suất (Interst rate risk)

- Rủi ro thị trường (Market risk)

- Rủi ro tín dụng (Credit risk)

- Rủi ro ngoại bảng (Off-balance sheet risk)

- Rủi ro công nghệ và hoạt động (Technology and operational risks)

- Rủi ro ngoại hối (Foreign exchange risk)

- Rủi ro quốc gia (Country or sovereign risk)

- Rủi ro thanh khoản (Liquidity risk)

- Rủi ro vỡ nợ (Insolvency risk)

- Rủi ro khác (Other risks)


1.2. Phân tích các loại rủi ro chủ yếu trong kinh doanh ngân hàng

1.2.1. Rủi ro lãi suất

1.2.1.1. Khái niệm

Rủi ro lãi suất là rủi ro phát sinh khi lãi suất thay đổi làm giảm lợi nhuận/giá trị của ngân hàng.

Như vậy, rủi ro lãi suất là sự kết hợp đồng thời của 2 nhân tố sau:

- Điều kiện cần: lãi suất biến động (tăng hoặc giảm)

- Điều kiện đủ: Lợi nhuận của NH giảm do chênh lệch lãi suất đầu ra – đầu vào giảm (NII/NIM...) hoặc/và giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu giảm



1.2.1.2. Nguyên nhân

Nguyên nhân khách quan và cơ bản buộc các ngân hàng phải đối diện với rủi ro lãi suất là chức năng biến đổi tài sản (Asset transformation Function) của các trung gian tài chính.

Chức năng biến đổi tài sản của các định chế tài chính trung gian làm cho kỳ hạn; tính thanh khoản và quy mô của các tài sản (Assets) không phù hợp với kỳ hạn; tính thanh khoản và quy mô của các khoản nợ (Liabilities). Do diều này mà khi lãi suất biến động có thể gây ra các tác động tiêu cực lên thu nhập hoặc giá trị của ngân hàng.

Trong trường hợp ngược lại, khi có sự phù hợp hoàn toàn về kỳ hạn, quy mô, cũng như tính thanh khoản giữa tài sản và nợ thì biến động lãi suất sẽ không gây ra bất cứ tác động nào lên thu nhập hay giá trị của ngân hàng. Nói cách khác, NH không đối diện với rủi ro lãi suất ngay cả khi có điều kiện cần. Tuy nhiên đó chỉ là một giả định lý tưởng. Trên thực tế, điều này là không thể xảy ra chính vì chức năng biến đổi tài sản nói trên của ngân hàng. Nếu giả định này xảy ra, tức là ngân hàng sẽ không có lý do để tồn tại bởi vì chức năng nói trên bị vô hiệu hóa trên thực tế.



1.2.1.3. Các biểu hiện (các dạng) của rủi ro lãi suất

Rủi ro lãi suất có 3 biểu hiện hay còn được gọi là 3 dạng là: rủi ro tái tài trợ; rủi ro tái đầu tư; rủi ro giá trị thị trường.



(i) Rủi ro tái tài trợ (Refinancing Risk) là rủi ro mà lợi nhuận của NH giảm do chi phí tái huy động vốn (rolling over or reborrowing funds) cao hơn tiền lãi của các tài sản đầu tư khi kỳ hạn của tài sản đầu tư dài hơn kỳ hạn (short- funded) vốn huy động (liabilities) trong điều kiện lãi suất thị trường tăng



(ii) Rủi ro tái đầu tư (Reinvestment Risk): Rủi ro mà lợi nhuận của NH giảm do thu nhập lãi từ tài sản tái đầu tư giảm thấp hơn chi phí tái huy động vốn do kỳ hạn nợ dài hơn kỳ hạn tài sản đầu tư (long – funded) trong điều kiện lãi suất giảm.

(iii) Rủi ro giá trị thị trường (Market Value Risk)

Rủi ro mà giá trị ròng của NH (giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu) giảm do biến động bất lợi trong giá trị thị trường của Tài sản và Nợ thuộc một trong 2 trường hợp sau:

a. Giá trị thị trường của Tài sản sụt giảm nhanh hơn giá trị thị trường của Nợ khi kỳ hạn của tài sản dài hơn kỳ hạn nợ trong điều kiện lãi suất thị trường tăng

b. Giá trị thị trường của Nợ tăng nhanh hơn giá trị thị trường của Tài sản khi kỳ hạn của Nợ dài hơn kỳ hạn tài sản trong điều kiện lãi suất thị trường giảm



Từ các phân tích trên, có thể rút ra một số ý tưởng cơ bản sau:

- Triết lý chung để phòng ngừa (hedging) và bảo vệ (protecting) trước rủi ro lãi suất: làm phù hợp về kỳ hạn và quy mô giữa tài sản và nợ

- Tuy nhiên, điều này gặp phải 2 trở ngại:

+ Trở ngại thứ nhất là nó mâu thuẫn với chức năng biến đổi tài sản và làm giảm khả năng sinh lời của NH .

+ Trở ngại thứ hai nằm ở chỗ: trên thực tế, khái niệm kỳ hạn là một khái niệm đa dạng. Ít nhất là có sự khác biệt giữa kỳ hạn đến hạn (maturity) và vòng đời bình quân (duration). Mặt khác, ngoài các khoản nợ, nguồn vốn của ngân hàng còn bao gồm cả nguồn vốn chủ sở hữu.
1.2.2. Rủi ro thị trường

Rủi ro thị trường là những rủi ro phát sinh do việc mua, bán các tài sản và nợ trong điều kiện có sự thay đổi về lãi suất; tỷ giá và giá tài sản khác dẫn tới tổn thất về thu nhập/vốn của NH

(các vấn đề gợi ý nghiên cứu:

- RR thị trường và RR giá trị thị trường ?

- Trong trường hợp nào thì NH sẽ không quan tâm đến RR thị trường?

- Sự bất định ở đây là gì?

- Hậu quả của RR thị trường?

- Những nhân tố ảnh hưởng đến RR thị trường?)

Nguyên nhân khách quan hay các nhân tố cơ bản đặt các Ngân hàng trước tình thế đối diện với rủi ro thị trường bao gồm:

- Áp lực từ việc giảm sút thu nhập từ những hoạt động truyền thống buộc các NH tiến hành các hoạt động kinh doanh chứng khoán và các tài sản khác

- Rủi ro thị trường gia tăng khi NH có xu hướng kinh doanh các tài sản và nợ hơn là đầu tư dài hạn; tài trợ vốn hoặc phòng ngừa rủi ro.

- Rủi ro thị trường có liên quan chặt chẽ với những rủi ro về lãi suất; về cổ tức; về tỷ giá; ..
Rủi ro thị trường xuất hiện khi NH giữ vị thế trường (long position/ buy position) hoặc vị thế đoản (short position/ sell position) mở hoặc không bảo hộ (open/ unhedging position).

Vị thế (hay còn gọi trạng thái) là tình trạng mà một ngân hàng đang nắm giữ quyền sở hữu tài sản (tài chính hoặc tài sản thực) hoặc hàng hóa kinh doanh hoặc một cam kết mua hoặc bán…

Vị thế trường là vị thế đầu cơ giá lên, cũng tức là ngân hàng sẽ bị thiệt hại khi giá xuống. Ngược lại, vị thế đoản là vị thế đầu cơ giá xuống và do đó, người nắm giữ vị thế đoản sẽ bị rủi ro khi giá lên.

Để phòng ngừa và bảo hộ rủi ro thị trường, ý tưởng cơ bản là phải kiểm soát vị thế giới hạn. Đây là quan tâm cơ bản của không chỉ những chủ thể quản trị ngân hàng mà cả của các cơ quan điều tiết. Mặt khác, phải phát triển các mô hình đo lường rủi ro thị trường, sử dụng hợp lý các công cụ phái sinh…


1.2.3. Rủi ro tín dụng

Rủi ro tín dụng là rủi ro mà các dòng tiền (cash flows) được hẹn trả theo hợp đồng (tiền lãi, tiền gốc hoặc cả hai) từ các khoản cho vay và các chứng khoán đầu tư sẽ không được trả đầy đủ.

Rủi ro tín dụng còn có thể định nghĩa khác: Rủi ro mà một khoản cho vay hoặc tài sản có (assets) trở nên không thể thu hồi hoặc bị trì hoãn ngoài mong muốn



Cần lưu ý:

- Khái niệm rủi ro tín dụng và rủi ro cho vay có điểm khác biệt. Rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro cho vay và rủi ro từ các khoản đầu tư vào chứng khoán.

- Có quan điểm cho rằng rủi ro tín dụng cũng là một dang rủi ro đối tác. (Couterparty Risk). Rủi ro đối tác là loại rủi ro mà trong đó đối tác không thực hiện các cam kết đã thỏa thuận. Tuy nhiên, khái niệm rủi ro đối tác thường được sử dụng cho các hợp đồng trên thị trường các công cụ tài chính phái sinh.

Cách phân loại rủi ro tín dụng thành rủi ro tín dụng đặc thù và rủi ro tín dụng hệ thống thường được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu học thuật cũng như trong thực tế:

- Rủi ro đặc thù (Firm-specific Credit Risk/ Unsystematic Credit Risk): Rủi ro tín dụng của một người vay cụ thể phát sinh do những kiểu đặc thù của rủi ro dự án mà người vay thực hiện

- Rủi ro hệ thống (Systematic credit risk): Rủi ro tín dụng phát sinh do bối cảnh chung của nền kinh tế hoặc những điều kiện vĩ mô tác động lên toàn bộ các người vay (vd: suy thoái kinh tế..).

Rủi ro tín dụng có tác động rất quan trọng đến hoạt động kinh doanh ngân hàng. Có thể nói rủi ro tín dụng là biểu hiện tập trung nhất của sự đánh đổi lợi nhuận – rủi ro (Return-risk trade-off). Vì vậy, quản trị rủi ro tín dụng tốt là nhân tố chủ yếu quyết định thành công của ngân hàng. Ngược lại, thất bại của các ngân hàng phần khá lớn bắt nguồn từ những vấn đề về tín dụng.

Một cách khái quát nhất, rủi ro tín dụng, xét về góc độ người vay xuất phát từ 2 nhân tố cơ bản sau:

- Khả năng trả các khoản nợ đến hạn, tức khả năng tạo ra các dòng tiền với quy mô phù hợp ở thời điểm thanh toán.

- Ý muốn trả nợ của người vay. Ý muốn này lại phụ thuộc những yếu tố chủ quan của người vay như: đạo đức, tư cách, uy tín …

Lý thuyết thông tin bất đối xứng cho rằng để kiểm soát tốt rủi ro tín dụng, ngân hàng cần phải hạn chế hai hậu quả của tình trạng thông tin bất đối xứng trong các giao dịch tín dụng đó là: lựa chọn đối nghịch (adverse selection) và rủi ro đạo đức (moral hazard).
1.2.4. Rủi ro ngoại bảng

Rủi ro ngoại bảng (hay rủi ro hoạt động ngoại bảng) là rủi ro phát sinh từ các hoạt động ngoại bảng liên quan đến các tài sản hoặc các khoản nợ bất thường (Contingnent assets/ liabilities)

Các tài sản hoặc nợ bất thường là khái niệm để chỉ các tài sản hoặc nợ không xuất hiện trừ phi một sự kiện nhất định nào đó xảy ra.

Hoạt động ngoại bảng (Off-balance-sheet Activities) là những hoạt động có một trong 2 đặc điểm sau:

- Những hoạt động tạo ra thu nhập và/hoặc chi phí mà không tạo ra một tài sản/nợ trong hiện tại cũng như tương lai (chẳng hạn, môi giới, thanh toán, ủy thác..).

- Những hoạt động không tạo ra các tài sản hoặc Nợ trong hiện tại nhưng có thể tạo ra các tài sản hoặc nợ trong tương lai.

Ví dụ: Bảo lãnh; cam kết cho vay; ...

Xu hướng mở rộng các hoạt động ngoại bảng là một xu hướng phổ biến đối với các ngân hàng trên khắp thế giới. Nguyên nhân cơ bản là do áp lực cạnh tranh dẫn tới sự sụt giảm trong các hoạt động ngân hàng truyền thống buộc các ngân hàng phải tìm kiếm các hoạt động mới phi truyền thống. Mặt khác, khả năng tạo ra thu nhập qua thu phí mà không tác động lên bảng cân đối của các hoạt động ngoại bảng cũng là một động cơ quan trọng thúc đẩy các ngân hàng gia tăng các hoạt động ngoại bảng. Điều này, đến lượt nó lại gia tăng rủi ro ngoại bảng cho ngân hàng.

Xét ở một góc độ khác, một số hoạt động ngoại bảng là nhằm mục đích hạn chế rủi ro tín dụng; rủi ro lãi suất; rủi ro tỷ giá nhưng do quản lý kém hoặc động cơ đầu cơ cũng có thể gây ra những thiệt hại lớn cho NH.


1.2.5. Rủi ro hoạt động và công nghệ

Rủi ro hoạt động là những tổn thất do hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp từ những sai lệch bên trong về quy trình, về con người và các hệ thống hoặc từ các sự kiện bên ngoài

Một số nghiên cứu xem rủi ro danh tiếng (reputational risk) và rủi ro chiến lược (strategic risk) như là một phần của rủi ro hoạt động.



Rủi ro công nghệ là rủi ro phát sinh khi việc đầu tư công nghệ không mang lại sự tiết kiệm chi phí như dự liệu.

Mục đích chủ yếu của đầu tư công nghệ là cắt giảm chi phí hoạt động, gia tăng lợi nhuận, giành thị trường mới thông qua khai thác tốt nhất lợi thế quy mô lớn (economies of scale) và lợi thế danh mục dịch vụ đa dạng (economies of scope)

Lợi thế quy mô lớn là mức độ mà tại đó chi phí đơn vị trung bình của các dịch vụ tài chính giảm khi đầu ra của dịch vụ gia tăng.

Lợi thế danh mục dịch vụ đa dạng là mức độ mà tại đó một ngân hàng có thể đạt được tính hiệp trợ chi phí (cost synergies) bằng cách cung ứng nhiều sản phẩm dịch vụ tài chính trên cùng một khoản đầu tư công nghệ.

Hàm ý của khái niệm lợi thế quy mô lớn là ngân hàng phải cắt giảm chi phí hoạt động bằng cách tăng quy mô đầu ra do đầu tư công nghệ. Tương tự, hàm ý của khái niệm lợi thế danh mục dịch vụ đa dạng là ngân hàng phải cắt giảm chi phí hoạt động bằng cách sản xuất hơn 1 đầu ra với cùng một đầu vào. Nếu việc đầu tư công nghệ không đạt được 2 lợi thế trên có nghĩa là ngân hàng đã gặp phải rủi ro công nghệ.

Lưu ý là rất dễ có sự nhầm lẫn giữa rủi ro hoạt động và rủi ro công nghệ. Chẳng han, các trục trặc trong hệ thống thanh toán dẫn đến những sai lệch, nhầm lẫn trong quá trình thanh toán là một loại rủi ro hoạt động chứ không phải rủi ro công nghệ…


1.2.6. Rủi ro ngoại hối

Rủi ro ngoại hối là rủi ro mà sự thay đổi về tỷ giá và lãi suất ngoại tệ có thể tác động bất lợi đến giá trị các tài sản và nợ bằng ngoại tệ của ngân hàng hoặc gây nên sự tổn thất về lợi nhuận

Các biểu hiện của rủi ro ngoại hối:

(i) Rủi ro tỷ giá (Foreign Currency Risk) là rủi ro phát sinh do sự biến động của tỷ giá tương ứng với một trạng thái ngoại tệ nhất định:

- Trường hợp trạng thái ngoại tệ trường (net long asset position in foreign currency) là trường hợp mà giá trị tài sản bằng ngoại tệ > Giá trị nợ bằng ngoại tệ theo một đồng tiền nào đó. Trong trường hợp này, ngân hàng sẽ gặp rủi ro tỷ giá khi ngoại tệ giảm giá so với bản tệ

- Trạng thái ngoại tệ đoản (net short asset position in foreign currency) là trường hợp ngược lại khi giá trị tài sản bằng ngoại tệ < Giá trị nợ bằng ngoại tệ. Trong trường hợp này, ngân hàng sẽ gặp rủi ro khi ngoại tệ tăng giá so với bản tệ

(ii) Rủi ro lãi suất ngoại tệ (Foreign Interest Rate Risk) là một dạng của rủi ro lãi suất khi lãi suất ngoại tệ thay đổi làm giảm lợi nhuận của ngân hàng trong điều kiện kỳ hạn của tài sản và nợ bằng ngoại tệ khác nhau. Đương nhiên, rủi ro lãi suất ngoại tệ cũng bao gồm 3 dạng:

- Rủi ro tái đầu tư

- Rủi ro tái tài trợ

- Rủi ro giá trị thị trường

Xu hướng mở rộng các hoạt động ra nước ngoài là một trong những nguyên nhân chính đặt các ngân hàng trước khả năng đối diện với rủi ro ngoại hối ngày càng tăng. Xu hướng này xuất phát từ những nhân tố sau;

- Do tỷ suất sinh lời đối với đầu tư nội địa và đầu tư ở nước ngoài có tương quan không hoàn hảo vì hoặc do trình độ công nghệ khác nhau (một quốc gia đang là quốc gia nông nghiêp; một quốc gia khác đã ở trình độ phát triển công nghiệp) hoặc do hạ tầng kinh tế khác nhau, chu kỳ kinh doanh có thể lệch pha..Hàm ý quan trọng ở đây là việc đầu tư ra nước ngoài có thể là mọt phương cách hữu hiệu để hạn chế rủi ro đặc thù thông qua giải pháp đa dạng hóa.

- Tăng khả năng mở rộng hoạt động ở nước ngoài thông qua thiết lập chi nhánh và mua lại hoặc phát triển danh mục đầu tư

Từ việc phân tích bản chất của rủi ro ngoại hối, có thể thấy những ý tưởng cơ bản để hạn chế rủi ro ngoại hối là:

- Làm phù hợp cả về quy mô và kỳ hạn của các tài sản và nợ của ngân hàng trong từng loại ngoại tệ nhất định.

- Nếu tỷ giá và lãi suất giữa đồng tiền các nước có tương quan không hoàn hảo thì một ngân hàng có thể đa dạng hoá từng phần hoặc toàn bộ rủi ro ngoại hối.

- Giải pháp hợp đồng : cố định tỷ giá và lãi suất

- Sử dụng các công cụ phái sinh.
1.2.7. Rủi ro quốc gia

Rủi ro quốc gia là rủi ro mà việc thanh toán từ người vay nước ngoài có thể bị gián đoạn vì sự can thiệp (ngăn cấm/ hạn chế chi trả) của chính phủ sở tại vì sự thiếu hụt ngoại tệ/ những lý do khác.

Có thể thấy rủi ro quốc gia là một dạng khác của rủi ro tín dụng vì hậu quả của nó cũng là việc mà người cho vay không nhận được các dòng tiền thanh toán gốc và lãi từ người vay trong trường hợp này là do sự ngăn cản chi trả của chính phủ.



Các ví dụ:

- Vào năm 1982, chính phủ Mexico & Brazil đã tuyên bố trì hoãn việc thanh toán các khoản nợ đối với các khoản vay của Phương Tây. Hậu quả là các ngân hàng lớn của Mỹ mà trước đó đã thực hiện các khoản cho vay lớn đối với các chủ thể ở các quốc gia này đã phải gánh chịu những khoản chi phí lớn trong dự phòng rủi ro tín dụng.

- Trong khoảng cuối thập niên 1990, các ngân hàng Châu Âu và Nhật đã phải gánh chịu các rủi ro quốc gia đối với các nước như Nga, Nam Hàn, Malaysia và Indonesia. Nhờ các khoản trợ giúp tài chính của IMF, WB và chính phủ các nước Mỹ, Nhật, Châu Âu cho các nước này mà các ngân hàng nói trên đã không phải gánh chịu toàn bộ các thiệt hại từ các khoản cho vay. Tuy vậy, Indonesia đã tuyên bố hoãn trả vài khoản nợ đến hạn, trong khi Nga không thanh toán được các khoản nợ trên trái phiếu chính phủ ngắn hạn. Vào năm 1999, vài ngân hàng đã thỏa thuận với chính phủ chấp nhận chí thanh toán 5% số nợ..

- Vào năm 2001, chính phủ Argentina do cuộc khủng hoảng tiền tệ đã chấp nhận vỡ nợ khoản vay 130 tỷ USD của chính phủ và vào năm 2002, thông qua đạo luật vỡ nợ 30tỷ $ các khoản nợ của khu vực doanh nghiệp đối với những người cho vay nước ngoài.

Có thể nói rủi ro quốc gia là loại rủi ro khó xử lý nhất. Các biện pháp có thể thực hiện bao gồm:

- Thực hiện các biện pháp pháp lý như khởi kiện ra Toà phá sản tại nước sở tại hoặc toà dân sự quốc tế. Tuy nhiên, các biện pháp này vừa tốn kém chi phí vừa ít hiệu quả.

- Đòn bẩy chủ yếu: Đe doạ hạn chế cung cấp các khoản cho vay hoặc huy động vốn trong tương lai từ các quốc gia có vấn đề. Tuy nhiên, đòn bẩy này rất yếu đối với những quốc gia mà đồng tiền và chính phủ đang suy sụp.
1.2.8. Rủi ro thanh khoản

Rủi ro thanh khoản là khả năng ngân hàng không thể đáp ứng các dòng tiền ra với mức chi phí hợp lý và quy mô phù hợp khi NH có nhu cầu.

Cần lưu ý: các dòng tiền ra bao gồm các dòng tiền từ phía nợ, tức từ yêu cầu rút tiền của những người gửi tiền hoặc người cho vay, và các dòng tiền ra về phía tài sản chẳng hạn đáp ứng các khoản cho vay…

Trong điều kiện hiện nay khi thị trường tiền tệ liên ngân hàng phát triển cao cũng như các thị trường vốn hoạt động tốt, khả năng thanh khoản của các chứng khoán đầu tư sẽ ngày càng dễ dàng hơn, ..việc tạo ra các dòng tiền bằng cách huy động vốn ngắn hạn hoặc bằng cách bán các tài sản để đáp ứng các nhu cầu thanh khoản không phải là một vấn đề không thể giải quyết. Vấn đề thực sự là chi phí: hoặc phải trả một chi phí lãi cao cho các khoản vốn huy động hoặc phải bán các tài sản với giá thấp tức phải gánh chịu một khoản lỗ. Vì vậy, bản chất của rủi ro thanh khoản chính là việc ngân hàng phải đáp ứng nhu cầu thanh khoản với mức chi phí cao vượt quá khả năng chịu đựng của ngân hàng, dẫn đến giảm khả năng sinh lời hoặc nguy hiểm hơn dẫn đến khả năng vỡ nợ.

Cũng xét trong bối cảnh hiện tại, ít có khả năng một ngân hàng lâm vào tình trang khủng hoảng thanh khoản dẫn đến vỡ nợ trừ trường hợp một sự hoảng loạn xảy ra trong toàn xã hội dẫn đến việc mất lòng tin vào toàn bộ hệ thống ngân hàng, làm cho việc khủng hoảng thanh khoản là có tính hệ thống. Một trường hợp khác có thể làm cho một ngân hàng lâm vào khủng hoảng thanh khoản là khi chính ngân hàng đó do quản trị yếu kém mà phải gánh chịu nhiều thiệt hại do các rủi ro khác gây ra, độ tín nhiệm thấp trên thị trường làm cho khả năng huy động vốn để đáp ứng nhu cầu thanh khoản khó khăn. Trong trường hợp này khó có thể nói là do rủi ro thanh khoản mà ngân hàng này lâm vào hoàn cảnh vỡ nợ…
1.2.9. Rủi ro vỡ nợ

Rủi ro võ nợ là rủi ro mà một NH không đủ vốn (chủ sở hữu) để bù đắp sự sụt giảm đột ngột trong giá trị tài sản so với giá trị nợ.

Về khía cạnh kỹ thuật, rủi ro vỡ nợ là tình trang vốn của ngân hàng dần đến 0 hoặc âm do những thiệt hại gây ra bởi một hay nhiều hơn các rủi ro đã đề cập. Chẳng hạn, rủi ro tín dụng lớn dẫn đến không thu hồi được các khoản cho vay làm sụt giảm giá trị tài sản hoặc rủi ro thị trường làm ngân hàng bị lỗ dẫn đến sụt giảm giá trị vốn chủ sở hữu hoặc rủi ro lãi suất làm ngân hàng bị lỗ hoặc sụt giảm giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu…

Ở Việt Nam, trường hợp điển hình về vỡ nợ được ghi nhận rõ ràng là sự vỡ nợ của các Hợp tác xã tín dụng vào thập niên 90s. Sự sụp đổ có tính dây chuyền của các Hợp tác xã tín dụng thời kỳ này do nhiều nguyên nhân khác nhau mà một trong những nguyên nhân là sự thiếu kinh nghiệm quản lý vĩ mô đối với loại hình tổ chức tín dụng này. Tuy nhiên, nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro vỡ nợ của các tổ chức này là rủi ro tín dụng.

Trường hợp của ngân hàng Continental Illinois National Bank (Mỹ ) là một minh họa cho sự kết hợp nhiều loại rủi ro dẫn đến rủi ro vỡ nợ. Ngân hàng này đã theo đuổi chiến lược tăng trưởng tài sản thông qua mở rộng lĩnh vực cho vay, đặc biệt ngành dầu lửa và gas. Danh mục cho vay tăng trưởng 19,8%/năm (từ 1977 - 1981). Tuy nhiên, suy thoái kinh tế Mỹ từ 1980 dẫn đến nhiều khoản cho vay vỡ nợ (rủi ro tín dụng). Mặt khác, tỷ trọng huy động tiền gửi của ngân hàng này rất nhỏ, dựa chủ yếu vào các khoản vay (FED, RPs, Eurodollar..) cộng với sự gia tăng các vụ vỡ nợ trong danh mục cho vay dẫn đến việc từ chối một số khoản vay của các khách hàng chủ yếu để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn (rủi ro thanh khoản). Một số vụ vỡ nợ lớn cùng với tình trạng mất khả năng huy động vốn mới dẫn đến sự sụt giảm nhanh chóng vị thế vốn (capital position) của ngân hàng (Rủi ro vỡ nợ). Cuối cùng, các cơ quan điều tiết phải nắm quyền kiểm soát đặc biệt vào năm 1984.

Những phân tích nói trên về rủi ro vỡ nợ dẫn đến 2 ý tưởng cơ bản để kiểm soát rủi ro vỡ nợ là:

- Thứ nhất, phải tiến hành các giải pháp nhằm phòng ngừa, hạn chế những rủi ro liên quan như: rủi ro lãi suất; rủi ro tín dụng; rủi ro thị trường; rủi ro thanh khoản…

- Thứ hai, phải đảm bảo một mức vốn phù hợp (Capital Adequacy) tương

ứng với mức độ rủi ro của các tài sản. Vốn là một bộ đệm chống lại rủi ro vỡ nợ của các ngân hàng. Tuy nhiên, nếu tăng vốn thì ngân hàng sẽ phải đánh đổi khả năng sinh lời vì điều này làm giảm số nhân vốn chủ sở hữu (Equity multiplier) dẫn đến giảm tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE). Vì vậy, các định chế điều tiết như ngân hàng trung ương… phải tiến hành các biện pháp quy định, kiểm soát và chế tài để buộc các ngân hàng phải tuân thủ tỷ lệ vốn tối thiểu nhằm bảo đảm an toàn hoạt động tức hạn chế rủi ro vỡ nợ.
Tương tác giữa các rủi ro

Các rủi ro đề cập ở trên không độc lập mà phụ thuộc lẫn nhau. Trong một số trường hợp rủi ro lãi suất tương quan thuận với rủi ro tín dụng. Chẳng hạn, biến động lãi suất làm cho các khoản vay của khách hàng trở nên khó có khả năng thanh toán..Rủi ro thanh khoản cũng tương quan với rủi ro lãi suất và rủi ro tín dụng vì chẳng hạn, rủi ro tín dụng có thể làm cho các dòng tiền vào trở nên thiếu hụt hoặc có thể làm cho nhu cầu rút các khoản tiền gửi trở nên lớn hơn. Rủi ro lãi suất và rủi ro tỷ giá có tương quan cao vì thường những biến động trong lãi suất sẽ dẫn tới những biến động trong tỷ giá….


Các rủi ro khác

Tùy thuộc cách tiếp cận về các rủi ro chủ yếu hoặc thứ yếu và cách xem xét nội dung các loại rủi ro mà quan niệm về các rủi ro khác có thể khác nhau.

Thông thường, đây là những kiểu rủi ro riêng biệt (Discrete type) hoặc có tính sự kiện (even type). Một số rủi ro loại này là một phần của rủi ro hoạt động.

Một số rủi ro tiêu biểu:

- Thay đổi trong các quy định về thuế

- Thay đổi trong chính sách điều tiết:Gỡ bỏ các hạn chế về cho vay, nhập ngành, mở chi nhánh, cung ứng sản phẩm..

- Những thay đổi không dự liệu trong bối cảnh của thị trường tài chính:

+ Sụp đổ thị trường 1929 và 1987;

+ Sự kiện 11/9

+ Khủng hoảng tài chính Đông Á...

+ Khủng hoảng tài chính hiện tại

…….


- Gian lận, trộm cắp, thiên tai, hành động phi pháp, bất lương, bội tín

Điều có thể thấy rõ là những rủi ro này khó mô hình hoá và dự báo, đồng thời phụ thuộc khá nhiều những nhân tố vĩ mô./.



: file -> downloadfile6 -> 161
161 -> NHÀ ĐẦu tư thông minh "Cuốn sách hay nhất về đầu tư từng được viết cho đến nay"
downloadfile6 -> Họ và tên sinh viên: Trần Thị Mỹ Hằng Mã sinh viên: 0851015561
downloadfile6 -> Thế giới an ninh- thiết lập hệ thống camera quan sát với card ghi hình Hệ thống Demo bao gồm
downloadfile6 -> 1 Giới thiệu adc 0809
downloadfile6 -> HUỲnh duy khánh các công thức tính thể TÍCH
downloadfile6 -> Dạng 1: Tính các đại lượng cơ bản (công thoát A, v0max, P, ibh, Uh, H…)
downloadfile6 -> Ách đỌc tên latinh đỗ Xuân Cẩm Giảng viên Đh huế
downloadfile6 -> I. TỔng quan về vqg tràm chim vị trí địa lý
161 -> ĐẠi họC ĐÀ NẴng trưỜng đẠi học kinh tế khoa tài chính ngân hàng  bt nhóm môn thanh toán quốc tế


  1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương