Ban chấp hành đẢng bộ huyện krông pa tỉnh gia lai lịch sử ĐẢng bỘ


Đấu tranh chống âm mưu gom dân lập ấp chiến lược của địch



tải về 1.87 Mb.
trang5/14
Chuyển đổi dữ liệu13.06.2018
Kích1.87 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14

1. Đấu tranh chống âm mưu gom dân lập ấp chiến lược của địch

Sự lớn mạnh của phong trào Đồng khởi toàn miền đã đưa cách mạng miền Nam chuyển từ giữ gìn lực lượng sang tấn công địch, từ khởi nghĩa từng phần chuyển sang chiến tranh cách mạng. Thất bại trong chính sách “tố cộng, diệt cộng”, đế quốc Mỹ buộc phải chuyển sang chiến lược “Chiến tranh đặc biệt” để đối phó với phong trào cách mạng miền Nam.

“Chiến tranh đặc biệt” là hình thức đặc thù của chủ nghĩa thực dân mới, nằm trong chiến lược toàn cầu “phản ứng linh hoạt” của đế quốc Mỹ, còn gọi là “Chiến tranh chống lật đổ”. Để tiến hành chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”, Mỹ sử dụng lực lượng nguỵ quân, nguỵ quyền làm công cụ chủ yếu, tổ chức trang bị vũ khí, phương tiện, huấn luyện và nuôi dưỡng nhằm chống phá phong trào cách mạng miền Nam đang phát triển mạnh mẽ và cứu vãn nguy cơ sụp đổ của chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm.

Để triển khai “Chiến tranh đặc biệt”, kế hoạch Stalây-Taylo được thực hiện với ba biện pháp chiến lược: Tăng cường lực lượng quân nguỵ và phương tiện chiến tranh do cố vấn Mỹ chỉ huy. Tiến hành càn quét, bình định, gom dân lập ấp chiến lược trên quy mô lớn nhằm tách dân ra khỏi cách mạng và dập tắt phong trào cách mạng ở nông thôn. Phong tỏa, đánh phá vùng biên giới, hải đảo và miền Bắc, cắt đứt sự chi viện của hậu phương với tiền tuyến. Kế hoạch được triển khai thực hiện trong vòng 18 tháng.

Trên địa bàn Đăk Lăk và huyện A10, Mỹ-ngụy tăng cường bắt lính, phát triển lực lượng quân nguỵ trên các chiến trường, củng cố và xây dựng đồn Ơi Nu, Mlah, Hoanh Châm, cài cắm quân tại các chốt để kiểm soát sự qua lại của dân chúng trên đường 7. Lập các trung tâm huấn luyện biệt kích, củng cố các sân bay Buôn Ma Thuột, Cheo Reo, sân bay dã chiến ở MĐrak, Buôn Đôn, Đức Lập... mở các cuộc hành quân càn quét vùng căn cứ, vùng giải phóng... nhằm đánh phá phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân ta.

Ngày 24-1-1961, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) ra Chỉ thị về phương hướng, nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miền Nam, nhận định tình hình sau Đồng khởi: “Thời kỳ tạm ổn định của chế độ Mỹ-Diệm đã qua và thời kỳ khủng hoảng liên tiếp, suy sụp nghiêm trọng đã bắt đầu”1; đồng thời xác định phương hướng chiến lược cách mạng miền Nam là: “Tiến lên tổng khởi nghĩa với những đặc điểm mới...cuộc tổng công kích, tổng khởi nghĩa của nhân dân sẽ bùng nổ để lật đổ chính quyền Mỹ-Diệm, giải phóng miền Nam”. Bộ Chính trị quyết định phương châm đấu tranh mới là: “Đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh chính trị, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh vũ trang lên song song với đấu tranh chính trị, tấn công địch bằng cả hai mặt chính trị và quân sự”.

Chỉ thị có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện tư tưởng chỉ đạo cơ bản của Đảng ta đối với cách mạng miền Nam, chuyển từ khởi nghĩa từng phần sang chiến tranh cách mạng toàn dân, toàn diện.

Tháng 5-1961, Thường vụ Khu ủy V chủ trương đẩy mạnh tiến công địch về quân sự, chính trị, khẩn trương xây dựng lực lượng ta về mọi mặt, củng cố và mở rộng căn cứ địa miền núi, xây dựng, bảo vệ hành lang... ra sức tiêu diệt sinh lực địch, bồi dưỡng sinh lực ta.

Do điều kiện tình hình chiến trường, để tổ chức lại các Liên tỉnh theo chỉ đạo của Trung ương Đảng, Liên khu V tiến hành giải thể Liên tỉnh 3 và 4, tách Liên khu V thành hai khu: Khu V và Khu VI.

Cuối năm 1961, Tỉnh ủy Đăk Lăk tách huyện A10 thành hai huyện MĐrak (H1) và Đông Cheo Reo (H2) như cũ. Đồng chí Nguyễn Đức Nhuần (Ama Đức) làm Bí thư Ban cán sự huyện H2.

Năm 1962, tách vùng nội thị xã Hậu Bổn và vùng ven, thành lập huyện H7 để tập trung chỉ đạo phong trào trong vùng. Ban cán sự huyện H7 do đồng chí Ama Thiêng làm Bí thư, các đồng chí Châu, Chước, Ama Klung, Lê Quốc Hưng, Hòang là ủy viên.

Tháng 2-1962, thực hiện sự chỉ đạo của Tỉnh ủy Đăk Lăk, tại xã Ia Rmok, Đại hội Đảng bộ huyện H2 lần thứ nhất được tổ chức. Đại hội đánh giá tình hình lãnh đạo phong trào từ năm 1954, đề ra nhiệm vụ giữ vững vùng căn cứ, mở rộng và phát triển vùng giải phóng, xây dựng thực lực, chống địch gom dân lập ấp, phát động phong trào diệt ác phá kìm, thành lập đại đội 67 (A67). Đại hội bầu Ban chấp hành Đảng bộ gồm 15 đồng chí. Đồng chí Y Ngor (Ama Hly) làm Bí thư. Đồng chí Y Ben (Ama Hoa), Ama Hiu làm Phó bí thư. Các ủy viên là Nguyễn Tiển (Ama Đam), Nguyễn Văn Hướng, huyện đội trưởng, Nguyễn Việt Đức, Trưởng ban an ninh, Amí H’Tring, phụ trách phụ nữ.

Sau Đại hội, Đảng bộ huyện H2 đẩy mạnh công tác lãnh đạo phong trào địa phương, tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Phát động quần chúng đấu tranh chống âm mưu dồn dân, lập ấp chiến lược của địch.

Trong hai năm 1961-1962, Mỹ- Diệm đẩy mạnh hoạt động gom dân, lập ấp chiến lược, lấy buôn Ia Nao làm thí điểm, bắt tề các nơi đến học tập, từ đó nhân rộng ra toàn tỉnh. Ở các vùng địch kiểm soát, còn gọi là “vùng an ninh” và vùng ven thị xã, quận lỵ, thị trấn, chúng tiến hành lập ấp tại chỗ, củng cố bộ máy tề nguỵ cơ sở để kìm kẹp dân chúng, phát triển dân vệ và phòng vệ dân sự, trang bị vũ khí cho lực lượng này để tăng cường sự kiểm soát dân chúng. Ở những vùng mới giải phóng và vùng ta làm chủ, Mỹ -Diệm gọi là “vùng mất an ninh”, nên tăng cường mở các cuộc càn quét lấn chiếm, gom xúc dân với phương châm đốt sạch, phá sạch để thực hiện âm mưu dồn dân lập ấp.

Vùng MĐrak và H2 sau Đồng khởi ta đã giải phóng được một vùng rộng lớn, (trừ quận lỵ MĐrak). Do vậy, trong kế hoạch dồn dân lập ấp, Mỹ- Diệm tập trung mạnh ở vùng này.

Tháng 6-1961, địch lập 6 ấp chiến lược, đến cuối năm 1962, dồn dân ở nam và bắc sông Ba lập thêm 20 ấp quanh đồn Mlah và dọc đường số 7, Đông Cheo Reo.

Ở phía bắc sông Ayun dọc đường 7 đến dinh điền Kế Thiện, địch lập thêm 11 ấp chiến lược, phát triển thanh niên chiến đấu, trang bị vũ khí cho dân vệ các thôn làng. Riêng buôn Ma Rôk đã trang bị 157 súng cho một tiểu đoàn dân vệ mới xây dựng.

Ấp chiến lược, các khu dồn được tiến hành dưới hai hình thức dồn dân lập ấp tại chỗ, hoặc dồn dân các làng về một địa điểm gần đồn bốt để lập ấp. Thực chất đây là trại giam trá hình của Mỹ - Diệm nhằm kiểm soát dân chúng, tách người dân ra khỏi ảnh hưởng của cách mạng. Các ấp có vọng gác, với hàng rào tre và kẽm gai. Trong ấp thường xuyên có tiểu đội lính bảo an, dân vệ canh gác và bộ máy tề nguỵ cai quản. Đồng bào sống trong ấp chiến lược, khu dồn chịu sự kiểm soát nghiêm ngặt của địch. Đi lại sản xuất vào ban ngày dưới sự kiểm tra giám sát chặt chẽ, chiều 4 giờ phải về lại khu dồn. Để ngăn cấm không cho dân mang gạo muối ra ngoài hòng chặn nguồn tiếp tế của dân với cán bộ cách mạng, địch bắt người dân mang gùi úp miệng xuống đất khi đi ra ngoài. Khi tụ tập đông người ngoài rẫy để cúng bái, uống rượu đều phải xin phép. Có lúc chúng cho cả máy bay L19 quần lượn để kiểm tra dân ngoài rừng, rẫy. Thanh niên sống trong ấp bị bắt học quân sự tập trung từ 1-3 tháng. Phụ nữ, người già ở nhà chặt cây rào làng, đào hào... Cuộc sống của nhân dân trong các khu dồn, ấp chiến lược vô cùng cực khổ, đồng bào luôn nung nấu một ý chí nổi dậy phá khu dồn trở về quê cũ làm ăn.

Để tăng cường kiểm soát, Mỹ - Diệm phát triển dân vệ, lập các đội thanh niên chiến đấu các buôn làng, trang bị vũ khí để bảo vệ ấp, nhằm âm mưu chia rẽ trong cộng đồng đồng bào dân tộc.

Để đối phó với tình hình, huyện H2 tăng cường lãnh đạo, động viên cán bộ, đảng viên và nhân dân vững vàng trước cuộc chiến đấu mới. Ở vùng nông thôn của huyện, các cuộc đấu tranh của đồng bào dân tộc trong các buôn làng liên tiếp diễn ra chống bắt lính, dồn dân lập ấp, đòi chồng con bỏ ngũ trở về.

Trong vùng căn cứ, vùng giải phóng, ta chú trọng xây dựng, củng cố lực lượng, các tổ chức Đảng, đoàn thể ở buôn làng, tăng cường chỉ đạo đấu tranh chống địch, phát triển sản xuất. Vùng căn cứ buôn Djú, xã Ia Rsai, các buôn vùng Uar, Đất Bằng, Chư Drăng... (H2) cùng với vùng Dleiya, buôn Bung, Bir, Hiao... (H3) đã trở thành những khu căn cứ cung cấp nhân tài vật lực trong suốt thời kỳ chống Pháp và những năm kháng chiến chống Mỹ- Diệm của hai huyện và là bàn đạp vững chắc của tỉnh Đăk Lăk, chỗ dựa của tỉnh Phú Yên trong những năm đấu tranh chống Mỹ- Diệm.

Ngày 1-9-1962, chính quyền Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh 186-NV, cắt vùng đông, tây Cheo Reo, một phần bắc Đăk Lăk, nam Gia Lai lập tỉnh Phú Bổn, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Hậu Bổn (thị trấn Cheo Reo cũ), với 3 quận: Phú Thiện, Phú Túc, Thuần Mẫn.

Quận Phú Túc gồm 2 tổng: Phú Mỹ và Đức Bình (trước thuộc tỉnh Phú Yên). Quận lỵ đặt tại Mlah, có 13 xã: xã Sơn Quang (gồm ấp Buôn Du, buôn Ma Phu, Buôn Ma Hyái…), xã Sơn Hiếu (gồm ấp Phú Cần, ấp Buôn Bông…), xã Đức An (vùng Kà Lúi), xã Đức Lập, xã Đức Thịnh (gồm các ấp buôn Chai, buôn Thúa, buôn Lao, buôn Choanh…), xã Đức Hưng (gồm các ấp buôn Hlối, Buôn Pan, Tối, Tang, Ji lớn, Ji nhỏ, Jú, Bầu, Tring…), xã Sơn Phú (gồm các ấp buôn Ma Rôk, buôn Ngôm, buôn Bat, buôn Liơn, buôn Liơt…)… và xã Phú Tân (trung tâm).

Quận Phú Thiện gồm 5 tổng, 16 xã: Chư Sê, Ia Sol, Ia Hiao, Ia Piar (thuộc tỉnh Pleiku) và tổng Tolo - Tonia (trước thuộc Bình Định). Quận lỵ đặt tại Plơi Mnang.

Quận Thuần Mẫn gồm 2 tổng, 7 xã: Tổng Trung, Ia Rơbol (thuộc Pleiku) và 7 xã (nay thuộc địa bàn huyện Ea Hleo, tỉnh Đăk Lăk và một phần huyện Phú Thiện và thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai).

Sau khi lập tỉnh Phú Bổn, Mỹ - Diệm triển khai một loạt các biện pháp chiến lược về quân sự, chính trị, kinh tế nhằm củng cố địa vị trên địa bàn. Đẩy mạnh dồn dân lập ấp chiến lược, kiểm soát dân chúng vùng nông thôn, vùng chúng kiểm soát, càn quét, đánh phá vùng giải phóng, vùng căn cứ; ra sức củng cố hệ thống tề nguỵ cơ sở, tổ chức dân vệ và các hoạt động gián điệp, thám báo.

Trên địa bàn huyện, kế hoạch đánh phá, dồn dân lập ấp của địch có khác so với một số nơi. Trong khi các vùng H4 (Buôn Hồ), H5 (thị xã Buôn Ma Thuột) địch xúc tiến lập ấp, bước đầu là lập ấp tại chỗ, từ vùng sâu nống ra, sau đó đánh phá rộng, khốc liệt, thì ở huyện H2 do hầu hết là vùng giải phóng, nên địch tiến hành chậm nhưng chà xát dữ dội.

Cuối tháng 9-1962, từ Cheo Reo (Phú Bổn) chúng mở cuộc càn sâu theo đường 7 đến tận quận Mlah (Phú Túc) với mục đích thăm dò tình hình lực lượng ta. Tháng 10-1962, địch tiến hành càn quét, có máy bay yểm trợ oanh tạc tại làng Kinh Quang Hiển, giết hại 12 người, trong đó hầu hết là phụ nữ và trẻ em.

Cũng trong tháng 10-1962, địch dồn xuống đánh phá, chiếm các chốt từ Ơi Nu xuống Phú Túc, nống ra đánh phá liên tục các làng dọc đường số 7, tiếp tục dồn xúc dân dọc trục đường 7 và vùng nam sông Ba để lập ấp. Chúng chà đi xát lại nhiều lần, đốt phá buôn làng, nương rẫy, giết hại đồng bào vùng nam sông Ba, bắc sông Ayun, phá hoại kinh tế để nhân dân không còn cơ sở bám trụ lại buôn làng cũ. Lúc này đã bước vào vụ thu hoạch, nhưng đồng bào buộc phải bỏ buôn, rẫy không thu hoạch được. Số đã thu hoạch thì bị đốt phá. Vùng xoi nà thuộc buôn Bông bị thiệt hại nặng. Nhân dân trong xã, trong huyện bị đốt phá hơn 3.000 tấn lúa, nhiều trâu bò, heo gà và tài sản khác bị cướp, phá.

Đồng thời, tập trung lực lượng mở các cuộc hành quân “An Dân”, “Dân Thắng”, “Nhơn Hòa”, đánh chiếm các trục đường số 7, tăng quân đóng đồn Ơi Nu, Mlah và các cứ điểm Hoanh Châm, buôn Drah để làm điểm tựa càn quét sâu vào vùng Cheo Reo, bắc sông Ba và đông Buôn Hồ; dùng máy bay bắn phá ngày đêm vào các buôn làng, thực hiện âm mưu “đốt sạch, phá sạch” để dồn xúc dân. Ngoài ra chúng tăng cường chiến tranh tâm lý, chiêu hồi, lừa mị dân, cưỡng ép dân vào các khu dồn, ấp chiến lược.

Trong năm 1961- 1962, Mỹ - nguỵ đã dồn dân vùng nam và bắc sông Ba về thành 20 ấp chiến lược quanh đồn Mlah, Ơi Nu và dọc trục đường số 7. Nhiều khu dồn mọc lên như khu dồn Kà Lúi, khu ấp Buôn Nai, Buôn Thim, Sơn Hiếu, Sơn Quang..., riêng khu ấp Tơ Loah đến năm 1969 địch mới thành lập.

Tại khu dồn Kà Lúi, địch dồn dân một số buôn thuộc Phú Yên (còn gọi là khu Đức Hưng), các buôn Hlối, Ban, Tối, Tang, Ji lớn, Ji nhỏ, Jú, Bầu, Tring... thuộc xã Krông Năng (khu dồn Đức An, Đức Lập) và các buôn Thưk, Muk, Sai, Djrong dọc đường 7 dồn về.

Dân của xã Đất Bằng bị dồn về khu gần sân bay và ấp Tân Sinh buôn Kết. Dân của xã Chư Drăng bị dồn sang đường 7, lập các ấp Ma Rok, buôn Thúa, buôn Chai... Dồn dân xã Ia Rsai và đồng bào vùng Ơi Nu, các buôn lân cận vùng tây cầu Ơi Nu lập các khu dồn Ia Rsai, Ơi Nu.

Khu ấp buôn Nai (còn gọi là Đức Lập) gồm dân của các buôn Nai, buôn Hing, buôn Hlang, buôn Kết, buôn Drun, buôn Jah.

Khu ấp Sơn Hiếu gồm các buôn, buôn Bông, buôn Laih, buôn Bưng, buôn Malông và các xã Phú Cần, xã Phú Tân.

Khu ấp buôn Thêm (Đức Mỹ) gồm buôn Mlah, buôn Thêm, buôn Luk.

Khu ấp Sơn Quang gồm dân của các buôn Ma Hing, Ma Nhe, Du (của xã Đất Bằng dồn ra).

Các xã ở bắc đường 7 bị càn quét liên tục. Thời gian đầu, địch mới chỉ gom xúc dân vào các khu dồn, ấp chiến lược, chưa thực hiện trang bị súng cho thanh niên, nhưng sau do nhiều lần bị các lực lượng của ta đột nhập phá ấp, nên địch tăng cường củng cố hệ thống bảo vệ, bắt dân vào rừng chặt cây về làm hàng rào kẽm gai, đào hệ thống giao thông hào quanh ấp, xây dựng công sự phòng thủ, bót gác và tiến hành trang bị vũ khí, súng đạn cho thanh niên để bảo vệ khu dồn. Ở những khu ấp lớn, những nơi xung yếu, chúng tăng cường lực lượng bảo an, dân vệ đóng giữ với số lượng từ tiểu đội đến trung đội. Đồng thời, tổ chức lực lượng nhân dân tự vệ, thanh niên chiến đấu (sau gọi là phòng vệ dân sự), trang bị súng cho lực lượng này, bắt thanh niên tập quân sự, tham gia chiến đấu. Các ấp đều được trang bị vũ khí, ấp lớn có từ 70- 80 súng, ấp nhỏ có khoảng 20-30 súng. Tại khu dồn buôn Ma Rôk, địch trang bị 300 súng cho thanh niên để bảo vệ ấp, chống lại sự tấn công, đột nhập của lực lượng ta.

Kế hoạch dồn dân lập ấp của địch đã gây phản ứng quyết liệt trong nhân dân. Khắp các vùng trong huyện diễn ra các cuộc đấu tranh chống địch gom dân lập ấp chiến lược với nhiều hình thức, đưa ra các khẩu hiệu “chống dồn dân lập ấp, chống bắn pháo vào làng, đòi bồi thường thiệt hại, đòi cải thiện đời sống, đòi được chuyển giao về tỉnh Phú Yên...”.

Địch đẩy mạnh càn quét, dồn dân lập ấp, ta lãnh đạo nhân dân tổ chức bố phòng, bất hợp tác chống địch. Hơn 6.000 dân huyện H2 và H3 kiên quyết đấu tranh bất hợp pháp.

Đồng bào các buôn ở Đất Bằng kiên quyết đấu tranh chống dồn, cho đến năm 1967, địch mới dồn được một số dân đưa về ấp buôn Kết. Các buôn làng vùng Đất Bằng, địch tiến hành 5 lần dồn xúc về Mlah, đồng bào đã tự tổ chức đấu tranh chống dồn, phân tán dân, một số về sống tại buôn Ma Djơng (Cheo Reo), một số chạy đi Buôn Ma Thuột, vào làm công trong các dinh điền tránh địch gom lại. Các buôn Tờ Khế, Ia Gier, Ia Rsai, Chư Jú HĐăng(H2), đồng bào tìm cách trốn ra rừng xây dựng căn cứ chống địch.

Tại xã Chư Drăng, địch lập các ấp buôn Bat, Ma Rôk, Chai, Ngôm, Thúa. Có ấp địch dồn 3 - 4 buôn như buôn HLiêt, buôn HLiên, về lập ấp tại buôn Bak. Ở buôn Ma Rôk, địch dồn dân lập ấp tại chỗ. Đồng chí Ksor Djứ (Ama Liêm), huyện ủy viên là người địa phương đã ngày đêm bám buôn làng, nắm tình hình các ấp báo cho lực lượng ta, tích cực vận động thanh niên các buôn bất hợp tác và trả súng, không tham gia thanh niên chiến đấu.

Năm 1962-1963, phong trào trong tỉnh và huyện H2 gặp khó khăn do âm mưu dồn dân, lập ấp chiến lược ồ ạt của địch. Chúng mở hàng loạt các chiến dịch càn quét đánh phá, bắn giết tàn khốc, đi đôi với chiêu bài mua chuộc dụ dỗ. Hàng loạt khu tập trung, ấp chiến lược được lập nên, có các đơn vị dân vệ kìm kẹp quần chúng. Vùng căn cứ, vùng giải phóng của ta bị uy hiếp nghiêm trọng, đời sống nhân dân và cán bộ chiến sỹ vô cùng thiếu thốn, khó khăn.

Trước tình hình trên, tháng 2-1962, Hội nghị Khu ủy V chủ trương: Tập trung mọi lực lượng và khả năng vào phá ấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hiện nay.

Tỉnh ủy Đăk Lăk triển khai chủ trương của Khu ủy V, đề ra nhiệm vụ trọng tâm trước mắt của Đảng bộ và nhân dân toàn tỉnh là chống địch dồn dân lập ấp chiến lược, phá ấp diệt kìm, giành và giữ dân.

Quán triệt nhiệm vụ chung, huyện H2 chủ trương đẩy mạnh xây dựng phát triển thực lực, triển khai trong cán bộ, đảng viên nhiệm vụ trong tình hình mới, lãnh đạo đấu tranh chính trị kết hợp với đấu tranh vũ trang chống dồn dân lập ấp, phá ấp giành dân. Phát động phong trào cán bộ bám đất, bám dân. Tăng cường các đội công tác bám ấp, xây dựng cơ sở, lãnh đạo quần chúng đấu tranh. Chống địch trang bị súng trong thanh niên, phát triển dân vệ. Khắc phục những khó khăn trước tình hình địch càn xúc dân.

Tuy nhiên, trong thời gian đầu địch tiến hành dồn dân lập ấp, trong lãnh đạo đấu tranh ta còn có những hạn chế, phương thức đấu tranh, bảo vệ phát triển vùng giải phóng còn nặng về vũ trang, bất hợp tác, chưa phát triển đấu tranh hai chân, ba mũi, nên khi địch dồn xúc, ta lãnh đạo dân tránh vào rừng sâu bất hợp tác với địch. Địch tăng cường kiểm soát, càn quét, đốt nhà, nương rẫy, phá hoại hoa màu để dồn xúc dân, đời sống của quần chúng nhân dân, kể cả lực lượng vũ trang, cán bộ cơ quan gặp nhiều khó khăn, đói, đau xảy ra, vì vậy nhiều người dân lại tìm cách trở về hợp pháp tạm thời trong ấp chiến lược.

Trên địa bàn huyện, số ấp địch lập tại chỗ ít, phần lớn dân bị dồn xúc lập ấp mới. Rút kinh nghiệm trong chỉ đạo, để chống âm mưu dồn dân lập ấp của địch, huyện chuẩn bị tư tưởng cho nội bộ cán bộ, đảng viên và quần chúng. Phương hướng chung là bất hợp tác với địch, kiên quyết chống dồn, đồng thời dự kiến các tình huống để đối phó với địch, bố trí lực lượng, cơ sở hợp pháp đi cùng dân, tạo thế hỗ trợ nhau trong cuộc đấu tranh chống phá ấp sau này.

Mặc dù bị dồn vào trong ấp, nhưng lòng dân vẫn hướng về cách mạng. Số bị dồn vào trong ấp tìm cách để trốn ra, phá ấp trở về làng cũ. Số còn ở ngoài rừng liên lạc với cán bộ ta để được hướng dẫn phương thức đấu tranh chống địch. Ta mạnh dạn xáp vào móc nối lại cơ sở, xây dựng lực lượng.

Tuy còn nhiều lúng túng, nhưng do chuẩn bị tốt lực lượng, cơ sở, nên ta vẫn giữ được một bộ phận cốt cán, cán bộ cơ sở để bổ sung cho các đội công tác bám ấp, bám dân, lãnh đạo quần chúng, xây dựng phong trào trong điều kiện khó khăn lúc bấy giờ.

Từ giữa năm 1961, mỗi huyện được bố trí từ 1-2 cán bộ chuyên trách công tác binh tề vận, nhưng về cơ bản, hoạt động binh tề vận ở các địa bàn vẫn chủ yếu do các đội vũ trang công tác đảm nhiệm. Trong công tác, tùy tính chất hoạt động của địch từng thời điểm trên địa bàn và với mỗi đối tượng để sử dụng hình thức tuyên truyền, vận động phù hợp. Để phục vụ công tác binh tề vận, các đội vũ trang công tác được cung cấp tài liệu tuyên truyền, truyền đơn, khẩu hiệu, thư... có nội dung sát với các đối tượng của từng địa bàn. Nhiều nơi ta đã dịch truyền đơn, khẩu hiệu từ tiếng phổ thông ra tiếng dân tộc để sử dụng, hoặc viết bằng tay để kịp thời phục vụ yêu cầu của công tác. Nhờ làm tốt công tác tranh thủ tề, binh lính và xây dựng cơ sở bên trong nên ta nắm được một số cuộc càn quét của địch, tránh được thiệt hại. Nhiều binh lính làm ngơ trước những cuộc đấu tranh của quần chúng chống dồn dân, lập ấp.

Năm 1963, Mỹ - Diệm đẩy nhanh việc dồn xúc dân lập ấp chiến lược. Trên toàn tỉnh Đăk Lăk hàng trăm khu dồn, ấp chiến lược được lập nên với gần 10 vạn dân. Đồng thời, tăng cường lực lượng bảo an, dân vệ, trang bị súng cho thanh niên chiến đấu các ấp để kiểm soát dân. Ngoài ra, còn tổ chức Ban trị sự, tổ liên gia để làm nhiệm vụ phân loại quần chúng, kê khai dân số, kiểm soát việc đi lại và sinh hoạt của người dân trong ấp. Lập tề, xã, ấp, tổ chức hội đồng, phối hợp các tổ chức, lực lượng để kìm kẹp quần chúng.

Từ cuối năm 1963 - 1964, địch tăng cường bắt lính đôn quân, càn quét đánh phá ác liệt có trọng điểm để dồn xúc dân, củng cố lại các ấp chiến lược vừa bị ta phá. Ta mất thêm một số dân ở buôn Kết, buôn Mung vùng nam sông Ba. Nhiều vùng bị địch chà xát, dồn đến 4- 5 lần. Các cuộc càn quét của địch đã gây thiệt hại về người và của trong vùng. Ở các xã, buôn, nhà cửa của đồng bào bị đốt phá, tài sản, chiêng ché bị cướp, trâu bò, gia súc bị giết hại, mùa màng bị bỏ hoang. Trước sự cưỡng ép dồn xúc của địch, đồng bào phải gùi cõng con, lùa trâu bò vào sống trong ấp. Hơn 6 tháng trời chưa dựng được nhà để ở, phải sống cảnh màn trời chiếu đất. Trâu bò lùa không hết chạy sống hoang ngoài rừng. Tình hình sản xuất, sinh hoạt, đời sống của quần chúng nhân dân ở trong ấp và cả vùng căn cứ đều bị xáo trộn, thiếu đói, lạt muối, người dân phải ăn củ rừng thay cơm, tiêu chuẩn muối chỉ có một nắp dầu cù là trong tháng, tư tưởng cán bộ, đảng viên và quần chúng căng thẳng, lo lắng. Để có cái ăn, nhiều nơi đồng bào tìm cách trốn ra rừng bám rẫy sản xuất. Mặt khác, do địch kìm kẹp, kiểm soát chặt chẽ, một số cơ sở bị đứt liên lạc hoặc bị địch vô hiệu hóa. Có thời gian dài ta không phát triển được lực lượng mới, có nơi không bám được dân. Trước tình hình trên, huyện H2 chú trọng xây dựng thế tấn công địch, củng cố cốt cán cơ sở ở các buôn, chuẩn bị các phương án đối phó với các âm mưu của địch khi bị chúng đánh phá, dồn xúc dân; xây dựng cán bộ cốt cán để bổ sung lực lượng vũ trang, các đội công tác bám khu dồn, ấp chiến lược để tuyên truyền vận động quần chúng; tổ chức lực lượng bên trong phối hợp với lực lượng vũ trang bên ngoài, đấu tranh phá ấp giành dân, động viên nhân dân sản xuất tự túc đảm bảo đời sống, giữ vững vùng căn cứ, vùng giải phóng; phát triển thực lực cách mạng để đưa phong trào toàn huyện đi lên.

Đảng bộ huyện thực hiện phương châm không đưa dân về làng cũ, tập trung dãn dân, đưa dân tránh ra ngoài rẫy sinh sống, không trở lại sống trong ấp. Tổ chức cho đồng bào các buôn làng các hình thức đấu tranh chống dồn dân, phân tán, cất giấu tài sản, tránh sâu vào rừng không để bị dồn lại. Hơn 2000 đồng bào các buôn vùng Ia Gir, Ia Rsai, Chư Djú kiên quyết bám trụ, chống địch dồn vào ấp chiến lược, giữ vững căn cứ, cơ sở đứng chân hoạt động của huyện. Tăng cường tuyên truyền vận động, tranh thủ số binh lính người địa phương bỏ ngũ trở về với cách mạng.

Cán bộ, cơ sở khi địch đánh phá quyết liệt thì rút vào bí mật, nhưng khi có thời cơ, điều kiện tiếp tục móc nối liên lạc trở lại. Nhờ có lực lượng quần chúng tốt, nên ta đã phát triển được thực lực phong trào, xây dựng cốt cán mới có chất lượng. Do vậy phong trào dần được củng cố, tiếp tục phát triển từng bước vững chắc, đẩy mạnh tấn công phá sự kìm kẹp của địch.

Năm 1963, vùng căn cứ của huyện H2 gồm 6 xã.

Xã 1: vùng Quang Hiển, Đất Bằng gồm các buôn Ma Hing, Ma Yăi, Ma HMlung, Ma Phu, Ma Nhê.

Xã 2: vùng núi Prong, gồm các buôn Ơi Kham, Ma Leo, Ơi Đak.

Xã 3: vùng suối Ia Soai gồm buôn Ơi HDjit, Chánh Đơn.

Xã 4: vùng Chư Djú Bắc, gồm buôn Ia Giek, Chư Djú.

Xã 5: vùng Kơ Tau, Chư Mố, Ia Tul, Tờ Khế, buôn Blanh.

Xã 6: vùng buôn Drun, buôn Jăh (qua buôn HMung trên núi).

Đến cuối năm 1963, ta còn gần 2000 dân của các xã vùng căn cứ huyện, tuy về sau có bị mất thêm một số dân nhưng ta vẫn giữ được hơn 1000 dân.

Năm 1963, y ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam phát động phong trào “thi đua Ấp Bắc, giết giặc lập công”.

Giữa năm 1963, Thường vụ Khu ủy VI chủ trương mở đợt hoạt động tấn công vào vùng địch, phá ấp chiến lược trên một số địa bàn.

Hưởng ứng phong trào, Tỉnh ủy Đăk Lăk chủ trương mở đợt tấn công “giết giặc giành dân”. Lực lượng vũ trang tỉnh Đăk Lăk tiến hành các cuộc vũ trang tấn công tiêu diệt các cuộc càn quét của địch ở vùng đông Dleiya, Buôn Hồ, tổ chức các cuộc đột nhập vào các ấp chiến lược, khu dồn... Ở huyện H3, các đội công tác và lực lượng vũ trang huyện đột nhập tước súng bọn dân vệ tại các buôn Chứ, Hit, phát triển cơ sở ở các ấp dọc đường số 7.

Huyện H2 đẩy mạnh phát triển lực lượng, kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh chính trị, tăng cường hoạt động vũ trang hỗ trợ quần chúng phá kìm, diệt ác, giành quyền làm chủ, giữ vững vùng giải phóng và vùng căn cứ. Phong trào đấu tranh chính trị, binh tề vận cũng phát triển mạnh. Các đội công tác tăng cường bám dân tuyên truyền vận động, hướng dẫn đấu tranh. Đối với ác ôn, tề nguỵ, ta có phương pháp cụ thể, tranh thủ tuyên truyền, vận động và từ đó phân loại từng đối tượng để có hướng xử lý. Đối với số binh lính người địa phương bị bắt đi cầm súng chống lại đồng bào, đều có sự ràng buộc, gắn bó với cộng đồng, đó là điều kiện thuận lợi để ta thâm nhập, tranh thủ và cảm hóa, lôi kéo họ đứng về phía cách mạng. Đồng chí Ksor Y Ngor (Ama Hly), Bí thư Huyện ủy H2 là người có uy tín và kinh nghiệm trong công tác dân vận, vận động quần chúng vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Để hỗ trợ quần chúng đấu tranh, lực lượng vũ trang huyện và du kích địa phương liên tục tổ chức đánh địch và củng cố cơ sở ở các ấp dọc đường số 7, đông Phú Túc. Tháng 4-1963, ta đánh thiệt hại nặng một đoàn xe địch từ Tuy Hòa đi Phú Bổn tại Cầu Đôi (nay thuộc địa phận xã Chư Rcăm), buộc địch bỏ xác đồng bọn rút chạy. Hàng trăm quần chúng dưới sự hướng dẫn của Amí H’Tring, Amí Nô khiêng xác lính nguỵ vào quận Phú Túc vạch tội ác, phát động tinh thần đấu tranh của nhân dân, tranh thủ binh tề vận, gây cảm tình và sự đồng tình ủng hộ của binh lính.

Các cuộc đấu tranh chống càn quét, gom dân lập ấp diễn ra ngày càng quyết liệt, dai dẳng và trở thành phong trào quần chúng rộng khắp. Âm mưu dồn dân lập ấp chiến lược của địch tuy gây cho ta nhiều khó khăn, tổn thất nhưng về cơ bản ta vẫn giữ được dân, tinh thần quần chúng vẫn được giữ vững.

Đến cuối năm 1963, được sự hỗ trợ của lực lượng vũ trang, quần chúng trong các ấp bung ra, phá lỏng kèm như khu ấp tây và đông cầu Lệ Bắc. Ở khu dồn từ cầu Mỏ Két xuống Chư Gu, đồng bào nổi dậy phá ấp, một số trở về buôn Uar, buôn Nung dọc hai bên sông Ba, một số bung ra về ở các chòi rẫy.

Để thuận tiện cho việc chỉ đạo, tháng 6-1963, theo chủ trương của Khu ủy VI, tỉnh Đăk Lăk tiến hành điều chỉnh địa bàn, giải thể và sáp nhập một số đơn vị hành chính. Tháng 8-1963, Đại hội Đảng bộ B3 (bắc Đăk Lăk) lần thứ II được tổ chức tại Ia Tră, vùng căn cứ Đông Chư Jú. Đồng chí Nguyễn Liên (Bốn Đạo) được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy. Đại hội đã tạo sức mạnh mới cho cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh quyết tâm đấu tranh chống địch, giữ vững phong trào.

Sau Đại hội, phong trào phá ấp giành dân trong toàn tỉnh phát triển mạnh mẽ. Lực lượng vũ trang và các đội công tác huyện H2 được củng cố, tăng cường hoạt động sâu trong các ấp và khu dồn, phối hợp cùng với lực lượng của tỉnh đẩy mạnh tấn công địch, hỗ trợ quần chúng nổi dậy phá ấp và khu dồn, đưa dân về làng cũ.

Tháng 10-1963, Trung ương có sự điều chỉnh lại chiến trường Khu V, Khu VI, giải thể Khu X, giao các tỉnh thuộc Khu X về Khu VI. Tỉnh Khánh Hòa, B3 (Bắc Đăk Lăk) và B5 (Nam Đăk Lăk) trước thuộc Khu VI nay thuộc sự chỉ đạo của Khu V. Thành lập Liên tỉnh 3 gồm tỉnh Phú Yên, Khánh Hòa, B3, B5 do đồng chí Hồng Châu, Khu ủy viên Khu ủy V làm Bí thư Liên tỉnh 3. Sự điều chỉnh lại chiến trường Khu V, VI nhằm tăng cường sự chỉ đạo của các Khu ủy đối với phong trào các tỉnh Tây Nguyên.


: Files
Files -> Sạt-đe rằng: Nầy là lời phán của Đấng có bảy vì thần Đức Chúa Trời và bảy ngôi sao
Files -> HƯỚng dẫn càI ĐẶt và SỬ DỤng phần mềm tạo bài giảng e-learning
Files -> VIỆn chăn nuôi trịnh hồng sơn khả NĂng sản xuất và giá trị giống của dòng lợN ĐỰc vcn03 luậN Án tiến sĩ NÔng nghiệp hà NỘI 2014
Files -> ĐẠi học quốc gia hà NỘi trưỜng đẠi học khoa học tự nhiên nguyễn Thị Hương XÂy dựng quy trình quản lý CÁc công trìNH
Files -> PHỤ LỤC 2 TỔng hợp danh mục tài liệu tham khảO
Files -> BÁo cáo quy hoạch vùng sản xuất vải an toàn tỉnh bắc giang đẾn năM 2020 (Thuộc dự án nâng cao chất lượng, an toàn sản phẩm nông nghiệp và phát triển chương trình khí sinh học ) Cơ quan chủ trì
Files -> BỘ TÀi nguyên và MÔi trưỜng
Files -> 1. Mục tiêu đào tạo: Mục tiêu chung


1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương