Ban chấp hành đẢng bộ huyện krông pa tỉnh gia lai lịch sử ĐẢng bỘ



tải về 1.87 Mb.
trang7/14
Chuyển đổi dữ liệu13.06.2018
Kích1.87 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   14

Trong hai năm 1965 – 1966, ở H2 và H3 chưa có quân Mỹ và chư hầu chiếm đóng, nhưng quân ngụy được Mỹ tăng cường tiếp sức, chi viện phi cơ, pháo binh, tiền của và trang thiết bị vũ khí hiện đại nên đã dần hồi phục và trở thành lực lượng giữ vai trò chủ yếu càn quét, đánh phá phong trào cách mạng. Đầu năm 1966, chúng nống ra chiếm đóng lại các cứ điểm Ơi Nu, Cẩm Ga; tăng cường bổ sung quân số và xây dựng lại các công sự phòng ngự ở các cứ điểm Phú Nhơn, Tuy Bình, Cheo Reo, nối lại đường 14, 21 và đường 7 từ Cheo Reo đi Phú Túc và Kà Lúi; liên tục mở các cuộc càn quét với quy mô lớn, dài ngày vào các vùng căn cứ, vùng mới giải phóng của ta; tiếp tục thực hiện âm mưu đốt sạch, phá sạch, quét sạch, “tát nước bắt cá”, cách ly đồng bào với lực lượng của ta; tăng cường xúc tát, dồn dân vào các ấp chiến lược, tạo ra một vùng trắng ở phía nam sông Ba (chỉ còn lại một số ít gia đình của buôn Jah, buôn Kết). Vùng ta kiểm soát lúc này chỉ còn hơn 1500 dân; còn hơn 19.000 dân bị dồn vào sống trong các thôn, ấp từ đèo Tô Na đến Kà Lúi. Qua các đợt càn quét, chúng đã tàn sát dã man nhiều đồng bào vô tội, đốt cháy hàng trăm ngôi nhà, thiêu rụi hàng chục buôn làng, cưỡng bức hàng ngàn đồng bào rời bỏ nhà cửa, nương rẫy vào sống một cuộc sống bị kìm kẹp, khốn cùng trong các thôn, ấp do chúng kiểm soát. Có những cuộc càn chúng giết hơn một nửa số người trong một buôn, như cuộc càn vào buôn Ơi Yit chúng giết đến 13 người, mà buôn này chỉ có 25 người...

Để phát hiện nơi trú ẩn và hành lang hoạt động của ta, nhất là tìm cách phá hoại kinh tế trong vùng giải phóng, vùng căn cứ, Mỹ - ngụy tăng cường dùng phi pháo và máy bay các loại, kể cả máy bay B52 ném bom, rải chất độc hóa học tàn phá nhà cửa, hủy hoại mùa màng, cây cối và gia súc, âm mưu hủy diệt sự sống ở vùng ta kiểm soát...

Cùng với các hoạt động càn quét, ném bom hủy diệt, lấn chiếm, gom dân, xây dựng củng cố và phát triển các ấp chiến lược, bắt lính tăng quân, xây dựng củng cố ngụy quân, ngụy quyền và các cứ điểm quân sự... địch đẩy mạnh phát triển chiến tranh tâm lý, chiêu hồi, chiêu hàng, ra sức khai thác và khoét sâu các thành kiến kỳ thị dân tộc, tuyên truyền lừa mị về tư tưởng tự trị giả hiệu, tư tưởng sùng bái Mỹ, sợ Mỹ. Chúng lập trung tâm chiêu hồi, trại cải huấn tại Phú Bổn, tung tiền, hàng hóa Mỹ ra để mua chuộc, dụ dỗ nhân dân, lôi kéo được một số tề và lớp trên người dân tộc thiểu số, bọn cầm đầu các đảng phái chính trị phản động. Đặc biệt, chúng tập trung tổ chức, nuôi dưỡng và đẩy mạnh hoạt động của bọn FULRO, thông qua tổ chức phản động này để nắm dân, chống phá phong trào cách mạng trước mắt và lâu dài.

Những hoạt động chống phá điên cuồng của địch về quân sự và chính trị đã gây cho ta nhiều khó khăn: Hầu hết đồng bào bị gom vào các ấp chiến lược, một số cơ sở của ta trong vùng địch bị lộ, một số đồng chí bị bắt và bị tra tấn dã man, nhiều buôn làng bị tàn phá xác xơ, đời sống của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân trong vùng căn cứ, vùng giải phóng bị thiếu thốn nghiêm trọng, nhiều nơi bị thiếu đói; đường dây giao liên từ T41, T42 đi Đăk Lăk, Gia Lai, Phú Yên bị cắt đứt, phải tạo ra đường và trạm mới, vì vậy đã gặp nhiều khó khăn tạm thời. Một bộ phận cán bộ, chiến sĩ và nhân dân có tư tưởng sợ vũ khí hiện đại, tiềm lực chiến tranh của Mỹ, sợ hy sinh, gian khổ, hoang mang dao động...

Trước những diễn biến mới hết sức phức tạp trên chiến trường miền Nam, Đảng ta đã đánh giá tình hình chiến lược mới một cách sáng suốt, tạo nên sự nhất trí cao trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 11 (3 -1965) và Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 12 khóa III (12 -1965), Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã phân tích toàn diện, sâu sắc chiến lược mới của Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, phân tích rõ chỗ mạnh, chỗ yếu, đề ra phương châm chiến lược của chiến tranh giải phóng miền Nam và những hình thức, biện pháp cụ thể để đánh thắng cả lực lượng Mỹ và ngụy.

Thực hiện Nghị quyết 12 của Trung ương Đảng, đầu năm 1966, Thường vụ Khu ủy V ra Nghị quyết động viên toàn Đảng, toàn quân và dân trong khu giữ vững ý chí quyết tâm tấn công tiêu diệt địch, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng, đặc biệt phải kiên trì phương châm hai chân ba mũi giáp công, nắm vững công tác tư tưởng - công tác then chốt, chống tư tưởng hữu khuynh, nhất là tư tưởng sợ Mỹ, sợ ác liệt, sợ lâu dài.

Triển khai Nghị quyết của Trung ương Đảng và Khu ủy V, Thường vụ Tỉnh ủy Đăk Lăk đề ra nhiệm vụ trung tâm của tỉnh lúc này là chống càn quét lấn chiếm, ra sức xây dựng và bảo vệ vùng căn cứ, vùng giải phóng, đẩy mạnh sản xuất, xây dựng lực lượng, tăng cường công tác Đảng, công tác chính trị và đẩy mạnh các hoạt động trong vùng địch.

Trên địa bàn huyện, lúc này các lực lượng của tỉnh đã rút về các vùng trọng điểm phía nam nên cũng gây ra một số khó khăn nhất định. Song nhờ có phong trào quần chúng được xây dựng và phát triển mạnh mẽ từ trước nên huyện H2 vẫn giữ được thế tấn công địch, giữ vững được phong trào ở cả phía trước và ở vùng căn cứ, phối hợp với phong trào chung của toàn tỉnh chống phá các âm mưu thủ đoạn của địch. Ban chấp hành Đảng bộ huyện lúc này gồm 12 đồng chí đã tăng cường bám địa bàn chỉ đạo các bộ phận đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị - tư tưởng, tuyên truyền sâu rộng đường lối chiến lược của Đảng, phê phán những biểu hiện lệch lạc về nhận thức và tư tưởng, động viên toàn Đảng, toàn quân và toàn dân trong huyện xây dựng ý chí quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ. Đảng bộ huyện chỉ đạo tăng cường củng cố lực lượng, xây dựng các làng, xã chiến đấu vững chắc, chủ động đánh địch, đập tan âm mưu lấn chiếm, giành dân và các hoạt động càn quét, gom dân lập ấp chiến lược, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và công tác binh vận, nổi dậy phá kìm kẹp, phá ấp chiến lược, giữ vững và mở rộng vùng giải phóng.

Được sự chỉ đạo chặt chẽ của Đảng bộ huyện, lực lượng bộ đội huyện và du kích được củng cố và tăng cường. Sáu đội công tác gồm: K11, K12, K13, K14, K15, K16 được bổ sung quân số, đẩy mạnh hoạt động, tích cực bám dân, bám địa bàn, tuyên truyền phát động quần chúng, phát triển cơ sở chính trị, du kích mật, cơ sở nội tuyến, vận động nhân dân ủng hộ lương thực, thuốc men, người và của cho cách mạng. Hệ thống làng xã chiến đấu và các thế trận phòng thủ ở 6 xã căn cứ và 7 xã vùng giải phóng được tăng cường củng cố. Đồng bào tham gia đào tuyến bố phòng dài hơn 25 km, vót và cắm hàng trăm ngàn cây chông dọc các tuyến bố phòng... Do đó, trong những năm 1966, 1967, tuy bị địch liên tục càn quét đánh phá ác liệt nhưng vùng căn cứ của ta vẫn được giữ vững, hệ thống giao thông hành lang đông - tây, nam - bắc của tỉnh được nối lại thông suốt (tỉnh đã điều động đồng chí Ama Hly- Trưởng ban hành lang của tỉnh về củng cố lại đường dây liên lạc từ T41, T42 (hai trạm giao bưu nằm trên địa bàn huyện) đi các hướng Đăk Lăk, Gia Lai, Phú Yên, đến tháng 5-1965, đồng chí Ama Hly hy sinh tại Easol trong lúc đang làm nhiệm vụ) hoạt động giao lưu buôn bán trao đổi hàng hóa vùng căn cứ với các tỉnh Bình Định, Phú Yên được mở rộng, ta đã thu mua hàng tấn các loại lâm sản đưa về Phú Yên, Bình Định đổi các loại nhu yếu phẩm phục vụ cho đời sống nhân dân trong vùng kháng chiến. Phong trào sản xuất cứu đói, trồng sắn thắng Mỹ, “Ăn sắn thắng Mỹ” được phát động rộng khắp trong các xã căn cứ và các cơ quan, đơn vị của huyện. Nhờ đó, chỉ trong một thời gian ngắn ta đã cơ bản khắc phục được nạn đói.

Cùng với các hoạt động quân sự chống địch càn quét lấn chiếm; đẩy mạnh xây dựng và bảo vệ vững chắc căn cứ, phong trào đấu tranh chính trị, binh tề vận của nhân dân trên địa bàn phát triển mạnh ở vùng giải phóng và cả trong vùng địch chiếm. Các phong trào đấu tranh chính trị, tấn công binh tề vận đã xoáy vào các khẩu hiệu chống địch càn quét; chống dồn xúc dân, lập ấp chiến lược, khủng bố, kìm kẹp quần chúng, đòi tự do đi lại làm ăn; chống bắt lính, chống bắn pháo, chống rải chất độc; chống bắn giết gia súc, phá hoại hoa màu, tàn sát người vô tội; đòi trả chồng con về với gia đình, đòi bồi thường thiệt hại... diễn ra liên tục và rộng khắp trên địa bàn. Tiêu biểu là cuộc đấu tranh do Amí Nhung, Ksor Hdit (Amí Thiều), Amí Jú, Ksor H’Klo (Amí Đoan) ở đội công tác K12 đã lãnh đạo hàng trăm chị em phụ nữ đấu tranh với tề ngụy, đưa lời kêu gọi của Mặt trận Dân tộc giải phóng huyện cho Ama Phi, quận trưởng Phú Túc... Các cuộc đấu tranh chính trị thời kỳ này đã thu hút đông đảo quần chúng tham gia, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, trung bình mỗi cuộc có từ 50 - 70 người tham gia, có cuộc lên đến hàng trăm người, gồm cả những người tầng lớp trên, lính địch cũ, gia đình binh sĩ địch. Có cuộc quần chúng vừa giằng co với địch tại chỗ, vừa cử đại biểu vào nơi sĩ quan địch đồn trú, hoặc lên quận đấu tranh vạch trần hành động tàn phá, cướp bóc của địch, đòi chấm dứt càn quét, bắn phá. Khi địch càn phá hoa màu, đưa xe đến xúc dân, chở tài sản vào khu dồn… quần chúng đã giành giật, cản trở quyết liệt. Ở những buôn làng dân bị địch xúc đi phần lớn, nhiều quần chúng tích cực tìm cách lánh tránh cùng với số dân còn lại bám núi, bám rẫy hoặc chạy sâu vào núi lập làng chiến đấu chống địch.

Các vùng phía trước, tuy bị địch kìm kẹp gắt gao, song nhiều nơi quần chúng đã dựa vào tập tục của dân tộc để đấu tranh chống địch, hoặc viện lý do thiếu đói, bệnh tật không chịu làm ấp chiến lược, không vào phòng vệ dân sự, không chịu giữ súng, không nhận làm tề, đòi địch bán gạo, muối, cung cấp thuốc chữa bệnh, đấu tranh giành giật với địch giải thoát được hàng chục thanh niên bị lính bắt… Quần chúng đã tích cực hậu thuẫn hoặc phối hợp với lực lượng ta đốt ấp, tham gia diệt ác ôn, phá tề, phá ấp. Do đó, ta đã móc nối lại nhiều cơ sở bị đứt liên lạc, xây dựng và mở rộng cơ sở của ta sâu vào vùng địch kiểm soát.

Thông qua các cuộc đấu tranh, tinh thần yêu nước, ủng hộ cách mạng, ủng hộ kháng chiến, tinh thần đoàn kết cộng đồng... của đồng bào các dân tộc trên địa bàn được nâng cao. Ở các vùng địch kiểm soát, mặc dù phải sống trong sự kìm kẹp, o ép, cái chết luôn rình rập nhưng hầu hết đồng bào vẫn kiên trung, một lòng một dạ hướng về Đảng, ủng hộ các phong trào cách mạng, quyên góp muối, lương thực... ủng hộ kháng chiến; nuôi giấu, che chở, giúp đỡ cơ sở của ta và các đội công tác hoạt động thuận lợi. Ở các vùng căn cứ, vùng giải phóng mặc dù liên tục bị địch càn quét, đánh phá, chà đi xát lại bằng phi pháo và bom đạn, nhiều đồng bào bị sát hại, nhiều thôn làng bị đốt phá, mùa màng bị phá hoại, cuộc sống gặp nhiều khó khăn thiếu thốn, tình trạng đói cơm, lạt muối kéo dài, nhiều làng phải vào rừng hái lá rừng, đào củ mài... ăn thay cơm, đốt tranh ăn thay muối... nhưng đồng bào vẫn kiên cường bám trụ, “Một tấc không đi, một ly không rời”, vừa chiến đấu vừa sản xuất, ủng hộ sức người, sức của cho kháng chiến.

Trong công tác binh tề vận, Đảng bộ huyện chỉ đạo liên tục phát động quần chúng, nhất là đối với các gia đình, người thân binh lính ngụy, vận động chồng, con, anh em đang đi lính cho địch bỏ ngũ trở về với buôn làng, với cách mạng. Đẩy mạnh tuyên truyền bằng loa, truyền đơn, thư tay... vào hàng ngũ địch, nhằm khoét sâu mâu thuẫn nội bộ, kêu gọi tinh thần dân tộc, tranh thủ sự ủng hộ của một bộ phận đối tượng này. Kết quả, đã có hàng trăm binh lính ngụy, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số bỏ ngũ trở về với buôn làng, một số xin tham gia cách mạng; nội bộ địch có sự phân hóa; hoạt động của bọn tay sai ác ôn có phần bị kiềm chế... Thắng lợi của công tác binh vận đã tạo điều kiện thuận lợi cho phong trào đấu tranh chính trị, đấu tranh quân sự trên địa bàn phát triển. Kết quả trong hai năm 1966, 1967, kết hợp tấn công quân sự với phát động quần chúng nổi dậy và công tác binh tề vận, quân và dân huyện H2 đã phá vỡ trên 3/5 hệ thống ấp chiến lược dọc trục đường 7, giải phóng trên 10 ngàn dân, diệt và bức rút 2 cứ điểm, làm tan rã 300 dân vệ và lính nghĩa quân, thu hàng trăm súng, mở rộng vùng giải phóng.

Công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ này tiếp tục được đẩy mạnh. Qua nhiều đợt chỉnh huấn, đấu tranh tự phê bình và phê bình, học tập quán triệt các nghị quyết, chủ trương của Khu ủy, Tỉnh ủy và của Huyện ủy, tình hình chính trị tư tưởng của cán bộ, đảng viên được củng cố, khắc phục được những tư tưởng hữu khuynh, sợ địch, ngại hy sinh, gian khổ, không dám bám trụ chiến trường.... Nhiều đảng viên đã phát huy vai trò xung kích, gương mẫu trên nhiều lĩnh vực, có uy tín và ảnh hưởng tốt trong việc thu hút, tập hợp quần chúng vào các phong trào cách mạng, nhất là các đồng chí đảng viên hoạt động trong vùng địch đã ngày càng tỏ rõ bản lĩnh và khả năng hoạt động của mình. Phong trào xây dựng chi bộ 4 tốt, đảng viên 4 tốt do Tỉnh ủy phát động được Huyện ủy quán triệt và chỉ đạo triển khai thực hiện chặt chẽ ở các chi bộ. 8 chi bộ của Đảng bộ (6 chi bộ trong vùng địch, 2 chi bộ vùng giải phóng) được củng cố về tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động, thực sự trở thành hạt nhân của phong trào đấu tranh cách mạng trên địa bàn. Thông qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, các cấp ủy đã kịp thời phát hiện, bồi dưỡng và kết nạp vào hàng ngũ của Đảng những quần chúng ưu tú, nhất là con em đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ, mở rộng ảnh hưởng của cách mạng tại các cơ sở.

Công tác xây dựng và củng cố các đoàn thể quần chúng nhất là trong vùng căn cứ, vùng giải phóng được quan tâm đẩy mạnh. Các Hội phụ nữ giải phóng, Hội nông dân giải phóng.... hoạt động ngày càng có hiệu quả. Mặt trận đoàn kết toàn dân chống Mỹ, cứu nước được hình thành đã tập hợp và động viên rộng rãi các tầng lớp nhân dân tham gia các cuộc đấu tranh chống địch, tham gia đóng góp sức người, sức của phục vụ cách mạng...

Với quyết tâm “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”, “Đuổi Mỹ lật ngụy, giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân”... trong những năm 1965 -1967, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, cán bộ, quân và dân huyện H2 đã kiên cường bám trụ, tự lực tự cường, đấu tranh chống địch bằng nhiều mũi giáp công, góp phần cùng cả tỉnh và toàn miền Nam đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô của địch, làm phá sản một bước chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ, tạo ra thế và lực mới cho phong trào cách mạng trên địa bàn huyện.

II- THAM GIA TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN MẬU THÂN NĂM 1968

Sau hai cuộc phản công chiến lược mùa khô của địch thất bại, Trung ương Đảng và Bộ Chính trị đã nhận định: trên chiến trường nổi lên tình hình địch đã thất bại về nhiều mặt, cả trên phạm vi chiến lược, chiến dịch và chiến thuật, cả về quân sự và ngoại giao. Đó là thất bại của giai đoạn đầu rất quan trọng của chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ.

Trên thế giới, dư luận rộng rãi ngày càng phản đối Mỹ xâm lược Việt Nam, phong trào chống chiến tranh xâm lược Việt Nam ngày càng phát triển trong nhân dân Mỹ. Giới cầm quyền Mỹ bắt đầu dao động, lúng túng. Tuy vậy, chúng vẫn ngoan cố, tiếp tục tăng quân, tăng viện trợ cho ngụy quyền Sài Gòn và chuẩn bị mở cuộc phản công lần thứ ba với 120 vạn quân, trong đó có 50 vạn quân Mỹ. Đế quốc Mỹ tuy đã thua to nhưng vẫn chưa có dấu hiệu từ bỏ âm mưu tiếp tục chiến tranh xâm lược Việt Nam. Về ta, tuy đã thắng lớn nhưng vẫn chưa làm chuyển biến được cục diện chiến tranh có lợi cho ta.

Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 14 (1-1968), Trung ương Đảng tiếp tục khẳng định: Cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta lúc này cần phải có và có thể tạo ra một bước chuyển biến lớn giữa lúc địch đã bắt đầu dao động và trong thời điểm rất nhạy cảm của năm bầu cử Tổng thống Mỹ để chuyển cách mạng và chiến tranh cách mạng miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ giành thắng lợi quyết định; phải tạo được một bước ngoặt lớn của cuộc chiến tranh. Muốn vậy, không thể tiến từng bước, không thể cứ đánh theo cách cũ như các trận đánh đông - xuân trước đây, mà phải tạo ra một bước nhảy vọt bằng một cách đánh mới, giáng một đòn bất ngờ thật mạnh vào ý chí xâm lược của Mỹ. Đây sẽ là cách đánh chưa từng có trong cuộc kháng chiến chống Mỹ và cũng hiếm có trong lịch sử chiến tranh cách mạng, khiến cho Mỹ - ngụy không thể nghĩ tới.

Yêu cầu hàng đầu của cuộc tiến công này vẫn là tiêu diệt địch nhưng có những điểm khác trước:

- Hướng tiến công chủ yếu không phải là rừng núi và nông thôn, mà là đô thị, trọng điểm là Sài Gòn, Đà Nẵng, Huế nơi địch sơ hở nhất và cũng là nhạy cảm nhất.

- Mục đích tiến công chủ yếu là các cơ quan đầu não chiến tranh của Mỹ, ngụy, các trung tâm chỉ huy, các hậu cứ, vừa tiêu diệt sinh lực địch vừa phá hủy phương tiện chiến tranh. Đây là chỗ hiểm yếu nhất, dễ chấn động nhất.

- Không gian tiến công là khắp toàn miền và phải tiến công đồng loạt.

- Thời gian tiến công không phải vào thời điểm thông thường mà vào giữa đêm giao thừa Tết Nguyên đán, lúc bất ngờ nhất và kẻ địch sơ hở nhất.

- Phương châm là kết hợp tổng công kích và tổng khởi nghĩa (sau này gọi là tổng tiến công và nổi dậy).

Tất cả đều nhằm mục đích: Đánh một đòn thật mạnh và hiểm, bất ngờ và đồng loạt, làm cho Mỹ phải lung lay ý chí xâm lược, tạo nên một sự thay đổi cục diện của cuộc chiến tranh có lợi cho ta.

Thực hiện quyết tâm chiến lược của Trung ương Đảng, Khu ủy V quyết định tập trung ba thứ quân mở đợt tấn công liên tục mạnh mẽ trong cả xuân và hè năm 1968 đánh sập ngụy quân, ngụy quyền, tiêu diệt nặng sinh lực và phương tiện chiến tranh của Mỹ, kết hợp với khởi nghĩa của quần chúng giành chính quyền về tay nhân dân.

Tháng 11-1967, Mặt trận Tây Nguyên họp liên tịch với ba tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đăk Lăk bàn kế hoạch phối hợp, tấn công và nổi dậy, lập ban chỉ huy các hướng có các đồng chí Bí thư ba tỉnh tham gia. Trọng điểm của đợt tấn công ở Tây Nguyên là thị xã Buôn Ma Thuột và Kon Tum.

Với tinh thần đó, cuối năm 1967, Tỉnh ủy Đăk Lăk họp bàn kế hoạch và giao nhiệm vụ cụ thể cho các địa phương, đơn vị khẩn trương chuẩn bị mọi mặt để tiến hành tổng tiến công và nổi dậy.

Triển khai kế hoạch của Tỉnh ủy, Huyện ủy H2 đã tổ chức quán triệt chủ trương tổng công kích và nổi dậy, xây dựng kế hoạch, chuẩn bị lực lượng, phân công nhiệm vụ, bố trí cán bộ, đảng viên phụ trách... Huyện ủy chủ trương tổ chức lực lượng tấn công vào thị trấn, đồn bót của địch để phối hợp với quần chúng nhân dân nổi dậy giành chính quyền, phối hợp với các địa phương bạn tấn công giành quyền làm chủ các buôn dọc đường 14, đảm bảo thông suốt hành lang vận chuyển trên địa bàn.

Với khí thế sôi nổi chuẩn bị cho Tết Mậu Thân, việc huy động nhân lực, vật lực trên địa bàn được triển khai nhanh chóng và thuận lợi. Quần chúng trong các ấp chiến lược đã quyên góp ủng hộ trên 500 bao gạo và nhiều nhu yếu phẩm khác. Nhân dân ở vùng căn cứ và vùng giải phóng tích cực tăng gia sản xuất, giã gạo ủng hộ nuôi quân, tham gia vận chuyển vũ khí và lương thực phục vụ chiến dịch. Một bộ phận quần chúng được tổ chức thành đội ngũ chặt chẽ chuẩn bị kéo vào thị trấn, các đồn bót gây áp lực với địch, đồng thời phối hợp với các lực lượng vũ trang, các đội công tác phá ấp giành chính quyền.

Đêm 30- 1-1968 (mồng một Tết Mậu Thân), tất cả các lực lượng, các mũi tấn công của ta đã tiếp cận vào vị trí tập kết. Đúng 0 giờ (giờ G), toàn miền Nam đồng loạt nổ súng. Lực lượng vũ trang huyện đã phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực B3, bộ đội và các đội công tác vũ trang của các huyện H3, H7 đánh địch dọc đường 7, cô lập địch ở Phú Túc, Cheo Reo, Phú Thiện, đột nhập đánh úp các ấp chiến lược dọc đường 7, gọi phòng vệ dân sự ra hàng, thu vũ khí, quân trang, quân dụng, làm tê liệt hoạt động của địch dọc theo đường 7. Các đội công tác của huyện đã kịp thời bám sát địa bàn, tổ chức tuyên truyền phát động quần chúng diệt ác phá kìm, tổ chức cho quần chúng xâm nhập vào quận lỵ Phú Túc tiếp xúc, vận động binh lính bỏ hàng ngũ địch trở về buôn làng, không đi lính cho ngụy, ủng hộ và giúp đỡ nhân dân, giúp đỡ cách mạng.... gây ảnh hưởng sâu sắc trong hàng ngũ địch. Thông qua gia đình, người thân của binh lính địch, hoặc tranh thủ được tề, tầng lớp trên, ta đã tiếp xúc được với số đông phòng vệ dân sự, với dân vệ, nghĩa quân các cấp, tạo đầu mối nắm được số đông phòng vệ dân sự, nghĩa quân từ tổ, tiểu đội đến trung đội; chọn lọc, xây dựng thành cơ sở hợp pháp, cơ sở nội tuyến và đưa lên hành động các mức như vận động không chấp hành lệnh canh gác, không chịu giữ súng của phòng vệ dân sự, chống lệnh đi lùng sục, nằm im không chống lại khi ta đột nhập ấp; đào rã ngũ về nhà làm ăn hoặc sử dụng họ phục vụ các yêu cầu của ta như tổ chức chuyển lương thực trong ấp ra cho ta, bảo vệ cho lực lượng ta vào ấp công tác…

Trong đợt tổng tiến công Tết Mậu Thân năm 1968, Đảng bộ huyện H2 đã lãnh đạo nhân dân phối hợp kịp thời với chiến trường chung cả tỉnh mà trọng điểm là thị xã Buôn Ma Thuột và cả miền Nam, đánh địch bằng cả chính trị, quân sự, binh tề vận, hỗ trợ cho quần chúng nổi dậy, gây cho địch nhiều thiệt hại, như sự kiện chị Amí Nhung, chị HDit (tức Amí Thiêu) đã tổ chức khoảng 30 chị em phụ nữ xã 2, tức Buôn Prong xã Mlah ngày nay, kéo nhau vào quận Phú Túc, tiếp xúc vận động chồng con bỏ hàng ngũ địch trở về với buôn làng, bỏ đi ra rẫy làm ăn... Đồng thời, gửi thư của Mặt trận huyện H2 gửi cho thiếu tá quận trưởng Ma Phi (Ksor Đai) với nội dung kêu gọi chống bắt lính, chống đàn áp đồng bào mình, trả dân trở về làng cũ... gây ảnh hưởng trong hàng ngũ địch.

Đợt tổng công kích Xuân 1968 trên địa bàn huyện tuy chưa thắng lớn nhưng Đảng bộ, quân và dân huyện H2 đã huy động được lực lượng để phối hợp, tiến công và nổi dậy với khí thế áp đảo, phá rã bộ máy tề ấp và ách kìm kẹp của địch, giải phóng nhiều buôn cũ đã bị địch líp lại, phá vỡ thế kìm kẹp của Mỹ - ngụy, giành quyền làm chủ các buôn dọc đường 7, uy hiếp quận lỵ Phú Túc, làm cho bọn bảo an, biệt kích trong các đồn Mlah, Kà Lúi co lại, hạn chế sự hỗ trợ cho bọn dân vệ, nghĩa quân kìm kẹp dân, địch phải bỏ bót gác Ơi Nu, rút về phòng thủ, bảo vệ Phú Túc, tạo điều kiện cho ta mở rộng vùng giải phóng từ buôn Nai đến buôn Tang, buôn Tối. Lúc này, ngoài 6 xã vùng căn cứ, vùng giải phóng rộng lớn của huyện đã cung cấp đáng kể về nguồn nhân lực, lúa, muối... phục vụ đắc lực cho sự nghiệp cách mạng toàn huyện, nhất là đường dây hành lang chiến lược của ta được duy trì thông suốt và an toàn, đảm bảo đưa đón thương binh, các đoàn cán bộ đi công tác và vận chuyển công văn, giấy tờ đi các nơi kịp thời.

Bằng cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, Đảng bộ và nhân dân huyện H2 đã góp phần cùng nhân dân tỉnh Đăk Lăk, Tây Nguyên và toàn miền Nam giáng một đòn quyết định, làm phá sản chiến lược “chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ; làm lung lay ý chí xâm lược của chúng, buộc chúng phải xuống thang chiến tranh, ngồi vào bàn đàm phán với ta về chấm dứt chiến tranh, mở đầu quá trình xuống dốc về chiến lược trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Sau Tết Mậu Thân, địch tăng cường phòng thủ thị xã, thị trấn và trục giao thông chiến lược 14, đường 7, củng cố lại các cứ điểm, xây dựng lại hệ thống lô cốt, hầm ngầm để chống hỏa lực của ta, đồng thời thường xuyên thiết quân luật, tăng cường xe bọc thép án ngữ các ngả đường; tăng cường củng cố lại bộ máy kìm kẹp, tăng mật vụ, chỉ điểm xuống các ấp, khu dồn hoạt động để phá vỡ các cơ sở cách mạng, khủng bố tinh thần quần chúng nhân dân. Chúng ra sức bắt lính, tăng quân và trang thiết bị, vũ khí chiến đấu cho các đơn vị, tổ chức nhiều cuộc hành quân hỗn hợp đánh phá các vùng căn cứ, vùng giải phóng, vùng giáp ranh, tăng cường dùng máy bay, xe tăng và pháo binh ném bom, rải chất độc hóa học hủy diệt và pháo kích với mức độ dày đặc, cày xới, chà đi xát lại hàng trăm nương rẫy, thôn làng, kết hợp với biệt kích nhỏ và chiến tranh tâm lý để lùa xúc dân các vùng giải phóng, tiến hành bình định nông thôn, lập lại các tế ấp và củng cố chính quyền cấp xã dọc đường giao thông... Việc tăng cường lực lượng và hoạt động của Mỹ - Ngụy sau Tết Mậu Thân đã gây cho ta nhiều khó khăn mới. Trên địa bàn H2, nhiều thôn làng, nhà cửa, mùa màng bị tàn phá, hàng chục cán bộ, đảng viên và quần chúng bị sát hại.

Trước tình hình chiến tranh ác liệt và nhận thấy tổng tiến công và nổi dậy của ta chưa giải quyết được các mục tiêu đề ra, lực lượng ta bị hao tổn nhiều, lương thực, đạn dược thiếu, ... một bộ phận cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân dao động, mất niềm tin, đánh giá không đúng ý nghĩa của đợt tổng công kích. Trước tình hình đó, Đảng bộ huyện đã tập trung đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, trọng tâm là tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức về ý nghĩa thắng lợi của cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, khắc phục những nhận thức lệch lạc, mơ hồ, tuyên truyền nâng cao nhận thức về tình hình và nhiệm vụ của người đảng viên, động viên tinh thần quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược. Bằng nhiều hình thức tuyên truyền giáo dục phong phú, sinh động và liên tục, chỉ trong một thời gian ngắn ta đã cơ bản khắc phục được tư tưởng dao động, hoài nghi và nhận thức không đúng về ý nghĩa tầm quan trọng của đợt tổng công kích, đưa phong trào cách mạng của huyện chuyển sang một bước phát triển mới, các phong trào đấu tranh vũ trang, đấu tranh chính trị và binh tề vận tiếp tục được duy trì, lực lượng vũ trang và các đội công tác của huyện được củng cố và tăng cường.

Tháng 6-1968, thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Đăk Lăk, Huyện ủy chỉ đạo các xã vùng căn cứ, vùng giải phóng tổ chức bầu cử Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cách mạng xã, huyện. Cuộc bầu cử được nhân dân phấn khởi đón nhận và tham gia nên đã thành công tốt đẹp. Nhiều đại biểu ưu tú, có uy tín, có năng lực, có ảnh hưởng tốt đối với các phong trào cách mạng được lựa chọn bầu ra đã góp phần quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cách mạng trong vùng giải phóng.

Được sự đồng ý của Thường vụ Tỉnh ủy, tháng 9 - 1968, Đảng bộ huyện H2 tổ chức Đại hội lần thứ III tại vùng suối Ia Soai, xã Ia Rsai. Đại hội đã tập trung đánh giá kiểm điểm tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ II, kiểm điểm rút kinh nghiệm đợt tấn công nổi dậy Xuân Mậu Thân, đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho nhiệm kỳ III và bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ huyện (khóa III) gồm 17 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Thông (Ama Ta) được bầu làm Bí thư, đồng chí Nay Ang (Ama Hiu) làm Phó bí thư.

Nghị quyết Đại hội III xác định rõ các nhiệm vụ trọng tâm thời gian tới là:

- Thừa thắng xông lên, phát huy thắng lợi của hai đợt tổng tấn công, đẩy mạnh xây dựng thực lực hai vùng, tiến công địch bằng ba mũi giáp công.

- Đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, giãn dân hai bên bờ sông về buôn cũ làm rẫy, chia hộ ra giữ rẫy và giữ ấp, giữ vùng giải phóng ở khu 11.

Chủ trương của huyện giai đoạn này là tiếp tục duy trì và mở rộng vùng giải phóng, vùng căn cứ kháng chiến, mở rộng vùng làm chủ và xây dựng lực lượng chính trị lớn mạnh, phá kìm, thực hiện hai chân ba mũi, ba vùng chiến lược, củng cố xây dựng các tổ chức chi bộ ở các xã, xây dựng vùng căn cứ của huyện lớn mạnh...

Sau Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ III, phong trào cách mạng trên địa bàn huyện đã chuyển sang một thời kỳ mới đầy cam go, thử thách, nhưng quân dân H2 dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng bộ huyện vẫn kiên cường bám trụ mưu trí, dũng cảm, liên tục đánh địch, giữ vững thế chủ động tiến công địch trên chiến trường.

III- CHỐNG BÌNH ĐỊNH LẤN CHIẾM, GIÀNH VÀ GIỮ DÂN, GÓP PHẦN ĐÁNH BẠI CHIẾN LƯỢC “VIỆT NAM HÓA CHIẾN TRANH” CỦA MỸ - NGỤY (1969 - 1973)

Bị thất bại trong “Chiến tranh cục bộ”, nhất là sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, một lần nữa đế quốc Mỹ buộc phải thay đổi chiến lược. Ngày 20-1-1969, Níchxơn lên cầm quyền và đưa ra kế hoạch chiến tranh mới “Việt Nam hóa chiến tranh”. Đây là sự điều chỉnh chủ trương “Phi Mỹ hóa chiến tranh” của Giônxơn. Nội dung chủ yếu của chiến lược chiến tranh mới là: Nỗ lực xây dựng quân ngụy và bộ máy chính quyền tay sai, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt, dùng người Đông Dương giết người Đông Dương bằng tiền của và vũ khí Mỹ (còn được gọi là “thay màu da trên xác chết”), thực hiện chính sách bình định nông thôn, đánh vào hậu phương tiếp tế của Việt Nam. Kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh” dự kiến qua ba giai đoạn:

Giai đoạn 1: (1969 đến 6-1970), kiểm soát được những vùng đông dân quan trọng nhất, tăng cường quân ngụy, rút một bộ phận quân Mỹ về nước.

Giai đoạn 2: (6-1970 đến 6-1971), kiểm soát hầu hết những vùng đông dân, quân ngụy đảm nhận được nhiệm vụ chiến đấu trên bộ, rút đại bộ phận quân Mỹ về nước.

Giai đoạn 3: (6-1971 đến 6-1972), cơ bản hoàn thành “Việt Nam hóa chiến tranh”.

Đây là một chiến lược chiến tranh hết sức xảo quyệt. Thực hiện chiến lược này, Mỹ một mặt tăng cường viện trợ tiền của và vũ khí cho quân ngụy, xây dựng quân ngụy mạnh lên về mọi mặt, mặt khác tiến hành các cuộc hành quân càn quét và thực hiện chương trình bình định. Mỹ - ngụy coi chương trình bình định là biện pháp, mục đích và chìa khóa của “Việt Nam hóa chiến tranh”. Đồng thời tìm cách mở rộng chiến tranh trên bán đảo Đông Dương.

Đế quốc Mỹ đã dùng mọi thủ đoạn độc ác về quân sự, xảo quyệt về chính trị và nham hiểm về ngoại giao, thực hiện kết hợp giữa chiến tranh hủy diệt với chiến tranh giành dân và chiến tranh bóp nghẹt để làm suy yếu cuộc kháng chiến của nhân dân ta ở cả hai miền Nam - Bắc.

Địa bàn Tây Nguyên được Mỹ - ngụy chọn làm nơi thí điểm của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, trong đó địa bàn hai tỉnh Gia Lai và Đăk Lăk là chiến trường trọng điểm và ác liệt nhất. Từ năm 1969 - 1971, địch ráo riết thực hiện nhiều biện pháp để tăng cường sức mạnh cho quân ngụy, từng bước đưa quân ngụy làm nhiệm vụ chiến đấu thay quân Mỹ, rút dần quân Mỹ về nước. Năm 1969, quân Mỹ ở tỉnh Đăk Lăk chỉ còn 1 tiểu đoàn dù, 1 đại đội công binh và 1 chi đoàn pháo. Để bổ sung quân cho các lực lượng chính quy, địch tăng cường bắt lính, phát triển các lực lượng bảo an, dân vệ, phòng vệ dân sự, cảnh sát, đoàn bình định, đoàn sơn thôn và biệt kích... Quân bảo an lúc này có 63C, 16B, tăng 25C so với trước, 25 đại đội biệt kích, 23 đoàn bình định, 28 đoàn sơn thôn. Tại mỗi ấp đều có một đội phòng vệ dân sự khoảng 30 tên, lực lượng nghĩa quân được tăng cường hơn trước. Chỉ hai tháng đầu năm 1972, ở huyện H2 địch đã bắt được 4.000 lính, trong đó có 1.500 lính người dân tộc thiểu số bổ sung cho các trung tâm huấn luyện biệt kích ở các nơi.

Cùng với việc củng cố và phát triển ngụy quân, ngụy quyền, địch huy động mọi lực lượng thực hiện quyết liệt kế hoạch bình định nông thôn. Rút kinh nghiệm qua các lần thất bại trước, lần này địch thay đổi thủ đoạn, đánh phá từng bước từ “bình định cấp tốc” đến “bình định đặc biệt” rồi “bình định nước rút” và áp dụng ở từng nơi khác nhau. Ở những vùng định kiểm soát chặt như: ven thị xã, xung quanh các căn cứ quân sự, các quận lỵ, cứ điểm, đồn bót và dọc trục đường 14, 21, địch thực hiện bình định tại chỗ bằng cách truy quét, tìm diệt cơ sở cách mạng, củng cố bộ máy ngụy quyền, phát triển các đoàn thể, đảng phái phản động, xây dựng lực lượng nghĩa quân, phòng vệ dân sự, đóng các chốt bảo an kết hợp với các đoàn bình định để kìm kẹp nhân dân, phát triển gián điệp ngầm, mật báo viên, chỉ điểm để theo dõi các hoạt động của cách mạng.

Ở những nơi phong trào cách mạng mạnh, vùng ta giải phóng, kể cả những buôn làng không xa quận lỵ, thấy không thực hiện bình định tại chỗ được, nên địch tiến hành dồn dân, đưa xe tới lùa xúc dân, hoặc dùng mọi thủ đoạn về kinh tế, chính trị, chiến tranh tâm lý để hù dọa, ép buộc dân vào vùng địch, lập các khu dồn lớn. Kẻ địch cố tạo ra những vùng trắng dân, ngăn cách giữa căn cứ của ta và vùng địch kiểm soát, gây khó khăn cho việc đi lại hoạt động của lực lượng ta. Đối với các vùng căn cứ, địch tăng cường đánh phá rất ác liệt, tổ chức các cuộc hành quân càn quét với quy mô lớn, liên tục dùng phi pháo, máy bay B52, B57 bắn phá, ném bom napan, rải chất độc hóa học phát quang rừng núi, phá hoại mùa màng, nương rẫy... nhằm triệt hạ đời sống của quân và dân ta.

Trong hai năm 1969 -1970, trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk, địch mở 181 cuộc càn quét tập trung đánh phá các vùng căn cứ vùng nông thôn và ven thị xã, mở nhiều cuộc hành quân cảnh sát, các chiến dịch Phượng Hoàng ở vùng địch kiểm soát để thanh lọc quần chúng, phát hiện truy bắt cơ sở cách mạng. Riêng trong năm 1970, địch đã xúc tát trên 5.500 dân vùng giải phóng, lấy lại 10 khu ấp với trên 9.000 dân, lập lại bộ máy tề ấp ở nhiều thôn buôn, gây cho ta nhiều khó khăn.

Trên địa bàn H2, địch ra sức củng cố ngụy quyền, các tổ chức, đảng phái, đoàn thể phản động, tăng cường bắt lính, phát triển lực lượng nghĩa quân, phòng vệ dân sự, bảo an, biệt kích, các đoàn bình định, sơn thôn; củng cố chi khu cảnh sát, phát triển mạng lưới mật báo, chỉ điểm, gián điệp ngầm. Lực lượng của địch ở Phú Túc có tới 1 tiểu đoàn tăng cường và 2 đại đội cơ động, trang bị đầy đủ các phương tiện vũ khí hiện đại, có cả súng cối 81mm, cối 106mm và pháo 105 ly...

Sau khi lực lượng được củng cố và tăng cường, địch tập trung lực lượng đánh phá dọc đường 7 và đông bắc sông Ba,... nhằm cố đẩy lực lượng ta ra xa các khu dân cư và trục đường giao thông, xây dựng và mở rộng ấp chiến lược, ấp tân sinh, khu dồn mà trước đây đã bị ta phá, tạo điều kiện cho các lực lượng bảo an, các đoàn bình định, sơn thôn, lực lượng dân vệ, phòng vệ dân sự và cảnh sát thực hiện kế hoạch “bình định cấp tốc”, khống chế và kìm kẹp dân, phát hiện và tiêu diệt cơ sở của ta. Thủ đoạn đánh phá, bình định của địch là: Tập trung lực lượng đánh phá trọng điểm nhiều xã, đánh phá dai dẳng, dài ngày, dùng quân cơ động càn quét đẩy lực lượng ta ra xa, dùng các lực lượng bảo an, đoàn bình định, bọn tề điệp... truy bắt cán bộ, đảng viên, thanh lọc quần chúng, thủ tiêu tổ chức của ta ở thôn xã, thực hiện kìm kẹp quần chúng tại chỗ. Nơi nào gặp sức chống trả quyết liệt của quần chúng, không kìm kẹp được quần chúng tại chỗ thì chúng triệt phá tài sản, hoa màu, làng mạc, xúc dân vào các khu dồn, ấp chiến lược. Chúng không trừ bất cứ một thủ đoạn thâm độc và dã man nào để triệt hạ sự sống ở các xã căn cứ và vùng giải phóng của ta như tăng cường các cuộc càn quét kết hợp với phi pháo, ném bom rải chất độc hóa học làm cho nhân dân không sống được phải bỏ căn cứ, vùng giải phóng chạy vào các khu dồn, ấp Tân Sinh, ấp chiến lược của chúng. Đóng nhiều chốt trong từng khu vực, có nơi đóng chốt ngay trong làng hoặc gần làng, dựa vào các chốt để kiểm soát chặt dân, cô lập nhân dân trong làng với cán bộ, du kích bám ngoài làng. Đẩy mạnh kết hợp chiến tranh tâm lý với khủng bố bắn giết, đánh đập, giam cầm để đàn áp các cuộc đấu tranh của quần chúng.

Kẻ địch tìm mọi cách khai thác và lợi dụng những sơ hở, thiếu sót của cán bộ ta trong thực hiện các hoạt động diệt ác, động viên phục vụ kháng chiến... để xuyên tạc, bóp méo và bôi nhọ cán bộ, đảng viên; tìm mọi cách vô hiệu hóa các tổ chức của ta, chia rẽ, ly gián cán bộ, đảng viên với quần chúng; khoét sâu mẫu thuẫn trong nội bộ ta, dùng mọi thủ đoạn lôi kéo, dụ dỗ, dọa dẫm và lũng đoạn tư tưởng cán bộ, đảng viên và quần chúng, gây tâm lý cầu an, chờ đợi, sống an nhàn, hưởng lợi, từ đó dần dần thủ tiêu tinh thần cách mạng, phá hoại phong trào từ bên trong.

Với những thủ đoạn trên, địch đã đánh phá và bình định trên diện rộng, gây cho ta nhiều khó khăn và tổn thất, nhân dân bị dồn nhiều vào các khu tập trung, lực lượng của ta nhất là cán bộ và cơ sở bị tổn thất nhiều, đời sống của nhân dân khó khăn, công tác động viên phục vụ kháng chiến bị hạn chế, tư tưởng của quần chúng, cán bộ đảng viên có những diễn biến phức tạp, một số nơi trên địa bàn trở thành vùng trắng dân và nửa dân, địa bàn hoạt động và hành lang đi lại của ta khó khăn hơn trước.

Về ta, đã từng bước kiểm điểm những khuyết điểm từ sau mùa xuân năm 1968 và chủ trương chuyển hướng tiến công, lấy nông thôn làm hướng tiến công chính, tập trung ngăn chặn và đẩy lùi các chương trình bình định nông thôn của địch. Trên cơ sở phân tích sâu sắc tính chất thâm độc của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” và những mâu thuẫn không thể khắc phục được của nó, Trung ương Đảng đã đề ra nhiệm vụ trước mắt cho cách mạng miền Nam là ra sức xây dựng lực lượng quân sự và chính trị, đẩy mạnh tiến công quân sự, chính trị và ngoại giao làm thất bại âm mưu “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ.

Ngày 1-1-1969, trong thư Chúc mừng năm mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát tài tình một phương hướng chiến lược cực kỳ quan trọng, cũng là bước đi rất đúng đắn và đầy sáng tạo để giành thắng lợi cuối cùng trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ là “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”.

Tháng 4-1969, Hội nghị Khu ủy V ra nghị quyết: Muốn đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ trước hết phải đánh vào biện pháp chiến lược chủ yếu của địch là: “bình định nông thôn”. Phải tập trung toàn bộ lực lượng chống bình định, phát động nhân dân giành quyền làm chủ nông thôn. Chống bình định là vấn đề gốc, là cái trục của toàn bộ phong trào.

Tiếp thu Nghị quyết của Khu ủy, Tỉnh ủy Đăk Lăk tập trung kiểm điểm rút kinh nghiệm những hạn chế thiếu sót trong công tác chỉ đạo từ cuối năm 1968 đến nửa đầu năm 1969; đề ra nhiệm vụ trọng tâm lúc này là: tích cực chống bình định nông thôn, giành và giữ dân quyết liệt với địch, liên tiếp mở các đợt hoạt động xuân - hè - thu tấn công tiêu diệt và làm tan rã lực lượng địch.

Thực hiện chỉ đạo của Tỉnh ủy, Huyện ủy đã tổ chức học tập, tuyên truyền, quán triệt chủ trương của Trung ương Đảng, Khu ủy V và Tỉnh ủy về các nhiệm vụ, phương pháp đấu tranh chống các âm mưu, thủ đoạn mới của địch trong toàn Đảng bộ, trong các lực lượng vũ trang, các đội công tác và quần chúng nhân dân. Đồng thời tăng cường chỉnh huấn, động viên, kiểm điểm, uốn nắn khắc phục tư tưởng hoang mang, dao động, sợ địch, sợ gian khổ hy sinh và tư tưởng chủ quan, khinh địch; từng bước củng cố phát triển lực lượng cả về tư tưởng chính trị và tổ chức, nâng cao quyết tâm chiến đấu và chiến thắng quân thù, thực hiện lời Bác dạy:



“Vì độc lập, vì tự do.

Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.

Tiến lên! chiến sĩ đồng bào.

Bắc - Nam sum họp xuân nào vui hơn”.

Với tinh thần chỉ đạo chiến lược của Trung ương Đảng và Bác Hồ, các lực lượng của ta trên địa bàn tiếp tục được củng cố và phát triển, đã kịp thời bám địa bàn, bám dân, bám phong trào, giữ vững thế chủ động tiến công tiêu diệt địch, chống bình định, giành và giữ dân.

Huyện H2 lúc này được tỉnh chọn là địa bàn phối hợp nên đã điều đại đội đặc công 309 về hoạt động tại huyện. Các đội công tác, lực lượng du kích và bộ đội huyện được bổ sung quân số và trang bị thêm vũ khí, có cả súng hỏa lực, B40, B41...

Năm 1969, các lực lượng vũ trang của huyện phối hợp với bộ đội chủ lực, bộ đội tỉnh liên tiếp mở 3 đợt hoạt động xuân - hè - thu tiến công tiêu diệt và làm tan rã lực lượng địch, chống bình định, gom xúc dân, tạo điều kiện hỗ trợ cho phong trào quần chúng nổi dậy phá ấp, phá kìm.

Đêm 22-2-1969, lực lượng vũ trang của huyện phối hợp với các lực lượng quân sự huyện H3, H7 và một bộ phận của đại đội đặc công 309, D401 đánh vào tiểu khu Phú Bổn, tập kích vào quận lỵ Phú Thiện, diệt trên 500 tên địch, đánh quỵ lữ đoàn bảo an và pháo binh cơ giới, phá hủy 2 pháo 105mm, 3 xe cơ giới.

Ngày 10-5-1969, lực lượng vũ trang huyện phối hợp với lực lượng vũ trang huyện H3 và đại đội đặc công 309 tập kích vào chi khu cảnh sát Mlah, diệt 200 tên ngụy, tề điệp ác ôn, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của địch.

Trong đợt hoạt động xuân - hè năm 1969, các lực lượng vũ trang của huyện phối hợp chặt chẽ với lực lượng huyện H3 và bộ đội tỉnh liên tiếp mở nhiều đợt tấn công vào các mục tiêu quân sự của địch ở Cheo Reo và trên các trục đường giao thông, diệt nhiều tên địch và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của quân ngụy dọc theo đường 14 và đường 7, đưa phong trào quần chúng nhân dân ở các buôn, ấp khu vực này lên cao. Bọn địch lo sợ, tề điệp nằm im, cơ sở quần chúng phát triển mạnh.

Giữa lúc phong trào cách mạng ở H2 đang dâng cao và ở vào thời điểm quyết liệt thì nhận được tin đau buồn, Bác Hồ muôn vàn kính yêu của dân tộc ta lâm bệnh nặng và qua đời. Không khí đau buồn bao trùm khắp các buôn làng, quân dân H2 bàng hoàng khóc thương Bác. Tại vùng căn cứ của huyện, ta tổ chức cho cán bộ và nhân dân làm lễ truy điệu Bác. Trong niềm tiếc thương vô hạn, tại lễ truy điệu Bác, Đảng bộ, quân và dân các dân tộc H2 nguyện biến đau thương thành hành động cách mạng, quyết tâm cùng với quân dân cả nước thực hiện bằng được Di chúc của Người: Đánh thắng giặc Mỹ, thống nhất Tổ quốc. Lúc này, đất trời Tây Nguyên mưa như trút nước. Ở nhiều buôn ấp, đồng bào vượt ra ngoài tìm cán bộ hỏi thăm tin tức về Bác, không ai muốn tin rằng Bác đã đi xa. Trong vùng địch, nhiều đồng bào đã lập bàn thờ Bác, bất chấp kẻ thù ngăn cấm. Một số binh lính có tư tưởng tiến bộ, cảm tình với cách mạng, im lặng bỏ qua trước những hành động kính yêu, thương tiếc Bác của đồng bào; có nơi binh lính chống lại chỉ huy, không chịu đi càn trong thời gian cả nước chịu tang Bác.

Sau lễ tang Bác, cùng với việc phát động phong trào học tập và làm theo Di chúc của Bác, Huyện ủy tổ chức đợt chỉnh huấn chính trị cho cán bộ, đảng viên và lực lượng vũ trang, góp phần nâng cao niềm tin và ý chí quyết tâm tiến công tiêu diệt kẻ thù, đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ - ngụy.

Trong đợt hoạt động thu - đông năm 1969, ở H2, ta liên tục tổ chức tấn công vào các mục tiêu của địch trên địa bàn, tiêu biểu như phối hợp với bộ đội chủ lực đánh vào đồn Kà Lúi lần thứ hai, tiêu diệt một trung đội địch. Lực lượng du kích và bộ đội địa phương đánh sập lô cốt đầu cầu Lệ Bắc (Ơi Nu) diệt 20 tên địch, thu 18 súng các loại. Tháng 12-1969, tập kích vào quận Phú Túc diệt gọn một trung đội bảo an và 2 tên quận phó. Đầu năm 1970, lực lượng vũ trang của huyện tiếp tục tổ chức đánh vào quận Phú Túc lần thứ hai làm cháy kho đạn của địch trong hai ngày đêm, phá hủy nhiều tấn đạn dược các loại, buộc địch phải sơ tán các gia đình binh sĩ ngụy ra khỏi khu trung tâm quận. Tại cánh đồng Phú Cần, ta cũng tổ chức đánh thiệt hại nặng 2C bảo an và một đơn vị nghĩa quân. Để cứu nguy cho Phú Túc, địch buộc phải điều liên đoàn bảo an 256 từ quận Thuần Mẫn về bảo vệ quận Phú Túc...

Với những thắng lợi liên tiếp trên chiến trường, lực lượng của H2 đã góp phần hạn chế những cuộc càn quét đánh phá của địch, tiêu hao một bộ phận sinh lực địch, đẩy chúng vào thế bị động, hoang mang, lo lắng; tạo điều kiện cho phong trào đấu tranh chính trị, phá ấp giành dân phát triển. Có 5 ngàn lượt quần chúng đấu tranh tại chỗ hoặc kéo đến các đồn bót đòi chồng con, đòi thả người bị bắt, đòi bồi thường nhân mạng và tài sản, đòi trừng trị bọn gian ác... Có hàng ngàn quần chúng bỏ ấp trở về làng cũ ở các xã C1, C2, C3, C4, C5, C6. Phong trào diệt ác phá kìm được đẩy mạnh, có lúc xử lý đến 25 tên ác ôn, trong đó, tổ công tác A3 của lực lượng An ninh H2 gồm các đồng chí: Ksor Mal, Ksor Mrial, Ksor Ôi, Kpă Tit do đồng chí Ksor Ôi làm tổ trưởng đã liên tiếp tổ chức phục kích tiêu diệt nhiều tên ác ôn, có nợ máu với nhân dân như diệt tên trung sĩ tình báo ác ôn Pring ở cầu Cây Me (3-1969), tên Ama Dua ở khu dồn Ơi Nu (10-1969), các tên ấp trưởng và ấp phó ở khu dồn Buôn Du... Trong các đợt tấn công, ta phát động quần chúng kết hợp với công tác binh vận và các cơ sở mật bên trong để đột nhập sâu vào vùng kiểm soát của địch, bắt hàng chục tên tề ấp giáo dục tại chỗ và một số tên ác ôn đưa ra vùng giải phóng để cải tạo.

Trước sự lớn mạnh của phong trào, tháng 3-1970, tại khu căn cứ xã Ia Rsai, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ IV được tổ chức để kiểm điểm, đánh giá kết quả lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ và phong trào kháng chiến, rút ra nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và xác định nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa IV gồm 14 đồng chí, đồng chí Nay Ang (Ama Hiu), tỉnh ủy viên được bầu làm Bí thư Huyện ủy. Chỉ đạo huyện lúc này còn có đồng chí Siu Pui (Ama Thương), Phó Bí thư Tỉnh ủy Đăk Lăk, trực tiếp chỉ đạo ở H2 .

Nghị quyết Đại hội đã vạch ra phương hướng: tiếp tục chống bình định nông thôn của địch, diệt ác, phá kìm, giành dân và mở rộng vùng giải phóng, củng cố vùng căn cứ, khẩn trương xây dựng thực lực cách mạng, đẩy mạnh đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang, thực hiện hai chân, ba mũi, ba vùng chiến lược, đánh địch càn quét, lấn chiếm; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên vững mạnh ở các thôn buôn trong huyện; xây dựng chính quyền, mặt trận và các đoàn thể ngày càng vững mạnh, tiến hành tổ chức bầu cử Hội đồng nhân dân cấp xã theo phổ thông đầu phiếu.

Sau Đại hội, tình hình trên chiến trường chuyển biến có lợi cho ta. Mỹ - ngụy điều động một lực lượng lớn quân số trên các chiến trường, trong đó có Đăk Lăk, Gia Lai tham gia tấn công sang Campuchia với ý đồ nhằm ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho chiến trường miền Nam và tiêu diệt quân chủ lực miền Nam ở sát vùng biên giới, nhưng chúng bị lực lượng cách mạng nước bạn đánh trả quyết liệt và bị sa lầy ở đó. Trước tình hình trên, phối hợp với chiến trường chung của tỉnh, Đảng bộ huyện tập trung chỉ đạo các lực lượng với phương châm hai chân, ba mũi giáp công, liên tục tổ chức tấn công tiêu diệt địch, nổi dậy phá ấp giành dân trên khắp các địa bàn. Ta đã lần lượt bức rút đồn Ơi Nu; tiêu diệt một bộ phận quân chủ lực địch tại suối Ia Lao (Chư Gu); tấn công san phẳng đồn Ma Rôk, diệt 1B bảo an; tấn công đồn Ma Sanh (nay là khu vực bệnh viện huyện) tiêu diệt một trung đội nghĩa quân; phá banh các ấp chiến lược dọc đường 7 từ Phú Bổn xuống Phú Túc, đoạn đường đi Củng Sơn bị cắt đứt. Để giải toả đường 7, địch dùng trực thăng chở một tiểu đoàn chủ lực từ Bình Dương lên đổ bộ xuống Phú Túc và hành quân về Phú Bổn, nhưng chúng vừa đặt chân xuống đất đã bị quân dân H2 chặn đánh, tiêu diệt trên 300 tên và thu nhiều vũ khí...

Đầu năm 1971, Mỹ - ngụy mở cuộc hành quân Lam Sơn 719 tiến công ra đường số 9 - Nam Lào nhằm đánh phá đường mòn Hồ Chí Minh, cắt đứt sự chi viện của miền Bắc cho miền Nam; chia cắt 3 nước Đông Dương và thử nghiệm công thức tiêu biểu của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”: Bộ binh ngụy + hỏa lực + hậu cần Mỹ. Do phán đoán đúng và dự kiến sớm, ta đã chuẩn bị tốt và tiến hành thắng lợi chiến dịch phản công có ý nghĩa chiến lược đường 9 - Nam Lào, đánh bại quân chủ lực ngụy có sự yểm trợ của hỏa lực Mỹ, đánh bại cố gắng quân sự cao nhất của quân ngụy trong chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, đánh dấu một bước thất bại nghiêm trọng của chiến lược này. Chiến thắng đường 9 - Nam Lào của ta đã chấm dứt quá trình tiến công - phản kích đánh ra vòng ngoài bằng các cuộc hành quân lớn của Mỹ - ngụy trên chiến trường của 3 nước Đông Dương.

Trên chiến trường Đăk Lăk, quân Mỹ đã rút đi hết chỉ còn 50 nhân viên kỹ thuật và 1 trung đội công binh. Quân chủ lực ngụy giảm xuống do phải điều đi đối phó các chiến trường khác. Do đó địch tăng cường bắt lính, đôn quân, lập thêm 5 đội bảo an, tiếp tục đẩy mạnh bình định nông thôn.

Để phối hợp với chiến trường chung trong việc thực hiện nhiệm vụ trung tâm: Đánh bại chương trình “bình định đặc biệt”, diệt kìm, giành dân, giành quyền làm chủ, đầu năm 1971, tỉnh Đăk Lăk mở đợt hoạt động xuân - hè (mật danh là B81), trọng điểm là các huyện H2, H3 gồm các quận Phú Nhơn, Phú Thiện, Thuần Mẫn, Phú Túc và thị xã Hậu Bổn. Hướng tấn công chủ yếu là quận Phú Thiện. Diện phối hợp là các huyện H4, H5 và vùng ven thị xã Buôn Ma Thuột. Lực lượng đánh địch trên địa bàn lúc này ngoài bộ đội, du kích thuộc H2, H3, huyện 7 (Gia Lai) còn có trung đoàn 95, tiểu đoàn 6 thuộc trung đoàn 24, tiểu đoàn 301 và các đại đội của tỉnh.

Trên địa bàn H2, từ ngày 6-3-1971, các lực lượng của huyện đã tiến đánh các chốt ở buôn Bông, buôn Thêm, đột kích vào các ấp buôn Du, ấp Tân Sinh, diệt một số dân vệ, phát động quần chúng lùng bắt gián điệp ác ôn, khôi phục thế làm chủ và tranh chấp trên 8000 dân.

Phối hợp với các hoạt động tấn công của bộ đội, du kích, các đội công tác đã bám sát địa bàn, phát động quần chúng nhân dân phá ấp, phá rào, phá công sự, phá đường, huy động lương thực, thực phẩm và dân công phục vụ chiến dịch. Nhiều quần chúng nhân dân, nhất là thanh niên ở các buôn, ấp đã hăng hái tham gia kháng chiến.

Trong đợt hoạt động hè năm 1971, dưới sự chỉ đạo chặt chẽ của Đảng bộ huyện, các lực lượng H2 đã liên tục tổ chức tấn công địch trên diện rộng và giành được những thắng lợi quan trọng về quân sự. Các lực lượng vũ trang của huyện đã đánh 4 trận, diệt trên 100 tên địch, đột nhập 24 lần vào 13 ấp có số dân hơn 15.500 người, trong đó có 8 ấp đã phát động quần chúng rộng rãi, xóa tề, xóa ấp và tuyên bố thành lập chính quyền cách mạng.

Về đấu tranh chính trị và binh vận, huyện đã tổ chức 8 cuộc đấu tranh trực diện tại chỗ gồm 890 lượt quần chúng tham gia, 4 cuộc kéo lên quận Phú Túc đấu tranh gồm 550 lượt quần chúng tham gia và nhiều cuộc đấu tranh chống tề, chống bắt lính trong dân, không cho địch xây lô cốt ở các buôn Bông, buôn Thêm...

Công tác xây dựng lực lượng phát triển mạnh tại các xã 7, 8, 9, 10, C2, C3 và C4, ta đều tổ chức Ban cán sự quần chúng gồm 7 người. Thành lập một chi bộ ở xã 8 gồm 6 đảng viên. Tại C2 ta lập 1 chi bộ ở ấp buôn Du gồm 5 đảng viên, 1 chi đoàn và 2 phân đoàn thanh niên, 21 tổ phụ nữ giải phóng, 21 tổ vòng đổi công, xây dựng 8 du kích mật và phát triển 6 cơ sở chính trị. Do đó, lực lượng ta tại các xã tăng lên như sau:

- Xã 7: 2 đảng viên, 6 du kích và 21 cơ sở khác.

- Xã 8: 6 đảng viên, 6 du kích và 8 cơ sở binh vận.

- Xã 9: 4 đảng viên, 5 du kích mật...

- Xã 10: 6 đảng viên, 6 du kích mật, 6 cơ sở binh vận...

Qua thực tiễn đấu tranh, đội ngũ cán bộ cơ sở cốt cán của ta trong các khu ấp trưởng thành, nhiều chi bộ bên trong lòng địch đã bám sát lãnh đạo quần chúng hình thành thế làm chủ và tranh chấp trong vùng có địch đóng quân và sát nách địch. Ta đã xây dựng được chi bộ và nhiều cơ sở đơn tuyến cốt cán trong lòng địch, nắm và sử dụng được một số tề, dân vệ, phòng vệ dân sự, xây dựng thành những cơ sở cách mạng của ta.

Với những thắng lợi liên tiếp trong hai năm 1970 – 1971, ta đã vượt qua thời kỳ khó khăn từ sau Tết Mậu Thân 1968 và chuyển sang thời kỳ mới; Mỹ - ngụy dần dần bị đẩy vào thế bị động, lúng túng và bế tắc về chiến lược, nhất là khi Mỹ sắp bước vào năm bầu cử Tổng thống. Trước tình hình đó, ta quyết định mở cuộc tiến công chiến lược năm 1972 trên toàn miền Nam nhằm tiêu diệt lớn quân địch, mở rộng vùng giải phóng, góp phần làm thay đổi so sánh lực lượng địch - ta, thay đổi cục diện cuộc chiến tranh ở miền Nam. Trong cuộc tiến công chiến lược này, ta chủ trương kết hợp ba đòn chiến lược: đòn tiến công và nổi dậy ở vùng nông thôn đông dân để đánh phá bình định, đòn đấu tranh chính trị ở các thành thị, đòn kết hợp ba mặt đấu tranh quân sự, chính trị với ngoại giao, giành thắng lợi quyết định ở miền Nam.

Với tinh thần đó, cuối năm 1971, Thường vụ Khu ủy và Bộ tư lệnh Quân khu V xây dựng kế hoạch chuẩn bị cho cao trào tấn công và nổi dậy năm 1972 với 3 yêu cầu sau:

- Tiêu diệt và làm tan rã phần lớn quân ngụy, phá vỡ từng mảng hệ thống phòng thủ của địch.

- Đẩy mạnh phong trào tấn công và nổi dậy giành quyền làm chủ nông thôn, đánh bại kế hoạch bình định của địch.

- Đẩy mạnh phong trào đấu tranh ở các đô thị đòi dân sinh, dân chủ, đòi Mỹ rút quân, đòi hòa bình.

Thực hiện Nghị quyết của Khu ủy V, tháng 11-1971, Tỉnh ủy Đăk Lăk họp bàn kế hoạch chuẩn bị phối hợp với chiến trường chung, mở các đợt tấn công và nổi dậy ở các địa phương, tập trung vào các trọng điểm ở Đông Cheo Reo, dọc đường số 7, Buôn Hồ, H5 và thị xã Buôn Ma Thuột. Tăng cường cử các đoàn cán bộ của tỉnh về hỗ trợ các huyện để tuyên truyền, giáo dục, phát động quần chúng chuẩn bị cho đợt hoạt động; mở các lớp tập huấn ngắn ngày cho các huyện đội, xã đội, chuẩn bị mở rộng chiến tranh du kích trên toàn địa bàn.

Xác định tầm quan trọng và ý nghĩa của cuộc tiến công chiến lược lần này, Đảng bộ huyện đã tổ chức đợt sinh hoạt chính trị, học tập quán triệt tình hình, chủ trương, nhiệm vụ mới và kế hoạch tiến công và nổi dậy phá ách kìm kẹp, giành quyền làm chủ của huyện trong năm 1972. Đảng bộ kêu gọi đồng bào các dân tộc trong huyện hãy tổng nổi dậy, phá sạch các khu dồn, ấp chiến lược, phá bỏ kìm kẹp, đấu tranh quyết liệt trở về làng cũ làm ăn, giành và giữ vững quyền làm chủ. Tập trung lực lượng phía sau ra phía trước lấn sâu vào vùng địch, nổi dậy đấu tranh giành đất, giành quyền làm chủ, phát triển thế và lực mới của ta, kéo đi đòi chồng con, bao vây đồn bót, kêu gọi binh lính làm binh biến, bỏ đồn bót về nhà; kiên quyết đánh bại các âm mưu của địch, nhất là âm mưu phản kích lấn chiếm của chúng vào vùng giải phóng...

Để huy động nhân lực, vật lực cho chiến dịch, Huyện ủy chỉ đạo vừa đẩy mạnh phong trào sản xuất, thu mua lương thực trong vùng căn cứ, vùng giải phóng và vùng địch; vừa đẩy mạnh phong trào dân công. Kết quả đã huy động được 2.533 ngày công phục vụ chiến dịch, thu mua được trên 2.300kg gạo; phong trào thi đua sản xuất, tất cả vì tiền tuyến... phát triển mạnh mẽ. Các lực lượng của huyện được củng cố và nâng cao về số lượng và chất lượng, khí thế đấu tranh cách mạng của quần chúng dâng cao... đã làm cho bọn tề ấp, bảo an, phòng vệ dân sự hoang mang lo lắng, một bộ phận rã ngũ lánh đi nơi khác, một số đi theo quần chúng cách mạng. Đồng thời để chỉ đạo hoạt động mùa khô năm 1972, Thường vụ Tỉnh ủy Đăk Lăk phân công đồng chí Siu Pui (Ama Thương) Phó bí thư Tỉnh ủy xuống kiêm Bí thư Huyện ủy H2 từ tháng 2 năm 1972.

Sau khi triển khai xong các nhiệm vụ chuẩn bị cho chiến dịch, đêm 24-3-1972, các lực lượng vũ trang của ta nổ súng mở màn đợt hoạt động xuân - hè. Phối hợp với bộ đội tỉnh, bộ đội H2 tấn công tiêu diệt chốt dân vệ ở ấp Đức An, pháo kích vào chốt bảo an ở Kà Lúi; vây ép địch ở 2 ấp Đức An, Đức Lộc; phát động quần chúng nổi dậy phá ấp, đưa 4.000 dân về làng cũ ở bờ nam sông Ba. Địch đưa 2 liên đội bảo an từ Cheo Reo và Cẩm Ga xuống phản kích giải tỏa bị lực lượng ta chặn đánh, gây cho chúng nhiều thiệt hại. Trong vòng 10 ngày đầu của đợt hoạt động, ta mở ra được 5 ấp nhưng sau đó địch đã lấn chiếm lại 3 ấp. Thừa thắng, bộ đội ta tấn công tiêu diệt cứ điểm Buôn Chai, cắt đứt tuyến giao thông đến Phú Túc. Tháng 4-1972, ta tiếp tục bám đánh địch ở Phú Túc, tiêu diệt trên 50 tên; đồng thời bao vây địch ở đồn Kà Lúi. Đầu tháng 5-1972, quân địch ở Kà Lúi tháo chạy, ta giải phóng toàn bộ nhân dân ở vùng này. Trong các ngày từ 28 đến 31-5-1972, ta liên tục chặn đánh quân tiếp viện của địch từ Cheo Reo xuống tăng cường cho Phú Túc. Ngày 30-5-1972, lực lượng huyện phối hợp với D301 của tỉnh phục kích phía đông cầu Ơi Nu, tiêu diệt bọn địch đi tuần đường, đánh chặn đoàn xe địch tiếp tế xuống quận Phú Túc, buộc chúng phải quay lại Cheo Reo. Cùng ngày, C4 thuộc D301 pháo kích vào cứ điểm Ơi Nu, đốt cháy 2 cầu trên đường số 7. Ngày 31-5-1972, C3 thuộc D301 phục kích trên đường số 7 cách ấp buôn Du 2 km đánh vào 2 trung đội tăng cường của địch, gây cho chúng nhiều tổn thất...

Trước sự tăng cường phản kích lấn chiếm lại các ấp đã bị mất của địch, Đảng bộ huyện chỉ đạo các lực lượng vũ trang tiếp tục đẩy mạnh tiến công tiêu diệt địch, giành và giữ dân vùng Mlah và bắc sông Ba, tiếp tục đưa dân trong các ấp địch kiểm soát ra vùng ta, kiên quyết quét sạch tề ấp để đảm bảo thế làm chủ của nhân dân, tăng cường bổ sung cán bộ cho đội công tác K15 để trong thời gian ngắn nhất hoàn thành việc bung dân ra, khẩn trương đẩy mạnh cao trào tổng tiến công và nổi dậy dứt điểm trong thời gian ngắn nhất của các vùng (K).

Phát huy những thắng lợi liên tiếp trong đấu tranh vũ trang, phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng lúc này dâng cao, hàng trăm quần chúng bị địch xúc đưa về các ấp buôn Du, Tân Sinh, buôn Wông (Bông), buôn Nai... đấu tranh quyết liệt không chịu vào ấp, hơn 600 dân ở xã 7 đã bung về vùng ta. Cuộc đấu tranh của quần chúng ở nhiều nơi được binh lính ngụy đồng tình, chúng đã làm ngơ và thúc quần chúng trốn về. Tranh thủ lúc địch đang hoang mang, dao động, khí thế cách mạng của quần chúng đang lên cao, ta đẩy mạnh công tác binh vận, kêu gọi binh lính bỏ ngũ về với vợ con, cầm súng chống lại và không chịu ra trận làm bia đỡ đạn cho Mỹ - ngụy. Kết quả, đã có một bộ phận binh lính bỏ ngũ về quê, một số đi theo cách mạng và trở thành cơ sở nội tuyến của ta...

Những thắng lợi bước đầu có ý nghĩa to lớn của quân và dân huyện H2 trong thời gian này đã được Thường vụ Tỉnh ủy Đăk Lăk tuyên dương, góp phần động viên, khích lệ tinh thần đấu tranh, ý chí quyết tâm chiến đấu và chiến thắng kẻ thù.

Ngày 12-6-1972, Thường vụ Tỉnh ủy Đăk Lăk tổ chức Hội nghị mở rộng kiểm điểm tình hình, đánh giá kết quả hoạt động xuân - hè năm 1972 và quyết định tập trung động viên nỗ lực cao nhất của toàn Đảng bộ, quần chúng trong tỉnh, phát huy thắng lợi đã giành được, tranh thủ thời cơ, đẩy mạnh tấn công và nổi dậy liên tục, quyết giải phóng nông thôn và đẩy mạnh phong trào đấu tranh của quần chúng trong thị xã và các quận lỵ.

Thực hiện Nghị quyết của Thường vụ Tỉnh ủy, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, từ ngày 7 đến ngày 10-10-1972, các lực lượng vũ trang của huyện phối hợp với bộ đội tỉnh và các trung đoàn chủ lực Tây Nguyên liên tiếp tổ chức tiến công tiêu diệt địch dọc đường 7 từ Phú Nhơn, Phú Thiện đến Phú Túc và giành thêm được 9 buôn dọc đường 7, kể cả vùng buôn Chai, buôn Ngô. Đến cuối năm 1972, ta đã hoàn toàn làm chủ vùng nông thôn H2, mở ra một vùng giải phóng rộng lớn, góp phần đắc lực vào việc huy động về người và của cho cuộc kháng chiến.

Sau 4 năm đương đầu với chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ-ngụy, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện, quân và dân H2 đã vượt qua bao hy sinh, gian khổ, chiến đấu kiên cường, giữ vững thế tiến công, liên tục đánh địch bằng phương châm hai chân, ba mũi giáp công, từng bước đánh bại kế hoạch bình định cấp tốc của địch; giành và giữ dân; xây dựng và mở rộng vùng ta làm chủ. Các lực lượng vũ trang của huyện đã lần lượt đánh bại các cuộc càn quét, lấn chiếm của địch, tiêu diệt một bộ phận quan trọng sinh lực địch và phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh của chúng; diệt và làm tan rã phần lớn lực lượng tề xã, tề buôn; phối hợp và hỗ trợ cho phong trào đấu tranh chính trị và nổi dậy của quần chúng chống gom dân, phá kìm, diệt ác, giành quyền làm chủ... Trong quá trình chiến đấu, các lực lượng vũ trang của huyện ngày càng trưởng thành và phát triển về mọi mặt, trở thành nỗi ám ảnh lo sợ đối với quân địch trên địa bàn.

Kết hợp với tác chiến diệt địch, phong trào đấu tranh chính trị và nổi dậy diệt ác phá kìm, phá khu dồn, ấp chiến lược trở về làng cũ diễn ra liên tục và trên diện rộng. Các hình thái: càn quét và chống càn quét; đóng chốt kẹp dân và diệt chốt phá kìm; dồn dân lập khu dồn và chống dồn dân phá khu dồn... là những hình thái đấu tranh giằng co quyết liệt và dai dẳng giữa địch và ta trong suốt thời kỳ “Việt Nam hóa chiến tranh”. Đến cuối năm 1972, ta đã hoàn toàn làm chủ vùng nông thôn rộng lớn của huyện, mở ra một khả năng to lớn cho cách mạng.

Cùng với đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị, công tác binh tề vận được Đảng bộ huyện đặc biệt quan tâm chỉ đạo. Các chi bộ, mặt trận và các đoàn thể, các đội công tác và cơ sở của ta trong vùng địch đã bám sát địa bàn, bám sát đối tượng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động, đấu tranh phân hóa hàng ngũ địch. Kết quả, ta đã làm cho nội bộ địch bị rối loạn, tinh thần sa sút, hoang mang, dao động; một bộ phận binh lính nguỵ bỏ ngũ về với gia đình, một bộ phận được giác ngộ và đi theo cách mạng... Qua các hoạt động tán phát truyền đơn, gọi loa, gửi thư tay, giáo dục vận động của gia đình và quần chúng đã làm cho lực lượng dân vệ, nghĩa quân, phòng vệ dân sự, tề, bảo an ở các chốt, ấp, khu dồn ra gặp ta ngày càng nhiều. Qua tiếp xúc, ta đã tranh thủ xây dựng, nắm và sử dụng nhiều đối tượng, xây dựng nhiều cơ sở trong hàng ngũ địch đưa lên hành động như chống lệnh đôn quân, không đi càn quét, không chịu đàn áp nhân dân, không đi gom xúc dân đã bung ra khỏi ấp; phối hợp diệt ác ôn, báo cho ta chặn đánh bọn ra lùng sục, phục ban đêm ngoài ấp...

Cùng với việc đánh địch mở dân phía trước, Đảng bộ huyện đẩy mạnh việc chăm lo xây dựng vùng căn cứ, vùng giải phóng ngày càng vững mạnh, trở thành địa bàn đứng chân vững chắc của huyện và tỉnh, góp phần xây dựng và bảo vệ tuyến hành lang chiến lược của tỉnh đi qua địa bàn huyện được thông suốt. Hai trạm giao bưu T41, T42 hoạt động nhộn nhịp ngày đêm, đảm bảo liên lạc thông suốt giữa huyện với tỉnh và các địa bàn khác. Tuy bị địch thường xuyên đánh phá, có lúc bị đánh phá nặng, việc ăn ở và sản xuất của nhân dân nhiều nơi rất khó khăn, nhưng với tinh thần tất cả vì tiền tuyến, tất cả để chiến thắng giặc Mỹ xâm lược... đồng bào ta ở vùng căn cứ, vùng giải phóng đã nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, đẩy mạnh thực hiện các phong trào xây dựng làng xã chiến đấu, tăng gia sản xuất, tương trợ giúp đỡ nhau trong đời sống và sản xuất, tích cực ủng hộ sức người, sức của cho cách mạng...

Với những thắng lợi to lớn của cách mạng miền Nam trong những năm 1969-1972, nhất là thắng lợi của cuộc tiến công chiến lược năm 1972, ta đã làm thay đổi cục diện chiến trường ở miền Nam; cùng với việc đập tan cuộc tập kích đường không chiến lược bằng B52 của Mỹ ở miền Bắc, ta đã đạt mục tiêu giành thắng lợi quyết định, buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari, chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam; rút hết quân Mỹ và quân các nước phụ thuộc Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam; còn quân chủ lực ta vẫn ở nguyên tại chỗ, tạo nên so sánh lực lượng mới có lợi cho ta.

IV- ĐÁNH BẠI KẾ HOẠCH LẤN CHIẾM, “TRÀN NGẬP LÃNH THỔ” CỦA ĐỊCH; PHỐI HỢP VỚI CHIẾN TRƯỜNG CHUNG ĐẨY MẠNH TIẾN CÔNG TIÊU DIỆT ĐỊCH; PHÁT ĐỘNG QUẦN CHÚNG NỔI DẬY GIẢI PHÓNG TOÀN HUYỆN (1973-1975)

Phải ký Hiệp định Pari, rút quân về nước, nhưng đế quốc Mỹ vẫn ngoan cố tiếp tục dùng ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn làm công cụ thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của chúng ở miền Nam, âm mưu biến miền Nam thành một “quốc gia” thân Mỹ, thực chất vẫn là một thuộc địa kiểu mới của Mỹ.

Sau Hiệp định Pari, ở miền Nam chưa có ngừng bắn hoàn toàn, chưa có hòa bình thật sự, Mỹ-ngụy vẫn tiến hành bình định và lấn chiếm khắp miền Nam. Mục tiêu trước mắt của Mỹ - ngụy là lấn chiếm vùng giải phóng và bình định vùng chiếm đóng, tiêu diệt một bộ phận lực lượng của ta, đẩy lực lượng còn lại của ta ra sát biên giới, loại Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra khỏi đời sống chính trị ở miền Nam. Để thực hiện mục tiêu này, Mỹ tăng cường cung cấp tiền của, vũ khí, phương tiện chiến tranh cho ngụy, ráo riết bắt lính, đôn quân, tăng lực lượng vũ trang ở cơ sở để trực tiếp khống chế nhân dân; liên tiếp mở các cuộc hành quân càn quét, các chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”,... duy trì lực lượng răn đe của Mỹ ở các vùng phụ cận quanh Việt Nam gồm 56 tàu chiến, 1.020 máy bay và 15.200 quân Mỹ. Đồng thời, tiếp tục tăng cường hoạt động ngoại giao xảo quyệt... để ngăn chặn sự phát triển của cách mạng miền Nam. Chúng coi lấn đất giành dân lần này là “keo cuối cùng, thắng là đây mà thua cũng là đây”, coi địa bàn chủ yếu của cuộc chiến tranh điền địa là ấp xã và giải quyết ấp xã là căn bản giải quyết được cuộc chiến tranh. Chúng huy động khoảng 60-70 tiểu đoàn chủ lực cùng toàn bộ các lực lượng khác thực hiện lấn chiếm, bình định.

Trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk, sau ngày ký Hiệp định Pari, địch tập trung lực lượng phản kích, đánh chiếm lại các vùng đã bị mất. Chúng đã tập trung trên 10 tiểu đoàn có phi cơ, trọng pháo và thiết giáp chi viện, tổ chức càn quét, đánh phá các trận địa của ta và làng mạc của dân. Từ tháng 6 đến tháng 9-1973, địch đã lấn chiếm lại các khu vực Ea Sol (Tây Cheo Reo), buôn Hăng, Chư Kpăm (Phước An), Ea Tuôr, buôn Phung (Buôn Ma Thuột)…; cắm thêm 10 điểm chốt, khai thông lại đường số 7, 7 bis và 21 bis, mở rộng đường số 6, 14 và đường từ Buôn Ma Thuột đi Buôn Đôn; ra sức bắt lính tăng quân, phát triển 71 cuộc cảnh sát xã (mỗi cuộc từ 8-15 tên); tăng cường phát triển bộ máy kìm kẹp các cấp, tiến hành “cách mạng hành chính” thay đổi các lực lượng không ăn cánh với Nguyễn Văn Thiệu, đưa tay chân của Thiệu vào nắm các vai trò chủ chốt; phát triển các đảng phái phản động, nhất là đảng Dân chủ của Thiệu... Địch ngang nhiên công khai tuyên bố phá hoại Hiệp định, thực hiện nhiều hoạt động khủng bố. Trong năm 1973, chúng đã vi phạm Hiệp định đình chiến trên 600 vụ, có 79 cuộc hành quân lấn chiếm, 89 cuộc hành quân cảnh sát, 91 phi vụ với trên 400 lần chiếc máy bay ném bom, bắn 20.000 quả đại bác vào vùng căn cứ và vùng giải phóng, thiêu hủy 760 nóc nhà, lùa xúc được 845 người dân vùng ta vào vùng địch... Về kinh tế, địch tuyên truyền kế hoạch “tái thiết hậu chiến”, ra sức khai thác tiềm năng kinh tế Tây Nguyên, bóc lột nhân dân bằng các thứ thuế và phong toả bao vây kinh tế ta. Sau Hiệp định Pari, địch đưa trên 16.500 dân ở Quảng Trị, Kon Tum và Phú Yên đến các khu vực Cẩm Ga, Chư Báh, Ea Sol (Tây Cheo Reo), buôn Yăk, Ea Yêng... lập các khu định cư mới; cày ủi lấn chiếm hàng ngàn hécta đất để mở đồn điền...

Trên địa bàn H2, địch ráo riết thực hiện kế hoạch “tràn ngập lãnh thổ”, tăng cường phản kích giành lại các vùng bị mất trước đây và từng bước lấn chiếm vùng giải phóng của ta. Hướng lấn chiếm của địch là nhằm vào vùng giải phóng đông dân, có vị trí quan trọng về quân sự và kinh tế, vùng ven quận lỵ Phú Túc và dọc các trục giao thông. Thủ đoạn của địch là lấn dần từng khu vực, gom dân từ nơi này sang nơi khác,... Trước hết, địch tập trung lực lượng phản kích khai thông giao thông dọc đường 7; tổ chức nhiều cuộc hành quân càn quét, nhất là các cuộc hành quân cảnh sát ven quận lỵ để ổn định tình hình và bảo vệ quận Phú Túc; đồng thời đẩy mạnh bình định, thanh lọc quần chúng và truy bắt cơ sở của ta nhằm kìm chặt dân trong vùng kiểm soát, ngăn ngừa và chống các cuộc nổi dậy của quần chúng ở cả nông thôn và trung tâm quận lỵ; tăng cường đưa những tên chiêu hồi, chiêu hàng vào vùng căn cứ lũng đoạn nội bộ ta, nhất là những tên người dân tộc thiểu số...

Chúng tăng cường củng cố nguỵ quân, nguỵ quyền; ráo riết bắt lính, tăng quân, bổ sung quân số cho các chiến trường; phát triển dày đặc lực lượng cảnh sát và mật vụ; ra sức củng cố bộ máy kìm kẹp ở xã, ấp, đưa một số sĩ quan các trường quân sự về tăng cường cho xã, ấp; phát triển các đảng phái, tổ chức phản động như Đảng Dân chủ, tổ chức tình báo đại chúng trong các hộ gia đình; giúp đỡ bọn FULRO tổ chức đại đội 854 do tên ác ôn khét tiếng Nay Hor chỉ huy; tăng cường cho quận Phú Túc liên đoàn bảo an cơ động 256 do tên đại uý Siu Năng chỉ huy; tung các đoàn bình định trá hình về các xã, ấp theo dõi, kìm kẹp, khống chế nhân dân; từng bước đưa dân ở các khu dồn lớn về lập các khu dồn nhỏ ở tại chỗ, đưa dân ra các vùng trắng do chúng kiểm soát...

Về chính trị, địch tập trung tuyên truyền xuyên tạc, chống phá Hiệp định Pari. Công khai tuyên bố không có hòa bình, không có ngừng bắn, không có tổng tuyển cử, không có giải pháp chính trị; không thừa nhận có hai chính quyền, hai quân đội; bắt nhân dân đi học tập cái gọi là “hiện tình đất nước”; khống chế những người trung lập và những người chúng nghi ngờ có quan hệ với cách mạng phải ký giấy “tự thú”, bắt ép những quần chúng tốt vào Đảng Dân chủ của Nguyễn Văn Thiệu và tổ chức tôn giáo phản động... nhằm ly gián quần chúng với cách mạng, gây nghi ngờ trong nội bộ ta. Chúng triệt để lợi dụng những sơ hở của ta để thực hiện chính sách chia rẽ dân tộc, chia rẽ quần chúng nhân dân với cách mạng; tăng cường thực hiện các thủ đoạn mị dân như tái thiết hậu chiến, cấp tiền bồi thường chiến tranh cho một số gia đình để lừa bịp quần chúng.

Về kinh tế, địch xúc tiến mạnh việc bao vây kinh tế vùng ta; kiểm soát, bắt bớ quần chúng đi lại mua bán muối, vải, thuốc men, lương thực,... ngăn chặn quần chúng đi lại giữa hai vùng, ngăn cấm quần chúng đi về làng cũ ở vùng giải phóng...

Về phía ta, từ sau ngày Hiệp định Pari có hiệu lực, Đảng ta đã dự kiến hai khả năng: hoặc là hòa bình được duy trì, Hiệp định được thực hiện từng bước, phong trào cách mạng miền Nam có điều kiện phát triển những bước mới; hoặc là chiến tranh sẽ tiếp tục. Đã rút về nước, quân Mỹ khó quay trở lại, và nếu có thì chỉ có thể dùng không quân, hải quân để cứu ngụy quân. Ta ra sức tranh thủ khả năng một và sẵn sàng đối phó với khả năng hai. Từ tháng 5-1973, Hội nghị Bộ Chính trị đã kịp thời nhận định tình hình mới sau mấy tháng thi hành Hiệp định Pari là: xu hướng chống phá Hiệp định của địch ngày càng tăng; ta có nhiều sơ hở, lúng túng trong đối phó với địch; thực tế ngày càng rõ tình hình phát triển theo khả năng hai, vì Mỹ không ngừng tiếp tay cho ngụy lấn chiếm và bình định, điên cuồng đánh phá cách mạng, hòng xoá bỏ vùng giải phóng, đẩy lùi lực lượng cách mạng. Và do ta có khuyết điểm và sơ hở trong chủ trương đối phó với hành động phá hoại Hiệp định Pari của địch nên đã có những tổn thất nhất định.

Từ thực tế của cuộc chiến tranh, tháng 7-1973, Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) đã ra bản Nghị quyết lịch sử “Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và nhiệm vụ của cách mạng miền Nam Việt Nam trong giai đoạn mới”. Nghị quyết xác định, trong bất kể tình huống nào, cách mạng miền Nam vẫn là con đường bạo lực cách mạng, chiến lược của cách mạng miền Nam vẫn là chiến lược tiến công. Nhiệm vụ trước mắt là đấu tranh trên cả ba mặt trận chính trị, quân sự, ngoại giao, tuỳ theo từng lúc, từng nơi mà kết hợp các mặt trận đó cho thích hợp, buộc địch thi hành Hiệp định Pari, giữ vững lực lượng cách mạng về mọi mặt, thắng địch từng bước, đưa cách mạng miền Nam tiến lên.

Thực hiện Nghị quyết 21 của Trung ương Đảng, tháng 9-1973, Tỉnh ủy Đăk Lăk tổ chức họp kiểm điểm tình hình, đấu tranh phê phán tư tưởng hữu khuynh, không nắm vững quan điểm bạo lực, để mất đất, mất dân; xác định nhiệm vụ chống bình định lấn chiếm, trọng tâm là công tác vùng địch. Từ đó đến cuối năm 1973, các lực lượng trong tỉnh đã tổ chức đánh địch 144 trận, tiêu diệt và làm bị thương gần 1.000 tên, thu giữ nhiều vũ khí; lần lượt đánh bại các cuộc càn quét, lấn chiếm của địch, cơ bản giữ vững vùng giải phóng...

Trên địa bàn H2, sau ngày Hiệp định Pari được ký kết, Huyện ủy chủ trương đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục ý nghĩa thắng lợi của Hiệp định, nghiêm chỉnh thực hiện các điều khoản của Hiệp định, giương cao khẩu hiệu “Hòa bình, đời sống, hòa giải, hòa hợp dân tộc”; đồng thời kiên quyết chống và đánh trả các cuộc phản kích, lấn chiếm của địch, giữ vững các địa bàn quan trọng và vùng căn cứ, vùng giải phóng; xây dựng và củng cố lực lượng, xây dựng và phát triển vùng ta ngày càng vững mạnh; đẩy mạnh tấn công binh vận, đấu tranh chính trị; tăng cường lãnh đạo và chuyển hướng công tác vùng địch kiểm soát cho phù hợp với tình hình mới...

Tháng 10-1973, Đảng bộ huyện tổ chức Đại hội lần thứ V tại Ia Buar xã Ia Rsai, bầu ra Ban Chấp hành Đảng bộ huyện (khóa V) gồm 15 đồng chí. Đồng chí Đỗ Hữu Bá (Ama Giao) được bầu làm Bí thư Huyện ủy, đồng chí Ama Hai giữ chức Phó bí thư Huyện ủy, kiêm Chủ tịch y ban lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam huyện.

Nghị quyết Đại hội xác định nhiệm vụ cách mạng của huyện lúc này là: đẩy mạnh đấu tranh hai chân ba mũi giáp công, lấy chân chính trị, binh tề làm chủ công; vũ trang hỗ trợ, đồng thời tranh thủ chớp thời cơ lúc có diễn biến quân sự của khu vực hoặc toàn miền, dùng lực lượng chính trị, binh tề vận xông lên giành chính quyền về tay nhân dân. Trước mắt, giữ vững vùng căn cứ, vùng giải phóng; đẩy mạnh đấu tranh vùng địch để bảo vệ vùng căn cứ; giữ vững thế hợp pháp của quần chúng là dãn dân ngủ rẫy, ngủ ấp, không ngủ hết trong ấp nhưng cũng không bỏ rẫy. Tăng cường xây dựng và củng cố các tổ chức cơ sở Đảng vững mạnh; khẩn trương xây dựng thực lực chính trị, lực lượng vũ trang; đồng thời đẩy mạnh xây dựng mặt trận đoàn kết toàn dân, củng cố chính quyền cách mạng từ huyện đến xã, bầu ra Hội đồng nhân dân huyện, củng cố cốt cán cơ sở là người dân tộc tại chỗ. Đẩy mạnh phát triển sản xuất, thực hiện tốt các phong trào chăn nuôi, trồng trọt, tự túc lương thực, thực phẩm; cứu đói, cứu đau; chú trọng mở các lớp học văn hóa, học tiếng Jrai, đào tạo cán bộ tại chỗ; phát triển các phong trào văn hóa văn nghệ ở các buôn làng; thành lập các Ban an ninh vũ trang, trại cải tạo và dạy nghề; xây dựng huyện trở thành hậu phương trực tiếp quan trọng trong kháng chiến đối với chiến trường Đăk Lăk...

Với sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời và đúng đắn của Đảng bộ huyện, phong trào đấu tranh cách mạng trên địa bàn được giữ vững và từng bước phát triển. Các lực lượng vũ trang của huyện liên tục tổ chức bám địa bàn đánh địch phản kích giải toả giao thông và lấn chiếm, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giữ vững vùng giải phóng. Trong những tháng cuối 1973, các lực lượng vũ trang của huyện phối hợp với lực lượng của tỉnh liên tục tấn công địch, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 150 tên, bắt sống 27 tên, thu 43 súng các loại... Đến năm 1974, ta đã từng bước đánh bật địch ra khỏi các vị trí mới lấn chiếm, tiếp tục mở rộng vùng làm chủ, đẩy địch co về phòng thủ các cứ điểm, hình thành thế bao vây cô lập quận Phú Túc, cắt đứt đường giao thông xuống Phú Yên trong nhiều ngày. Các lực lượng của ta càng đánh càng trưởng thành và phát triển. Lực lượng quân sự của huyện được tăng cường 1 trung đội; 6 xã vùng căn cứ đều có tiểu đội du kích và Ban an ninh xã; trong các ấp vùng địch, cứ mỗi ấp có khoảng 30 du kích mật, 20 đồng chí cơ sở an ninh bám trụ hoạt động. Để đẩy mạnh công tác trong vùng địch, huyện đã tập trung bổ sung quân số và bồi dưỡng nghiệp vụ cho các đội công tác; đưa cán bộ các đội công tác đi đào tạo dài ngày ở tỉnh, ở phân khu. Sau khi hoàn thành khóa huấn luyện, các chiến sĩ và cán bộ 6 đội công tác của huyện đã về bám trụ phục hồi cơ sở cũ và tổ chức cơ sở mới đông, mạnh hơn trước... Nhờ đó, phong trào của ta trong vùng địch được đẩy mạnh.

Kết hợp với các hoạt động bố phòng, nhân dân ở vùng giải phóng và vùng tranh chấp liên tục đấu tranh chống địch càn quét lấn chiếm, chống cướp bóc hoa màu, tài sản, chống gom xúc dân... Nhân dân ở các vùng địch kiểm soát, trong các khu dồn, ấp chiến lược đấu tranh đòi tự do dân chủ, buôn bán, làm ăn; tự do đi lại giữa hai vùng; đòi trở về làng cũ; chống bắt lính, chống phát súng với khẩu hiệu “Hòa bình rồi phải trả chồng con về, không đi lính, không nhận súng...”. Đồng bào nhiều nơi đã tổ chức cho thanh niên và lính đào ngũ trốn ở rừng, thiếu nhi lo liên lạc báo tin, gia đình lo tiếp tế, hình thành phong trào chống bắt lính ở thôn ấp được quần chúng tiếp tế che chở, binh lính và tề đồng tình. Ở nhiều khu dồn, ấp chiến lược, nhân dân đã đi lại thăm nương rẫy, ruộng vườn cũ; trải ra sản xuất; lẻ tẻ bỏ khu dồn trở về vùng ta. Ở một số nơi địch đóng chốt, quần chúng đấu tranh chống địch thành lập bộ máy kìm kẹp, giành quyền làm chủ ...

Công tác binh tề vận được quan tâm đẩy mạnh và đã thu được nhiều kết quả quan trọng. Ta đã tổ chức phát hàng trăm bản Hiệp định và hàng ngàn tờ rơi trích một số điều khoản chủ yếu, thông báo chung, thông báo cuối cùng của Hội nghị vào vùng địch. Tăng cường tuyên truyền rộng rãi chủ trương hòa bình, hòa hợp dân tộc của ta trong binh lính ngụy; tổ chức nhiều cuộc tiếp xúc với nhiều đơn vị bảo an, dân vệ và tề ấp... Kết quả, nhiều binh lính ngụy, nhất là dân vệ và tề ấp đã tỏ thái độ hoan nghênh và đồng tình với chính sách của ta, tán thành hòa bình, hòa hợp dân tộc; một bộ phận binh lính bỏ ngũ về với gia đình; một số binh sĩ làm theo sự hướng dẫn của cán bộ ta, không chấp hành mệnh lệnh kìm kẹp nhân dân của bọn ác ôn, để dân đi lại làm ăn, quan hệ buôn bán giữa hai vùng, để dân đi lại tiếp xúc với cán bộ ta, có nơi một số tề và dân vệ đã đồng tình và giúp đỡ nhân dân bỏ khu dồn trốn về làng cũ làm ăn sinh sống ... Các cơ sở của ta ở vùng địch ngày càng được mở rộng, việc nắm lính, nắm tề, nắm dân thuận lợi hơn. Các phong trào diệt ác, phá kìm, giành quyền làm chủ phát triển trên diện rộng.

Ở vùng căn cứ, vùng giải phóng, bên cạnh việc tổ chức chống địch càn quét đánh phá, ta tập trung lực lượng đẩy mạnh tăng gia sản xuất, cứu đói, cứu đau, mở rộng thông thương buôn bán giữa hai vùng, xây dựng và củng cố tuyến hành lang chiến lược của tỉnh. Bước đầu ta đã cơ bản giải quyết được tình trạng thiếu lương thực, thiếu muối kéo dài; đời sống của nhân dân dần dần được ổn định. Các phong trào văn hóa, văn nghệ, học chữ, học tiếng dân tộc diễn ra sôi nổi ở các thôn làng. Hệ thống chính quyền cách mạng từ huyện đến xã được củng cố một bước, tạo điều kiện quan trọng cho việc xây dựng và củng cố vùng căn cứ của ta ngày càng vững mạnh, góp phần huy động nhân lực, vật lực ngày càng nhiều cho cách mạng.

Trong năm 1974, trên chiến trường miền Nam, các lực lượng ta chuyển mạnh sang thế chủ động chiến lược, đánh nhiều trận tiêu diệt quân chủ lực ngụy, đập tan hầu hết các cuộc hành quân lấn chiếm, mở rộng vùng giải phóng. Vào giữa năm 1974, quân và dân ta đã giải phóng và giữ được hàng chục chi khu quận lỵ mà ngụy quyền Sài Gòn không có khả năng lấy lại được. Hiện tượng đó phản ánh thế và lực của ta đã mạnh hơn hẳn kẻ thù, mở ra thời cơ giải phóng miền Nam.

Tháng 7-1974, đồng chí Bí thư thứ nhất Lê Duẩn trực tiếp cùng Bộ Tổng tham mưu khởi thảo kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam. Tiếp đó, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương cùng các đồng chí chủ chốt các chiến trường hai lần họp hội nghị, thống nhất quyết tâm chiến lược và thông qua kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam.

Về quyết tâm chiến lược, ta hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong thời gian hai năm 1975-1976. Về kế hoạch chiến lược, ta xác định mục tiêu trong năm 1975 là làm cho lực lượng ta lớn mạnh vượt bậc, mở nhiều đợt tiến công và nổi dậy làm cho lực lượng địch suy yếu nhanh chóng, tạo điều kiện chín muồi để tổng công kích - tổng khởi nghĩa trong năm 1976; mục tiêu trong năm 1976 là phát động tổng công kích - tổng khởi nghĩa, đánh lớn, đánh nhanh, diệt từng sư đoàn địch, đánh Sài Gòn là chỗ hiểm yếu nhất, giành thắng lợi cuối cùng.

Ngoài kế hoạch cơ bản trên, ta còn dự kiến một phương án nữa: Nếu thời cơ đến thì lập tức giải phóng miền Nam trong năm 1975.

Về hướng trọng điểm và trận mở đầu của kế hoạch chiến lược, sau khi thống nhất trong Hội nghị, Bộ Chính trị kết luận: Khu vực có đủ điều kiện chọn và hạ quyết tâm là nam Tây Nguyên. Đây là hướng chủ yếu mở đầu của kế hoạch chiến lược tổng tiến công và nổi dậy.

Việc chọn Tây Nguyên là hướng trọng điểm mở đầu, Buôn Ma Thuột làm mục tiêu chủ yếu của chiến dịch Tây Nguyên năm 1975 có ý nghĩa chiến lược hết sức quan trọng, bởi Tây Nguyên nói chung là địa bàn quan trọng của cả địch và ta, Buôn Ma Thuột là điểm chốt mà địch bố trí lực lượng mạnh trong chiến lược phòng ngự từ xa bảo vệ Sài Gòn và sườn của các thành thị ven biển miền Trung. Ta bất ngờ đánh chiếm Buôn Ma Thuột sẽ làm đảo lộn hệ thống phòng thủ chiến lược của địch ở Tây Nguyên, tiêu diệt được nhiều sinh lực địch. Giải phóng Tây Nguyên sẽ tạo được hành lang an toàn, thuận lợi về mọi mặt cho cuộc tổng tiến công vào Sài Gòn, giải phóng hòan toàn miền Nam.

Tiếp thu chủ trương của Trung ương Đảng, Thường vụ Khu ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu V đã tổ chức Hội nghị truyền đạt nội dung của Hội nghị Bộ Chính trị, bàn kế hoạch thực hiện và phân công các đồng chí đi truyền đạt, bàn kế hoạch với các tỉnh.

Đầu tháng 2-1975, đồng chí Bùi San, đại diện Thường vụ Khu ủy và Bộ Tư lệnh Mặt trận Tây Nguyên họp với đồng chí Huỳnh Văn Cần, Bí thư Tỉnh ủy Đăk Lăk và các đồng chí Siu Pui (Ama Thương), Yblok Êban ... bàn kế hoạch phối hợp tiến công và nổi dậy ở chiến trường Buôn Ma Thuột và trong toàn tỉnh. Để chuẩn bị lực lượng chính trị phối hợp với tiến công của quân chủ lực ở thị xã; tháng 2-1975, Tỉnh ủy Đăk Lăk đã lựa chọn trên 80 cán bộ, chiến sĩ ở các ban ngành, các đơn vị trong tỉnh tổ chức tập huấn phương pháp công tác; hình thành các đội chính trị lo phát động quần chúng; các tổ công tác an ninh lo truy quét ác ôn tề điệp; các bộ phận lo tiếp quản các cơ sở kinh tế, lo xây dựng chính quyền... để chuẩn bị đưa vào thị xã hoạt động. Tỉnh ủy cũng đã bàn kế hoạch tiếp quản thị xã khi được giải phóng, dự kiến các tình huống có thể xảy ra và chuẩn bị nhân sự thành lập ủy ban quân quản ở thị xã.

Đồng chí Siu Pui (Ama Thương) được phân công ra các huyện phía bắc: H4, H3, H7 và H2 quán triệt chủ trương của Trung ương, Khu ủy V về tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975 ở tỉnh Đăk Lăk; bàn kế hoạch chuẩn bị thực lực các mặt: hậu cần, tổ chức lực lượng nhân dân và quân sự tấn công các mục tiêu của từng huyện...

Trên địa bàn huyện H2, sau khi triển khai quán triệt kế hoạch tổng tiến công và nổi dậy của Khu ủy và của Tỉnh ủy Đăk Lăk, Huyện ủy H2 đã tập trung chỉ đạo các lực lượng xây dựng kế hoạch, chuẩn bị về mọi mặt để phối hợp với bộ đội tỉnh và quân chủ lực tổng tiến công và nổi dậy giải phóng toàn huyện. Công tác chuẩn bị của huyện trong những ngày này hết sức khẩn trương và sôi nổi. Các lực lượng vũ trang tăng cường bổ sung quân số và vũ khí, bám sát chiến trường. Các đội công tác, du kích mật, cán bộ, cơ sở của ta trong vùng địch và vùng tiếp giáp được giao trọng trách ngày đêm bám địa bàn, đẩy mạnh ba mũi giáp công, kìm chân, tiêu hao, tiêu diệt địch, ngăn cách địch, giữ gìn bí mật an toàn cho các lực lượng triển khai kế hoạch tiến công; đồng thời ra sức củng cố thực lực cách mạng bên trong, tạo thế cho quần chúng trong vùng địch sẵn sàng nổi dậy phá ấp, phá kìm, giành quyền làm chủ... Ở vùng căn cứ, vùng giải phóng ta khẩn trương thu hoạch vụ mùa, chuẩn bị hậu cần tại chỗ, xây dựng kho tàng, bến bãi, trạm cứu thương, hầm trú ẩn cho nhân dân, huy động dân công mở đường, thồ tải lương thực, đạn dược, thuốc men phục vụ yêu cầu của chiến trường... Công tác huy động đóng góp lương thực, thực phẩm, nhân công cho chiến dịch được đẩy mạnh; các hành lang được củng cố lại phục vụ chiến trường.

Để tăng cường lực lượng đánh địch trên địa bàn, Tỉnh ủy Đăk Lăk điều đại đội đặc công 303 cùng bộ phận chỉ huy tiền phương của tỉnh do đồng chí Ama Thương (Siu Pui), Phó Bí thư Tỉnh ủy trực tiếp chỉ đạo, sử dụng toàn bộ lực lượng khu vực quanh Cheo Reo phối hợp với chiến trường tiến công tiêu diệt địch.

Sau hàng loạt các động thái nghi binh, địch nghĩ rằng ta chỉ có thể đánh bắc Tây Nguyên, ngày 4-3-1975, Chiến dịch Tây Nguyên mở màn. Sáng ngày 5-3-1975, Trung đoàn 25 cắt đường 21. Ngày 8-3, Trung đoàn 48 đánh chiếm quận lỵ Thuần Mẫn và căn cứ Cẩm Ga, cắt đứt đường 14, diệt 1 tiểu đoàn bảo an, bắt 120 tên địch, thu 200 súng... Hai cứ điểm quan trọng của địch trên địa bàn bị tiêu diệt đã làm cho bọn địch còn lại trên địa bàn hoang mang lo sợ, co về phòng thủ, các chốt gác của bảo an, dân vệ bị tê liệt, tạo điều kiện thuận lợi cho các lực lượng của huyện đột nhập vào các khu, ấp tiêu diệt địch và phát động quần chúng nổi dậy giải phóng nhiều khu ấp xung quanh quận lỵ và đường 7. Từ ngày 7 đến ngày 12-3-1975, các khu dồn và cứ điểm từ cầu Plôk, ấp chiến lược Đê Plôk, A Tăng đến phía tây cầu Ayun, trừ quận lỵ Phú Thiện trên đường 7, và từ đông cầu Ayun tiếp giáp với khu căn cứ trên đường 7 bis, quân ta liên tục vây ép đánh tan rã các lực lượng địch, thu 850 súng các loại, diệt 82 tên địch, xoá bỏ bộ máy kìm kẹp, giải phóng được 27 ấp với trên 22.000 dân, trong đó có 7 ấp dân tự đứng lên bắt tề, thu vũ khí của phòng vệ dân sự, tự giải phóng, đón tiếp cán bộ ta về tiếp quản. Đến ngày 13-3-1975, các ấp chiến lược, các khu dồn ven đường quốc lộ và vùng nông thôn H2 được hoàn toàn giải phóng, ta vây ép quận lỵ Phú Túc.

Trên chiến trường chính, đúng 2 giờ 30 phút ngày 10-3-1975, quân ta nổ súng tấn công vào thị xã Buôn Ma Thuột đánh vào khu Mai Hắc Đế, sân bay Hòa Bình. Đến 10 giờ 30 phút ngày 11-3-1975, quân ta đã làm chủ nhiều mục tiêu trong thị xã Buôn Ma Thuột. Ngày 12 và 13-3-1975, địch đưa trung đoàn 45, liên đoàn biệt động 21, trung đoàn 44 và một số đơn vị khác đến đường 21 và Phước An với mưu đồ lập phòng tuyến trên đường 21 để phản kích đánh chiếm lại Buôn Ma Thuột. Nhưng tất cả các lực lượng ngụy đưa đi cứu viện, giải toả đều bị ta đánh tan tác.

Trên địa bàn H2, Huyện ủy giao cho đồng chí Nay Hùng (Ama Tuyết), Huyện đội trưởng trực tiếp chỉ huy lực lượng của huyện chốt giữ và khống chế địch tại Kà Lúi, đánh chiếm đoạn cầu 73 (cầu Tơ Loah) và đoạn trên Kà Lúi, kìm chặt địch ở quận Phú Túc. Tối ngày 13-3-1975, lực lượng huyện và đại đội 303 của tỉnh tấn công vào yếu khu Tơ Loah và toàn bộ khu ấp Đức Hưng, Đức An, Đức Lập, đồng thời dùng súng cối đánh vào quận Phú Túc, điểm chốt Chư Ngâk đánh tan 1 đại đội bảo an và 2 trung đội nghĩa quân. Địch ở Chư Ngâk rút chạy, ta giải phóng trên 4000 dân. Các đội công tác của huyện đẩy mạnh phát động quần chúng công khai chống địch, làm đại bộ phận các đơn vị nghĩa quân, dân vệ, phòng vệ bỏ chạy ra khỏi ấp, khỏi đồn. Các gia đình binh sĩ, kể cả người Kinh và dân tộc thiểu số đều sẵn sàng nổi dậy để chạy về làng cũ, dạt ra rẫy, xuống đồng bằng... làm cho tinh thần quân ngụy ở Phú Túc rệu rã, liên đoàn bảo an 256 tan rã...

Sau thất bại chiến lược ở Buôn Ma Thuột, các đường chiến lược quân sự 14, 19, 21 bị cắt đứt, thị xã Pleiku và Kon Tum bị uy hiếp nghiêm trọng. Để tránh bị tiêu diệt, ngày 14-3-1975, Tổng thống nguỵ quyền Nguyễn Văn Thiệu quyết định rút bỏ Tây Nguyên, co về giữ đồng bằng. Ý định của địch là tháo chạy theo các đường 21, 19, 14, nhưng vì ta chiếm giữ, địch buộc phải rút xuống theo đường số 7 đi Cheo Reo xuống Tuy Hòa. Lực lượng địch rút chạy theo đường 7 khoảng 15.000 tên.

Cuộc rút chạy của địch không ngoài dự kiến của ta. Tối ngày 16-3-1975, đồng chí Văn Tiến Dũng chỉ thị cho Bộ Tư lệnh chiến dịch: “Địch đã rút chạy theo đường số 7, tổ chức truy kích ngay”. Bộ Tư lệnh chiến dịch nhanh chóng điều động sư đoàn 320, các trung đoàn bộ binh chủ lực, tiểu đoàn xe tăng, trung đoàn pháo cao xạ, trung đoàn pháo binh và toàn bộ lực lượng bộ đội, du kích các huyện dọc đường 7, trong đó có huyện H2 vào trận truy kích, đánh địch rút chạy.

Ngày 15-3-1975, địch đưa 2 liên đoàn biệt động và một thiết đoàn về giữ Cheo Reo để bảo vệ quân rút lui; điều một liên đoàn biệt động và công binh đi trước mở đường và sửa chữa cầu cống. Ngày 16-3-1975, địch bắt đầu rút khỏi Pleiku và Kon Tum. Việc địch rút bỏ Tây Nguyên một cách vội vã làm cho hàng ngũ của chúng vô cùng hỗn loạn. Trên đường từ Pleiku đến Cheo Reo, đường xá tắc nghẽn, xe cộ chạy hàng ba, hàng tư tranh nhau vượt đường. Gần 2 vạn dân ở Pleiku, Kon Tum di tản chen lấn nhau gây ra cảnh hỗn loạn trên suốt dọc đường 14 và đường 7.

Sau khi bố trí xong lực lượng ở các điểm tập kết, ngày 17-3-1975, pháo binh ta bắn vào thị xã Hậu Bổn. Ngày 18-3, ta tiến đánh tiêu diệt cơ quan hành chính tỉnh, tiểu khu Phú Bổn và một bộ phận của Quân đoàn 2 ngụy và giải phóng thị xã Hậu Bổn. Cùng ngày, ta tổ chức truy kích đánh địch ở đèo Tô Na (Đông Cheo Reo); cầu Ơi Nu (cầu Lệ Bắc) bị sập, quân địch lớp chết, lớp bị thương, lớp bị bắt, bỏ chạy tán loạn vào rừng tìm đường chạy trốn, bỏ lại hàng trăm xe quân sự nằm ngổn ngang trên đường; bọn chỉ huy đầu sỏ của cuộc rút quân phải bỏ rơi đồng bọn, dùng máy bay lên thẳng thóat thân.

Ở H2, khi quân nguỵ ở Gia Lai và Kon Tum rút chạy qua địa bàn, đã làm cho tinh thần quân địch hoang mang cực độ, một phận đã tháo chạy ngay cùng đoàn xe mở đường rút lui đầu tiên của địch. Đến trưa 17-3-1975, hầu hết quân địch ở Phú Túc đã tự tan rã, số binh sĩ người địa phương chạy về với gia đình ở buôn làng, số còn lại rút chạy về hướng Tuy Hòa. Ngay trong các ngày 15 đến 17-3-1975, các đội công tác đã vào bám các khu dồn còn lại, tuyên truyền vận động nhân dân phá khu dồn, đồng thời kêu gọi số binh lính còn lại đầu hàng. Đêm 17-3 đến 18-3-1975, đồng chí Đỗ Hữu Bá, Bí thư Huyện ủy cùng đồng chí Hiệu, huyện đội phó, chốt tại lô cốt huyện lỵ Phú Túc chỉ đạo lực lượng chặn đánh số quân địch rút chạy qua địa bàn, nhất là ở các khu vực cầu Lệ Bắc, Cầu Đôi, dốc Đỏ và cầu Tơ Loah... làm cho bọn địch hoảng loạn, số bị tiêu diệt, số đầu hàng, số tìm đường bỏ chạy thoát thân, ta diệt 2 xe tăng và thu rất nhiều chiến lợi phẩm. Ngày 18-3-1975, lực lượng của huyện gồm bộ đội, các đội công tác, cán bộ được tỉnh tăng cường đã vào tiếp quản thị trấn Phú Túc. Sáng ngày 19-3-1975, ta phát hiện và đưa về gần 100 trẻ em từ 6-10 tuổi bị lạc trong rừng về giao cho đồng bào nuôi dưỡng

Ngày 21-3-1975, với khí thế thắng lợi như chẻ tre, kết hợp với bộ đội chủ lực và bộ đội tỉnh, quân và dân huyện H2 tiếp tục truy kích tiến công tiêu diệt địch ở Kà Lúi, giải phóng hòan toàn huyện H2.

Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy này, các lực lượng H2 đã làm tan rã hoàn toàn bộ máy hành chính quận, bộ máy an ninh và quân sự, gồm: 1 chi khu, 7 phân chi khu; xóa sổ bọn tề điệp nổi, ngầm, các ban đại diện, ban điều hành, 78 ấp trưởng, ấp phó, 2 trung đội xây dựng nông thôn áo đen; đánh tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn 4 đại đội thuộc liên đoàn bảo an, 2 đại đội độc lập 99 và 884, 22 trung đội dân vệ, 78 trung đội phòng vệ dân sự, phá hủy 3 khẩu pháo 105mm, bắn cháy 2 xe tăng, thu toàn bộ vũ khí của phòng vệ dân sự và bảo an; giải phóng toàn bộ hệ thống ấp chiến lược và khu dồn xung quanh quận lỵ, dọc đường 7 lên cầu Ơi Nu gồm 78 buôn và 7 khu ấp...

Trong niềm hân hoan chiến thắng, ngày 23-3-1975, Đảng bộ, quân và dân H2 tổ chức mít tinh trọng thể tại sân bay Phú Túc với trên 3000 người tham gia. Tại buổi lễ, ta tuyên bố xoá bỏ toàn bộ chính quyền, quân đội Sài Gòn; thành lập Ban quân quản của huyện do đồng chí Ama Hai làm Chủ tịch, đồng chí Đoàn Hẵng làm Chính trị viên, đồng chí Nay Hùng (Ama Tuyết) làm Huyện đội trưởng, đồng chí Hồ Chí Kiên làm Trưởng Ban an ninh huyện. Cùng với Ban quân quản, Trưởng Ban quản lý lúc này do đồng chí Đỗ Hữu Bá (Ama Giao), Bí thư Huyện ủy phụ trách chung các mặt để ổn định tình hình tư tưởng trong nhân dân, giải quyết các vấn đề về đời sống, kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của huyện sau ngày giải phóng.

Sau khi tiếp quản Phú Túc, Đảng bộ huyện tập trung chỉ đạo các lực lượng triển khai ngay một số nhiệm vụ quan trọng cấp bách:

- Tiếp tục tổ chức truy kích tàn quân địch chống đối; tuyên truyền, vận động, kêu gọi binh lính địch đang lẩn trốn ra trình diện để nhận được sự khoan hồng của cách mạng. Nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, đấu tranh đập tan âm mưu phá hoại chính quyền cách mạng của tổ chức phản động Fulro và các thế lực thù địch khác.

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền phát động quần chúng không chạy theo địch; đấu tranh tố giác bọn phản cách mạng đang ngoan cố chống đối; tham gia các hoạt động cách mạng, ổn định đời sống, phát triển sản xuất. Khẩn trương thu dọn chiến trường; tập trung lương thực, thực phẩm cứu đau, cứu đói cho nhân dân; phát huy tinh thần tương thân tương ái giúp đỡ đồng bào bị hoạn nạn. Tiếp đón và đưa đồng bào di tản về lại Pleiku và Kon Tum.

- Tập trung xây dựng và củng cố vững chắc chính quyền cách mạng; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, chống kỳ thị, phân biệt, đối xử; nhanh chóng ổn định tình hình.

Thực hiện chủ trương trên, Huyện ủy và y ban Quân quản phân công các đồng chí trong Ban Thường vụ, cấp ủy và các ban, ngành, lực lượng vũ trang bám sát địa bàn và dựa vào dân để triển khai các mặt công tác... Ta chủ trương để gạo, sắn lát ở dọc đường, viết giấy để lại nội dung: Binh lính hãy trở về, cách mạng không giết, cầm giấy gặp bộ đội sẽ được khoan hồng... Kết quả có rất nhiều binh lính nguỵ cầm giấy ra hàng. Trong quá trình di tản, trên 2 vạn dân ở Pleiku và Kon Tum còn dồn lại trên địa bàn huyện đã được y ban Quân quản, bộ đội và nhân dân giúp đỡ lương thực, thuốc men và bố trí cho phương tiện trở về quê cũ. Hàng trăm trẻ em lạc cha mẹ được đồng bào, cán bộ, chiến sĩ ta gom lại và chăm sóc chu đáo, nhiều gia đình đồng bào dân tộc mặc dù đời sống còn nhiều khó khăn, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc nhưng với lòng nhân hậu, tình thương yêu đồng loại đã giang tay nhận nuôi dưỡng các cháu, xem các cháu như con ruột của mình...

Qua 21 năm kháng chiến chống Mỹ, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, chịu nhiều hy sinh, tổn thất, Đảng bộ, quân dân các dân tộc huyện H2 càng chiến đấu càng trưởng thành, từng bước phát huy được sức mạnh tổng hợp, nâng dần thế chủ động tiến công địch bằng hai chân ba mũi giáp công trên khắp địa bàn; thực hiện tốt việc kết hợp tiêu hao, tiêu diệt địch với phát động quần chúng phá kìm, phá ấp chiến lược; mở rộng và xây dựng vùng căn cứ, vùng giải phóng vững chắc, đảm bảo cho tuyến hành lang Đông - Tây của tỉnh hoạt động thông suốt; lần lượt đánh bại các chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ trên địa bàn.



* * *

Huyện Đông Cheo Reo trong chống Pháp và H2 trong chống Mỹ là một trong những địa bàn chiến lược ở Tây Nguyên, nơi diễn ra sự tranh chấp quyết liệt giữa ta và địch trong chiến tranh từ 1946 đến 1975. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Đảng bộ huyện, quân dân các dân tộc H2 đã đoàn kết một lòng, kiên cường bám trụ, vận dụng sáng tạo đường lối cách mạng của Đảng, phát huy sức mạnh chiến tranh nhân dân, địa hình núi rừng hiểm trở, luôn bảo tồn được lực lượng và giữ thế liên tục tiến công địch đến thắng lợi cuối cùng.



Sự lãnh đạo của Đảng bộ H2 và phong trào đấu tranh cách mạng sôi động của quân dân các dân tộc với những chiến công vang dội trong những năm tháng kháng chiến đã để lại những bài học kinh nghiệm lịch sử, đó là:

Phải luôn quan tâm tổ chức, xây dựng thực lực chính trị cách mạng. Tổ chức Đảng và Đảng bộ ra đời sau Cách mạng Tháng Tám 1945, nhưng nhanh chóng trưởng thành do đã xây dựng được cơ sở chính trị, trước hết là cán bộ cốt cán trong các làng đồng bào dân tộc thiểu số, từ đó mở rộng cơ sở Đảng, phát động phong trào kháng chiến trên khắp địa bàn. Thực lực chính trị thể hiện qua sự lớn mạnh của tổ chức Đảng, các đoàn thể quần chúng và phong trào cách mạng sâu rộng của nhân dân các dân tộc. Bằng thực lực chính trị vững mạnh, thường xuyên được củng cố, Đảng bộ huyện H2 đã lãnh đạo phong trào cách mạng vượt qua mọi khó khăn, thử thách, khủng bố của địch, vừa bảo tồn được lực lượng, vừa đấu tranh chính trị, vũ trang kết hợp để tiêu diệt địch, tạo thế và lực đưa phong trào đi đến thắng lợi cuối cùng.

Phát huy tinh thần tự lực tự cường, xây dựng căn cứ địa để giữ thế phát triển liên tục của phong trào cách mạng toàn vùng. H2 là địa bàn núi rừng hiểm trở, tiếp giáp với các huyện của các tỉnh Phú Yên, Gia Lai và các huyện phía bắc của tỉnh Đăk Lăk, nơi địch bao vây đánh phá khốc liệt, đồng thời cũng là nơi ta xây dựng bàn đạp phát triển phong trào vào nam Tây Nguyên. Nhận thức rõ vai trò và đặc điểm của địa bàn huyện, trong hai cuộc kháng chiến, được sự chỉ đạo, giúp đỡ của tỉnh Đăk Lăk và Khu ủy, Đảng bộ và nhân dân Đông Cheo Reo cũng như H2 xác định rõ nhiệm vu, tích cực chủ động xây dựng lực lượng chính trị, vũ trang trên cơ sở tự lực tự cường, từng bước đưa phong trào kháng chiến phát triển toàn diện. Đi đôi với xây dựng thực lực cách mạng, Đảng bộ H2 luôn chú trọng xây dựng căn cứ địa của huyện cùng với căn cứ của tỉnh Đăk Lăk thành hậu phương trực tiếp đảm bảo thế phát triển vững chắc của phong trào. Trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và Mỹ, các vùng căn cứ lõm của vùng Đông Cheo Reo và H2 đã trở thành chỗ dựa cho phong trào cách mạng toàn huyện. Trong vùng căn cứ, phong trào tăng gia lao động sản xuất tự túc lương thực được phát động trong cán bộ, chiến sỹ và nhân dân, cùng với các phong trào khác như xây dựng lực lượng vũ trang, đóng góp sức người, sức của cho cách mạng tạo ra thế và lực cho phong trào chung liên tục phát triển. Nhờ giữ vững được căn cứ hậu phương trong suốt những năm chiến tranh, hành lang của huyện, tỉnh và Trung ương luôn thông suốt, cán bộ, bộ đội và nhân dân ở phía trước được tiếp sức, cung cấp lương thực, vũ khí đánh địch, vượt qua những thời điểm khốc liệt của chiến tranh, giữ vững phong trào.

Quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ làm nòng cốt phong trào cách mạng của Đảng bộ. Do đặc điểm là địa bàn chiến lược của ta nên địch tập trung đánh phá quyết liệt trong hai cuộc kháng chiến, Đảng bộ luôn quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ Đảng, chính quyền, đoàn thể và lực lượng vũ trang làm nòng cốt từ huyện đến buôn làng, chú trọng cán bộ người dân tộc địa phương. Với đội ngũ cán bộ trưởng thành trong chiến tranh cách mạng, trung thành với sự nghiệp của Đảng, dám xả thân vì độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc, thương yêu đồng chí, đồng bào, Đảng bộ H2 đã vượt qua mọi gian nan thử thách, từng bước trưởng thành, xứng đáng với vai trò lãnh đạo và niềm tin của nhân dân các dân tộc địa phương.

Trải qua gần 30 năm chiến tranh từ 1946 đến 1975, Đảng bộ H2 luôn có những bước trưởng thành, không ngừng lớn mạnh, đã đi từ không đến có, từ ít đến nhiều, từ yếu đến mạnh. Trong cuộc đấu tranh quyết liệt với kẻ thù, nhiều cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trung kiên đã kề vai sát cánh với đồng bào các dân tộc huyện H2 bám trụ chiến đấu quên mình vì nước, vì dân. Tinh thần chiến đấu và sự hy sinh cao cả của cán bộ, chiến sĩ, nhân dân H2 trong những năm chiến tranh và những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn lãnh đạo của Đảng bộ là những giá trị truyền thống tạo động lực mới cho công cuộc xây dựng quê hương trong những năm hòa bình, thống nhất.




: Files
Files -> Sạt-đe rằng: Nầy là lời phán của Đấng có bảy vì thần Đức Chúa Trời và bảy ngôi sao
Files -> HƯỚng dẫn càI ĐẶt và SỬ DỤng phần mềm tạo bài giảng e-learning
Files -> VIỆn chăn nuôi trịnh hồng sơn khả NĂng sản xuất và giá trị giống của dòng lợN ĐỰc vcn03 luậN Án tiến sĩ NÔng nghiệp hà NỘI 2014
Files -> ĐẠi học quốc gia hà NỘi trưỜng đẠi học khoa học tự nhiên nguyễn Thị Hương XÂy dựng quy trình quản lý CÁc công trìNH
Files -> PHỤ LỤC 2 TỔng hợp danh mục tài liệu tham khảO
Files -> BÁo cáo quy hoạch vùng sản xuất vải an toàn tỉnh bắc giang đẾn năM 2020 (Thuộc dự án nâng cao chất lượng, an toàn sản phẩm nông nghiệp và phát triển chương trình khí sinh học ) Cơ quan chủ trì
Files -> BỘ TÀi nguyên và MÔi trưỜng
Files -> 1. Mục tiêu đào tạo: Mục tiêu chung


1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   14


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương