Ban chấp hành đẢng bộ huyện krông pa tỉnh gia lai lịch sử ĐẢng bỘ


Chương II HUYỆN KRÔNG PA TRONG CÔNG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945 – 1954)



tải về 1.87 Mb.
trang3/14
Chuyển đổi dữ liệu13.06.2018
Kích1.87 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14

Chương II

HUYỆN KRÔNG PA TRONG CÔNG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP XÂM LƯỢC (1945 – 1954)

I- XÂY DỰNG, BẢO VỆ CHÍNH QUYỀN, MẶT TRẬN VIỆT MINH, ĐOÀN KẾT DÂN TỘC VÀ CHUẨN BỊ KHÁNG CHIẾN (1945- 1946)

Cách mạng Tháng Tám thành công, lịch sử các dân tộc huyện Cheo Reo nói riêng và cả nước nói chung bước vào trang sử mới. Ngày 2-9-1945, Đoàn đại biểu chính quyền cách mạng tỉnh Gia Lai do ông Trần Ngọc Vỹ, Chủ tịch dẫn đầu về thị trấn Cheo Reo làm lễ ra mắt Ủy ban cách mạng lâm thời do ông Nay Phin, một nhà giáo yêu nước giác ngộ cách mạng làm Chủ tịch. Với sự kiện đó, chính quyền và nhân dân các dân tộc huyện Cheo Reo bắt đầu bước vào một thời kỳ mới, xây dựng và củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng Mặt trận Việt Minh, đoàn kết dân tộc, ổn định đời sống nhân dân, trong bối cảnh đất nước và địa phương có nhiều thuận lợi, nhưng cũng không ít khó khăn, phức tạp.

Thuận lợi lớn là đất nước được độc lập, tự do, Tổ quốc thống nhất, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Đảng ta trở thành Đảng Cộng sản đầu tiên ở Đông Nam Á giành được chính quyền. Một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã mở ra cho dân tộc Việt Nam. Chính phủ lâm thời do Cụ Hồ Chí Minh làm Chủ tịch đã ra mắt quốc dân đồng bào trong cuộc mít tinh tuyên bố độc lập tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội. Chính phủ đã tuyên thệ triệt để thi hành đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản và Mặt trận Việt Minh để lãnh đạo nhân dân phát huy thắng lợi của cách mạng, giữ vững nền độc lâp dân tộc, bảo vệ chính quyền, kiến thiết nước nhà giàu mạnh. Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” vang dội núi sông, khích lệ nhân dân cả nước, đồng bào Tây Nguyên, trong đó có cán bộ và nhân dân các dân tộc huyện Cheo Reo.

Thể hiện quyết tâm đó, ngày 3-9-1945, trong phiên họp đầu tiên, Hội đồng Chính phủ đã nêu ra sáu nhiệm vụ cấp bách phải thực hiện trong cả nước, ở mỗi địa phương, tỉnh, huyện và làng xã. Đó là, phải tích cực chống nạn đói, nạn dốt, bỏ thói hư, tật xấu, cấm hút thuốc phiện; bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò,… khắc phục hậu quả của ách thống trị do thực dân Pháp và phát xít Nhật để lại; xây dựng đời sống mới tốt đẹp, lành mạnh; thi hành chính sách tự do tín ngưỡng, nam nữ bình đẳng, bình quyền; đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương giáo; tổ chức tổng tuyển cử tự do phổ thông đầu phiếu bầu ra Quốc hội, để Quốc hội ban hành Hiến pháp và thành lập Chính phủ chính thức. Ngày 6 tháng 1 năm 1946, cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội với chế độ phổ thông đầu phiếu đã được tổ chức trong cả nước. Trong hoàn cảnh thù trong giặc ngoài ra sức chống phá, tổng tuyển cử đầu tiên thật sự là một cuộc đấu tranh gay go, quyết liệt để xác lập quyền làm chủ của nhân dân, của Nhà nước về mặt pháp lý. Với ý thức “lá phiếu là viên đạn diệt thù”, nhân dân bất chấp sự đe dọa và phá hoại của bọn phản động, vẫn nô nức đi làm nghĩa vụ công dân, lực lượng an ninh trấn áp bọn chống đối, bảo vệ nhân dân trong ngày bầu cử. Nhân dân cả nước đã bầu 333 đại biểu Quốc hội khóa I, thể hiện sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc, một sức mạnh có ý nghĩa quyết định trong công cuộc củng cố chính quyền cách mạng. Không lâu sau đó, khi đất nước đứng trước nguy cơ bị nhiều thù trong, giặc ngoài đe dọa, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ nằm giữa vòng vây bốn phía của chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động quốc tế, Bác Hồ đã khái quát và nhấn mạnh ba nhiệm vụ chủ yếu của chính quyền cách mạng lúc này là chống giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Ba nhiệm vụ đó phải đi liền với nhau.

Chính phủ lâm thời và Chủ tịch Hồ Chí Minh còn tổ chức phát động nhiều phong trào thi đua yêu nước và kêu gọi nhân dân cả nước thực hiện các phong trào thi đua đó. Nội dung các phong trào thi đua là đẩy mạnh tăng gia sản xuất, lạc quyên cứu đói và quyên góp tiền của, vàng bạc để kiến thiết đất nước, phòng vệ quốc gia; giáo dục tinh thần cần, kiệm, liêm, chính; tổ chức phong trào học văn hóa, xóa nạn mù chữ… Với tinh thần yêu nước nồng nàn, nhân dân cả nước hăng hái tham gia các phong trào, tạo ra khí thế cách mạng lên cao trong toàn quốc, tác động đến hầu khắp các địa phương, kể cả những buôn làng vùng sâu, vùng xa ở Tây Nguyên như vùng Đông huyện Cheo Reo (Krông Pa).

Thuận lợi lớn đối với huyện Cheo Reo là ngay sau Cách mạng Tháng Tám thắng lợi, Trung ương Đảng, Chính phủ quan tâm chỉ đạo địa bàn chiến lược của Tây Nguyên, trực tiếp phái cán bộ Mặt trận và quân sự lên Tây Nguyên cho các tỉnh Kon Tum, Gia Lai. Ủy ban cách mạng lâm thời, Ủy ban hành chính dần dần được củng cố ở thị xã Pleiku, An Khê và nhiều huyện, xã. Mặt trận Việt Minh tỉnh được thành lập với các đoàn thể cứu quốc, công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ cứu quốc… nhanh chóng phát huy vai trò trong các phong trào của tỉnh.

Tháng 9-1945, được sự chỉ đạo, giúp đỡ của Mặt trận Việt Minh tỉnh, Mặt trận huyện Cheo Reo được thành lập do ông Rơchơm Briu, Ủy viên Ủy ban cách mạng lâm thời phụ trách giao thông, làm chủ nhiệm. Các đoàn thể cứu quốc trong nông dân, thanh niên, phụ nữ... nhanh chóng thành lập và củng cố. Tuy chưa có Đảng bộ, chi bộ Đảng lãnh đạo trực tiếp, nhưng đồng bào các dân tộc Cheo Reo phấn khởi tin tưởng vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Chính phủ và chính quyền, Việt Minh huyện.

Ngày 10-12-1945, Đảng bộ Đảng Cộng sản Đông Dương tỉnh Gia Lai được thành lập, lấy tên là Đảng bộ Tây Sơn. Tỉnh ủy lâm thời gồm 5 đồng chí Phan Thêm, Nguyễn Đường, Nguyễn Xuân, Trần Ren, Phạm Thuần, do đồng chí Phan Thêm, phái viên của Xứ ủy Trung Kỳ làm Bí thư.

Tình hình đất nước cũng như địa phương lúc đó có nhiều phức tạp, khó khăn lớn. Ở miền Bắc, do lũ lụt, mất mùa, nạn đói tiếp tục hoành hành, trong khi đó 20 vạn quân Tàu Tưởng kéo theo bọn phản động “Việt quốc”, “Việt cách” vào chiếm đóng một số tỉnh và Hà Nội. Chúng liên tục khiêu khích, hậu thuẫn cho bọn khủng bố phá hoại tài sản, cướp bóc của cải, tiền bạc và khủng bố tinh thần nhân dân ta, gây áp lực với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Ở Nam Bộ, từ ngày 2-9-1945, quân Pháp được thả khỏi các trại giam của Nhật đã lén lút nổ súng phá cuộc mít tinh mừng độc lập của nhân dân Sài Gòn. Ngày 23-9-1945, được quân Anh hậu thuẫn, quân Pháp gây hấn tại Sài Gòn, mở đầu cho cuộc xâm lược nước ta lần thứ hai. Suốt những tháng cuối năm 1945, quân Pháp mở rộng đánh chiếm nhiều vị trí của ta tại các tỉnh Nam Bộ và Nam Trung Bộ, sau đó theo đường 21, chúng đánh xuống MĐrak và theo đường 14 tiến sát đến Buôn Hồ. Tháng 12-1945, quân Pháp đã nổ súng khiêu khích quân ta tại các phòng tuyến dọc biên giới tỉnh Gia Lai và Campuchia. Tỉnh Gia Lai, cửa ngõ lên phía bắc Tây Nguyên bị uy hiếp từ phía tây và phía nam.

Ở Nam Trung Bộ, từ tháng 10-1945, quân Pháp đã đổ bộ lên Nha Trang (Khánh Hòa). Tháng 1-1946, 15.000 quân Pháp mở cuộc hành quân Gaur đánh chiếm các tỉnh Nam Trung Bộ gồm Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận và một phần rừng núi Đăk Lăk, uy hiếp phía nam Phú Yên để mở đường lên Mlah - Cheo Reo. Quân Pháp đánh chiếm Nam Trung Bộ, Đăk Lăk và Gia Lai bị uy hiếp từ phía tây và nam, trong đó có vùng Mlah – đông Cheo Reo (Krông Pa).

Trong hoàn cảnh đó, việc xây dựng, củng cố chính quyền, lập các đoàn thể Việt Minh, ổn định tình hình đời sống nhân dân, bắt tay xây dựng cuộc sống mới ở Cheo Reo… đòi hỏi ta phải khẩn trương, gấp rút, vừa xây dựng, vừa sẵn sàng chiến đấu chống địch.

Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy, chính quyền, Việt Minh tỉnh Gia Lai, chính quyền và Việt Minh huyện Cheo Reo đã lãnh đạo nhân dân trong huyện triển khai nhiều mặt hoạt động. Ủy ban cách mạng lâm thời, sau đó đổi là Ủy ban hành chính đã phân công cho các thành viên nhiệm vụ phụ trách giao thông, nông, lâm nghiệp, giáo dục và y tế. Tất cả các mặt của đời sống xã hội đều được chú ý.

Về chính trị, nhiệm vụ trước tiên là củng cố, xây dựng chính quyền, lập các đoàn thể Mặt trận Việt Minh phải do dân, phải vì quyền lợi của nhân dân. Huyện tổ chức cho cán bộ chính quyền, Mặt trận học tập thư Bác Hồ gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện, làng (17-10-1945), trong đó nhấn mạnh “Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân”. Cán bộ chính quyền và Mặt trận tích cực tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, Chính phủ về kháng chiến, kiến quốc; chương trình, điều lệ, 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh; tuyên truyền đoàn kết giữa đồng bào Kinh và đồng bào dân tộc thiểu số. Nhiều cán bộ đội tuyên truyền của huyện về các xã tổ chức mít tinh, hội họp nhân dân để nói cho dân biết kẻ thù chính là thực dân Pháp xâm lược; nhiệm vụ chủ yếu trước mắt là củng cố xây dựng chính quyền, đoàn thể chống ngoại xâm, bài trừ nội gián, cải thiện đời sống nhân dân. Ở làng, xã, chính quyền phải tăng cường thành phần người dân tộc thiểu số, nhất là các trí thức người dân tộc có uy tín. Những vùng đồng bào dân tộc thiểu số có khó khăn, chưa thể lập được chính quyền đủ năm thành viên, thì mỗi làng lập Chủ tịch và Phó chủ tịch do dân bầu trong số những người có uy tín trong các làng.

Thực hiện Chỉ thị của Ủy ban hành chính và Việt Minh tỉnh, Ủy ban hành chính huyện chỉ thị cho Ủy ban hành chính các làng, xã phải đảm bảo quyền tự do dân chủ cho nhân dân, quyền bình đẳng nam nữ, xóa bỏ thuế thân và các thứ thuế vô lý do chế độ cũ đặt ra. Trong chế độ mới, nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị dân tộc, như cấm cán bộ và người Kinh dùng từ “mọi”, xứ “mọi” do thực dân Pháp gọi miệt thị đồng bào ta trước đây, cấm những hành động vi phạm tự do tín ngưỡng của nhân dân. Theo hướng dẫn của Việt Minh tỉnh, Việt Minh huyện Cheo Reo mở các lớp huấn luyện ngắn ngày phổ biến chương trình, điều lệ Việt Minh cho cán bộ, nhân dân. Những nơi chưa tổ chức được các đoàn thể cứu quốc, thì lựa chọn những người tiêu biểu phụ trách các giới trong làng. Những hình thức đó đã có tác dụng củng cố chính quyền, xây dựng Mặt trận và khối đoàn kết dân tộc, đoàn kết đồng bào trong huyện.

Công tác hướng dẫn chuẩn bị bầu cử Quốc hội khóa I được tiến hành khẩn trương. Ngày 23-12-1945 được Trung ương cho phép, cùng với đồng bào Cheo Reo và tỉnh Gia Lai, đồng bào các dân tộc vùng Mlah (Krông Pa) được đi bỏ phiếu bầu đại biểu Quốc hội của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Kế hoạch bầu cử được thực hiện sớm hơn so với cả nước do tình hình chiến sự ở mặt trận phía nam và tây Gia Lai. Bước chuẩn bị cho cuộc bầu cử Quốc hội khóa I rất khó khăn vì nhân dân phần lớn không biết chữ, cách làm là : người nào biết chữ thì đưa lá phiếu gạch tên nếu không đồng ý bầu vào Quốc hội. Người nào không biết chữ thì dùng cách lấy hạt bắp, hạt bầu, hạt lúa mỗi hạt đó gắn đặt tên của một ứng cử viên, ai đồng ý bầu người nào thì lấy hạt đó bỏ vào thùng phiếu. Hơn 90% cử tri trong huyện đã phấn khởi bỏ phiếu bầu đại biểu là các ông Nguyễn Bá Hòe, công nhân người Kinh, Nay Phin, nhà giáo, Chủ tịch huyện, nhân sĩ người dân tộc thiểu số, và ông Rơchơm Rok, giáo viên. Ngày 27-3-1946, nhân dân các dân tộc vùng Mlah huyện Cheo Reo đi bầu cử Hội đồng nhân dân tỉnh và xã. Hội đồng nhân dân cử ra Ủy ban hành chính các cấp thay Ủy ban cách mạng lâm thời. Kết quả bầu cử Hội đồng, ông Nay Phin được điều về Pleiku giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Gia Lai. Ủy ban hành chính huyện Cheo Reo do ông Nay Der làm Chủ tịch, Ksor Ní làm Phó Chủ tịch, Rơchơm Thép làm ủy viên thư ký và Rơchơm But làm Chánh văn phòng Ủy ban hành chính. Ông Rơchơm Briu được phân công làm Chủ tịch vùng đông Cheo Reo (tức Mlah - Krông Pa), Rơchơm Tang làm Phó Chủ tịch, Rahlan Beo làm Ủy viên thư ký. Các ủy ban hành chính xã tăng thêm thành phần đại diện Việt Minh. Sự kiện này thể hiện lòng yêu nước, tinh thần cách mạng, ý thức chính trị của nhân dân, sự cố gắng của chính quyền và các đoàn thể đã vận động, tổ chức được nhân dân tham gia vào các hoạt động chính trị lớn của cả nước. Nhân dân đã thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ công dân trong xây dựng chính quyền ở địa phương, đáp ứng yêu cầu bảo vệ độc lập của chế độ mới.

Về kinh tế, có các phong trào vận động tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, mở rộng diện tích ruộng rẫy, tiết kiệm cứu đói trong huyện và quyên góp giúp đỡ những nơi khác trong tỉnh. Cán bộ, đồng bào đã quyên góp của cải, tiền bạc xây dựng quỹ độc lập, quỹ kháng chiến, quỹ cứu tế. Trong các đợt phát động “Tuần lễ vàng”, “Tuần lễ đồng”…, nhiều gia đình đã góp những đồng bạc trắng, vàng, kiềng bạc… là những thứ quý ở địa phương sung vào quỹ xây dựng đất nước, quỹ kháng chiến. Nhân dân tổ chức khai thác lâm thổ sản để bán đổi lấy lương thực; tổ chức vận chuyển các mặt hàng thiết yếu như vải, muối, nông cụ từ Phú Yên lên, từ Pleiku xuống phục vụ đồng bào và bộ đội trên các phòng tuyến chống Pháp.

Về giáo dục, chính quyền tỉnh, huyện đã khôi phục các trường học ở thị trấn; mở lại các lớp tiểu học cho con em đồng bào các dân tộc khu vực Mlah tại buôn Ma Rôk, buôn Ơi Nu, buôn Bông, Phú Cần… và nhiều lớp bình dân học vụ dành cho thanh niên và người lớn vào buổi tối tại các làng, xã; quy định học tiếng Kinh trong đồng bào dân tộc thiếu số và tiếng đồng bào dân tộc thiểu số trong đồng bào Kinh. Hoạt động giáo dục đã phát huy được tinh thần hiếu học trong con em đồng bào, góp phần xóa mù chữ cho hơn 70% thanh niên vùng đồng bào Kinh; nâng cao dân trí, nhận thức, giác ngộ chính trị cho nhân dân trong huyện tham gia tích cực xây dựng cuộc sống mới.

Về văn hóa, xã hội, chính quyền, Việt Minh đã vận động nhân dân thực hiện những quy định xây dựng đời sống mới; cử cán bộ phụ trách y tế, hướng dẫn phòng bệnh, chữa bệnh; vận động đồng bào bỏ các tập tục lạc hậu, mê tín dị đoan…

Về quân sự, ngay sau Tổng khởi nghĩa, theo chỉ thị của cấp trên, chính quyền huyện Cheo Reo đã lập các đội tự vệ, dân quân du kích. Đội tự vệ huyện được trang bị vũ khí thu được ở các đồn lính bảo an Cheo Reo, Mlah… Để giữ trật tự trị an, cán bộ còn về các làng, xã, thu gom số vũ khí phân tán trong dân, xây dựng các đội dân quân, du kích. Một số cán bộ và thanh niên được cử về thị xã Pleiku và tỉnh Phú Yên huấn luyện quân sự. Một số được cử đi học trường Quân chính của tỉnh mở tại An Khê. Ban cán sự tỉnh Gia Lai còn cử một số học sinh, sinh viên đi học lớp đào tạo sĩ quan, vệ quốc quân gồm: Siu Plung, Y Hônh, Ksor Hem, Rmah Bar, Siu Pui, Rahlan Rin, Ksor Kroh, Rahlan Moa, Ro Yok, Kpă Púi. Lớp học do Quân khu 5 thành lập tại Phú Phong (Bình Định). Lực lượng dân quân du kích được huấn luyện quân sự, tích cực xây dựng làng chiến đấu, phá đường, cầu cống trên các tuyến giao thông quan trọng số 7 và 7B; xây dựng công sự phòng tuyến chuẩn bị sẵn sàng chặn bước quân giặc. Đầu năm 1946, ở Cheo Reo, Mlah đã có hàng trăm thanh niên sẵn sàng gia nhập lực lượng vũ trang huyện. Mỗi xã đều có lực lượng dân quân trang bị vũ khí thô sơ để bảo vệ buôn làng.

Ngày 19-4-1946, theo chủ trương của Đảng và Chính phủ, tại Pleiku, Đại hội đoàn kết chống Pháp của các dân tộc thiểu số Nam Trung Bộ khai mạc với hơn 1.000 đại biểu. Đoàn đại biểu các dân tộc Bahnar, Jrai đại diện của tỉnh Gia Lai, trong đó có đại diện của huyện Cheo Reo đến dự. Các đại biểu dự Đại hội đều xúc động và thấm thía tình cảm của Bác Hồ khi nghe đọc thư của Người gửi cho Đại hội. Trong đó có viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam,đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau,... tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta... Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta”.

Lời kêu gọi đại đoàn kết dân tộc của Bác Hồ và kết quả Đại hội đã có ý nghĩa tác động to lớn đối với tinh thần đoàn kết các dân tộc ở Gia Lai, Tây Nguyên và các tỉnh Nam Trung Bộ. Ngay sau Đại hội, tại huyện Cheo Reo, Ủy ban hành chính và Việt Minh đã tổ chức tại thị trấn cuộc liên hoan đoàn kết dân tộc đánh Pháp với hơn 100 đại biểu, đồng bào thị trấn và đại biểu đồng bào khu vực Mlah cùng đại biểu các xã về dự. Đại diện Việt Minh huyện đọc thư của Bác Hồ kêu gọi nhân dân, các đoàn thể cứu quốc trong huyện thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nguyện đoàn kết, ủng hộ Chính phủ chống Pháp xâm lược, bảo vệ đất nước.

Mặt trận Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, phía tây và phía nam tỉnh Gia Lai ngày một diễn biến phức tạp, quân Pháp đã tấn công quân ta ở một số nơi. Tỉnh ủy, Ủy ban hành chính tỉnh Gia Lai chủ trương thực hiện tiêu thổ kháng chiến. Nhiều địa phương, cả thị xã Pleiku đã thực hiện phá đường, cầu cống, sơ tán kho tàng đến những vùng an toàn. Ta xây dựng các phòng tuyến ngăn chặn quân Pháp trên các tuyến đường 19 và 14, từ Pleiku đi An Khê; từ thị trấn Cheo Reo theo đường số 7 lên Mỹ Thạch, xuống Mlah đi Củng Sơn, Tuy Hòa; từ Cheo Reo đi An Khê và Buôn Hồ theo đường số 7B.

Ngày 21-6-1946, quân Pháp có phi pháo yểm trợ đồng loạt tấn công phòng tuyến của quân ta ở Buôn Hồ và điểm chốt Plei Mođen (Chư Ti). Bộ đội ta đã chiến đấu dũng cảm, ngăn chặn bước tiến quân giặc, giằng co kéo dài thời gian cho lực lượng phía sau cùng cơ quan lãnh đạo tỉnh và nhân dân sơ tán rút về phía đông và đông bắc.

Ngày 25-6-1946, ta chủ động rút lui để bảo toàn lực lượng, quân Pháp tiến chiếm thị xã Pleiku trong cảnh vườn không, nhà trống. Địch theo đường 14, 19 lần lượt đánh chiếm thị xã Kon Tum, An Khê. Các cơ quan tỉnh Gia Lai chuyển xuống Phú Phong thuộc Bình Khê, Bình Định; cơ quan huyện An Khê chuyển về Vĩnh Thạnh, huyện Bình Khê, Bình Định xây dựng địa bàn đứng chân tạm thời.

Từ ngày 25-6-1946, quân Pháp tại thị xã Pleiku chia thành hai cánh đánh chiếm thị trấn Cheo Reo, Ơi Nu, Mlah. Cơ quan lãnh đạo huyện Cheo Reo đã kịp thời chủ trương tách một bộ phận cơ quan chính quyền, đoàn thể và cán bộ huyện về xã Đất Bằng để xây dựng căn cứ kháng chiến. Xã Đất Bằng có trên khoảng 1.000 dân, giáp giới vùng tự do tỉnh Phú Yên. Bộ phận này gồm cơ quan Ủy ban hành chính, Mặt trận Việt Minh huyện do Chủ tịch Nay Der trực tiếp lãnh đạo cùng các ông Rơchơm Briu, Rơchơm Rok, Siu Plung, Siu Sinh, Rơchơm But, Ksor Thel. Nay Brui, Rahlan Sut đi bám các buôn để tuyên truyền nhân dân xây dựng cơ sở cách mạng đấu tranh với giặc, lập căn cứ kháng chiến. Trong lúc di chuyển cơ quan huyện, một bộ phận bị quân Pháp bao vây. Đồng chí Rơchơm Briu bị địch bắt, một số đồng bào hoang mang lo sợ. Cán bộ huyện đã kịp thời lãnh đạo ổn định tư tưởng cho cán bộ và nhân dân. Bộ phận cán bộ trụ lại thị trấn do đồng chí Rơchơm Thép, Nay Then, Siu Ken phụ trách đã lãnh đạo cán bộ, tự vệ dân quân du kích bám sát, nắm tình hình địch, vận động nhân dân và tham gia cùng bộ đội chiến đấu.

Để nắm lại cơ sở nam Tây Nguyên, Phân ban Quốc dân thiểu số Trung Bộ thành lập hai bộ phận công tác gồm các cán bộ dân tộc ở địa phương cấp tốc trở về chiến trường. Bộ phận phụ trách cơ sở vùng Cheo Reo có Rơchơm Thép, Nay Then, Siu Ken, Nay Jú. Các anh Nay Brui vượt ngục tìm xuống Củng Sơn, Rơchơm Briu vượt ngục cũng tìm xuống An Khê gặp cán bộ và tiếp tục hoạt động cách mạng tại Gia Lai - Kon Tum. Một bộ phận phụ trách vùng Buôn Hồ có Minh Sơn (Y Jônh), Y Bun (Ama Khe).

Đầu tháng 7-1946, cụ Nay Der được cử xuống Tuy Hòa đón cán bộ từ Phòng quốc dân thiểu số Trung bộ ở Quảng Ngãi vào để họp bàn công tác. Đồng chí Siu Pui (Ama Thương) lúc này được đồng chí Bùi San rút về làm cán bộ Phòng quốc dân thiểu số Trung Bộ. Đồng chí Bùi San giao nhiệm vụ cho đồng chí Siu Pui, Minh và đồng chí Thuyết là các cán bộ của Phòng quốc dân thiểu số Trung bộ về tại Phân ban Quốc dân thiểu số ở Tuy Hòa để cùng cụ Nay Der họp bàn chủ trương xây dựng và mở rộng căn cứ vùng Đất Bằng.

Sau 10 tháng, từ Tổng khởi nghĩa Tháng Tám đến khi thực dân Pháp tái chiếm Pleiku, An Khê, Cheo Reo, tỉnh Gia Lai đã xây dựng, củng cố được chính quyền, Mặt trận Việt Minh và thành lập Đảng bộ tỉnh. Dưới sự chỉ đạo của tỉnh, cùng với cán bộ, nhân dân trong tỉnh, cán bộ đồng bào các dân tộc thiểu số huyện Cheo Reo đã nêu cao tinh thần yêu nước, đoàn kết thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, xây dựng hệ thống chính quyền, Mặt trận Việt Minh khắp các làng, xã. Cán bộ và nhân dân tích cực tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống về kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng cuộc sống mới, chuẩn bị lực lượng sẵn sàng chiến đấu và tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

II- XÂY DỰNG CƠ SỞ CÁCH MẠNG, THÀNH LẬP ĐẢNG BỘ, ĐẨY MẠNH ĐẤU TRANH TRONG VÙNG ĐỊCH (1946 - 1949)

Sau khi tái chiếm tỉnh Gia Lai, từ tháng 6 đến trước ngày toàn quốc kháng chiến (19-12-1946), địch chiếm đóng chủ yếu ở thị xã, thị trấn và những điểm quan trọng trên các tuyến đường giao thông. Tại các vùng chiếm đóng, thực dân Pháp khủng bố, trả thù nhân dân, xóa bỏ những thành quả cách mạng của chế độ mới, lập lại bộ máy cai trị của chế độ cũ. Chúng đổi tên huyện, làng, xã, tổng, hạt cả ở vùng người Kinh và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Bộ máy ngụy quyền tay sai được chúng dựng lên. Thực dân Pháp cho tổ chức cái gọi là “Đại hội nhân dân” tập hợp bọn tay sai phản động thực hiện âm mưu lập xứ “Tây kỳ tự trị”, lập Ủy phủ liên bang của các tỉnh Tây Nguyên trực thuộc Cao ủy Pháp ở Đông Dương. Các chức công sứ, tri huyện, chánh tổng, lý trưởng và chủ làng được chúng đặt lại. Dựa vào ngụy quyền, thực dân Pháp vừa thực hiện chính sách khủng bố, bắt bớ Việt Minh, vừa dùng gạo, muối, vải vóc, chính sách Quinime... để mua chuộc nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc Bahnar và Jrai.

Quân Pháp lập lại tiểu khu Pleiku, các chi khu quân sự An Khê, Cheo Reo. Một hệ thống đồn bốt, cứ điểm được dựng lên ở An Khê, Mang Yang, Cheo Reo… Trên đường 7 từ Cheo Reo đến Kà Lúi, Pháp cho xây dựng các cứ điểm Ơi Nu – Mlah – Kà Lúi, mục đích án ngữ vùng giáp ranh giữa Gia Lai với các vùng tự do Phú Yên, nhằm cô lập lực lượng kháng chiến.

Về bộ máy hành chính, thực dân Pháp đổi làng, xã thành tổng, hạt. Ở huyện Cheo Reo có ông huyện Bư người Jrai làm tri huyện. Dưới huyện có hạt, dưới hạt có tổng, rồi đến các buôn làng. Cai quản từ hạt trở xuống, quân Pháp giao cho người địa phương quản lý. Phần lớn những người Pháp đưa ra cai quản ở hạt, tổng trước kia làm việc hoặc đi lính cho Pháp, hoặc một số phần tử xấu có tội ác với cách mạng. Khu vực đông Cheo Reo có Distrist (hạt) Mlah gồm 6 tổng: Ơi Nu, Chư Drăng, Đất Bằng, Kà Lúi, Sông Ba và tổng Mlah.

Thực dân Pháp khôi phục lại các thứ thuế mà chính quyền cách mạng đã bãi bỏ, như tăng thuế đinh cả người Kinh và người dân tộc thiểu số, nhằm cướp bóc, vơ vét tiền của phục vụ chiến tranh. Chúng chiếm lại các đồn điền, bắt xâu, đẩy mạnh khai thác tài nguyên, cướp bóc lúa gạo, trâu bò, lợn gà... của nhân dân.

Ở Cheo Reo, trong những ngày đầu đánh chặn quân Pháp tại thị trấn, lực lượng ta có bị tổn thất, một số cán bộ bị bắt, một số bị thương. Địch thực hiện âm mưu xây dựng các khu tập trung gần đồn bót, để vừa dễ kiểm soát và vừa tạo lá chắn che chở chúng khi bị quân ta tấn công. Từ những căn cứ, đồn bốt, chi khu quân sự, quân Pháp liên tiếp mở các cuộc hành quân đánh phá vùng giáp ranh giữa Cheo Reo với Phú Yên, uy hiếp, khủng bố dân dọc đường số 7 phía đông Cheo Reo (huyện Krông Pa hiện nay). Trước sức khủng bố tàn ác của địch, một số quần chúng nhân dân có phần hoang mang, dao động. Địch thường xuyên đưa quân phục kích bắn giết, bắt cán bộ, bộ đội ta trên các trục hành lang đi lại. Địch tổ chức mạng lưới gián điệp tung vào vùng ta kiểm soát nắm tình hình, lung lạc cán bộ, lôi kéo quần chúng nhân dân, nhằm ly gián nhân dân với cán bộ và bộ đội ta.

Cơ quan lãnh đạo của huyện bị phân tán. Địa bàn trong tỉnh bị chia cắt giữa vùng địch chiếm đóng và vùng cách mạng. Sự liên lạc giữa huyện và tỉnh, giữa bộ phận ở Đất Bằng với bộ phận bám trụ ở các địa bàn và thị trấn cùng cơ sở bí mật gặp khó khăn, bị gián đoạn.

Từ cuối năm 1946, địch ra sức chia rẽ đoàn kết Kinh - Thượng. Do đó, việc giác ngộ quần chúng trước âm mưu của địch đã trở thành nhiệm vụ hàng đầu của quân dân khu V và Tây Nguyên. Các tỉnh Tây Nguyên được củng cố về Đảng, chính quyền và đoàn thể. Tỉnh ủy, Ban cán sự các tỉnh Lâm Viên, Đồng Nai Thượng, Đăk Lăk, Gia Lai được tái lập.

Ngày 19-12-1946, không còn khả năng cứu vãn hòa bình, để bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, Đảng ta và Chính phủ Hồ Chí Minh đã chủ động phát động cuộc kháng chiến toàn quốc, với phương châm toàn dân, toàn diện và trường kỳ kháng chiến. Trung ương Đảng ra Chỉ thị Toàn dân kháng chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến - Hịch cứu nước kêu gọi đồng bào cả nước đứng lên kháng chiến: “...Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp, cứu nước”...

Lúc này, Trung đoàn 79 và Tiểu đoàn N’Trang Lơng liên tiếp đánh địch càn quét lấn chiếm ở Củng Sơn, Mlah, Kà Lúi, thu vũ khí, gây cho địch nhiều thiệt hại. Để bám sát chiến trường đánh địch, Trung ương quyết định chuyển các trung đoàn độc lập của Khu V thành các trung đoàn phụ trách quân sự của các tỉnh. Trung đoàn 79 được chuyển giao cho tỉnh Đăk Lăk. Tỉnh Gia Lai tiếp nhận Trung đoàn 120, gồm cán bộ, chiến sĩ đều là người dân tộc thiểu số. Trung đoàn 83 đứng chân ở xã Phước Tân, Sơn Hòa, Phú Yên. Các đơn vị bộ đội này có nhiệm vụ chiến đấu, tiêu diệt địch, hỗ trợ phong trào kháng chiến của Đăk Lăk, dọc tuyến đường 7, Cheo Reo, tây Phú Yên.

Tháng 2-1947, Ủy ban hành chính tỉnh Gia Lai được đổi tên thành Ủy ban kháng chiến tỉnh. Huyện Cheo Reo được Khu V tăng cường đoàn cán bộ Phòng quốc dân thiểu số Tây Nguyên từ Phú Yên lên hoạt động tại vùng Đất Bằng, do đồng chí Ksor Ní làm đoàn trưởng. Trong đoàn có 3 đảng viên là Ksor Ní , Rơchơm Thép, Rơchơm But, sinh hoạt như một tổ Đảng thuộc chi bộ Phòng quốc dân thiểu số, đóng tại buôn Ma Lúa xã Kà Lúi, huyện Sơn Hòa, Phú Yên. Đây là 3 đảng viên người Jrai đầu tiên của huyện Cheo Reo. Đoàn công tác chia thành 2 đội vũ trang tuyên truyền để luồn sâu vào vùng địch kiểm soát, móc nối lại cơ sở và nắm dân. Đội vũ trang của đồng chí Rơchơm Thép phụ trách vùng Ơi Nu – Ma Rôk; đội của đồng chí Ksor Ní và đồng chí Siu Pui (Ama Thương) bám địa bàn buôn Thưk, buôn H’Muk, buôn Sai, lúc đó thuộc xã Sông Ba, nay thuộc xã Chư Ngọc, huyện Krông Pa.

Tháng 3-1947, Ủy ban kháng chiến huyện Cheo Reo được củng cố do cụ Nay Der làm Chủ tịch, đồng chí Ksor Ní, Phó chủ tịch; đồng chí Rơchơm Thép ủy viên thư ký; đồng chí Rơchơm But, Chánh văn phòng. Ủy ban rất quan tâm tổ chức, hướng dẫn đồng bào tăng gia sản xuất, cho nhân dân mượn trâu bò, tiền vốn, giống… Mở các cửa hàng bán nhu yếu phẩm cho nhân dân như muối, vải tám, nông cụ và mua lại nông sản để giải quyết đời sống cho nhân dân trong vùng.

Trong một thời gian ngắn, căn cứ Đất Bằng của huyện được mở rộng ra cả vùng Ơi Nu. Cơ sở chính trị, chính quyền và lực lượng dân quân, du kích ở các làng phía đông sông Ba nhanh chóng phát triển, các đội vũ trang tuyên truyền đã phát triển cơ sở cách mạng khắp trong toàn huyện, từ phía bắc xuống phía nam lên phía tây. Các tổ chức đoàn thể quần chúng: thanh niên, phụ nữ, phụ lão cứu quốc được hình thành. Huyện mở Đại hội nhân dân đoàn kết đánh Pháp ở từng xã, từng vùng, tiến tới Đại hội toàn huyện vào tháng 4-1947. Qua các lần Đại hội, đồng bào thấy được dã tâm xâm lược của thực dân Pháp và hiểu rõ chủ trương, đường lối kháng chiến cứu nước của Việt Minh nên rất tin tưởng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp. Huyện thành lập trung đội dân quân do đồng chí Hà Thúc Tự, chỉ huy trưởng; đồng chí Rơchơm Thép làm chính trị viên. Trung đội được trang bị vũ khí thô sơ như gươm, giáo, mác... và 5 khẩu súng trường thu được của địch. Cơ sở hậu cần của trung đội vũ trang lúc đầu dựa vào sự đóng góp của nhân dân. Về sau, đơn vị làm nhiệm vụ vừa chiến đấu, vừa tăng gia sản xuất để tự túc hậu cần. Trung đội này là lực lượng vũ trang đầu tiên của huyện Cheo Reo trong kháng chiến chống Pháp do tổ chức Đảng lãnh đạo.

Với tinh thần tích cực đánh địch để củng cố lòng tin của nhân dân trong vùng địch hậu, làm hậu thuẫn cho việc xây dựng cơ sở, các hướng đều đẩy mạnh hoạt động. Tại Kà Lúi, ngày 5- 4-1947 ta diệt 8 tên địch. Trên đường đi Ma Rôk, 1 xe địch trúng mìn, 4 tên bị tiêu diệt. Ngày 23-5-1947, ta đánh cầu Mlah giết 1 tên Pháp, 15 lính nguỵ, thu 2 máy FM, 1 tiểu liên, 8 súng trường và nhiều đạn…

Tháng 8-1947, Trung ương Đảng, Chính phủ quyết định lập Khu 15 thay cho Ủy ban chỉ huy Tây Nguyên, đặc trách ba tỉnh Tây Nguyên là Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk. Cơ quan Khu 15 đóng tại vùng Thồ Lồ, Phú Yên, có Ban cán sự Đảng, Ban chỉ huy quân sự và Phân ban kháng chiến Tây Nguyên. Khu tăng cường cán bộ và lực lượng bộ đội chủ lực cho tỉnh Gia Lai, giao Trung đoàn 120 do đồng chí Trương Cao Dũng làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Phan Thêm, Ủy viên Ban cán sự Khu 15, Bí thư Tỉnh ủy làm Chính trị viên về hoạt động tại Gia Lai.

Có thêm lực lượng cán bộ tại địa phương bổ sung, ngày 10-8-1947, tại buôn Ma Hing xã Đất Bằng, Chi bộ Đảng ở Cheo Reo được thành lập do đồng chí Ksor Ní làm Bí thư. Đây là chi bộ Đảng đầu tiên ở Cheo Reo. Bấy giờ, trong toàn huyện Cheo Reo đã có 40 làng xây dựng được cơ sở cách mạng và nhiều làng ta đã nắm được tề trong tổng số 214 làng toàn tỉnh.

Để tăng cường sự chỉ đạo, theo Quyết nghị của Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ số 511/TB/ND ngày 6 tháng 11 năm 1947, huyện Cheo Reo của tỉnh Gia Lai được đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban liên lạc hành chính Tây Nguyên, cơ quan đóng tại xã Xuân Phước, Đồng Xuân, Phú Yên. Một số xã của hai huyện miền tây Phú Yên là Sơn Hòa và Đồng Xuân, như Đá Mài, Bầu Bèng, Suối Trai… được giao cho huyện Cheo Reo (Gia Lai) và MĐrak (Đăk Lăk) quản lý. Đồng bào vùng này vốn có mối quan hệ mật thiết với đồng bào các dân tộc huyện Cheo Reo và MĐrak. Tỉnh Đăk Lăk đã lấy vùng này xây dựng bàn đạp để chỉ đạo cuộc kháng chiến trên địa bàn tỉnh. Do đó phía nam huyện Cheo Reo đã trở thành địa bàn trú quân, kho tàng của cán bộ, bộ đội cung cấp cho tỉnh Đăk Lăk.

Cuối tháng 12-1947, trong một cuộc càn ở vùng Buôn Hồ, địch bắt được một cán bộ ta có tài liệu xây dựng cơ sở. Ngay sau đó, chúng tập trung đánh phá, khủng bố nhân dân vùng Buôn Hồ làm cho phần lớn cơ sở của ta ở đây bị vỡ. Các đơn vị ở vùng sâu mất chỗ đứng phải lui về căn cứ miền tây Phú Yên, nơi đặt cơ quan đầu não của tỉnh và khu.

Ngày 5-1-1948, địch từ Cheo Reo, Ơi Nu tổ chức thành hai cánh quân đánh xuống Củng Sơn, Buôn Jú, Buôn Ji (nay thuộc xã Krông Năng huyện Krông Pa). Ngay từ đầu, chúng đã bị bộ đội bảo vệ hậu cứ chặn đánh ở Củng Sơn và các vùng xung quanh, buộc phải rút chạy về Kà Lúi, Tây Bắc Củng Sơn 28 km. Ngày 14-1, từ hướng MĐrak, Cheo Reo, địch tăng thêm hai cánh quân đánh xuống Củng Sơn. Tuy đã biết trước nhưng vì Tiểu đoàn Chi Lăng của Khu 6 phòng thủ sơ hở nên đã để địch lọt sâu vào căn cứ. Nhưng sau đó, tiểu đoàn đã tổ chức lực lượng, tích cực chặn đánh không cho địch mở rộng phạm vi càn quét. Trong thời gian địch sử dụng lực lượng lớn tiến đánh Buôn Jú, Buôn Ji, Tiểu đoàn 10 đã tích cực chặn đánh, nên mặc dù địch đến được Củng Sơn, nhưng không thực hiện được mục đích đánh phá cơ quan đầu não của ta, do lực lượng tập trung và du kích Đăk Lăk, Phú Yên đánh mạnh buộc địch phải rút về Cheo Reo.

Đầu năm 1948, sau thất bại ở Việt Bắc, quân Pháp ở chiến trường Tây Nguyên tăng cường càn quét vùng tự do của ta ở Dleiya. Chúng thay đổi chiến lược từ đánh nhanh thắng nhanh sang thực hiện chiến lược “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt trị người Việt”. Quân Pháp càn quét bắt 2.000 thanh niên ở Buôn Hồ, Pleiku và Cheo Reo vào lính nguỵ; đẩy mạnh xây dựng bộ máy tề, nguỵ, tuyên truyền chính sách mị dân chia rẽ Kinh - Thượng; chia rẽ dân tộc này với dân tộc khác. Trong vùng chiếm đóng, chúng dùng vải, muối, thuốc chữa bệnh phát cho một số đồng bào ta để mua chuộc lòng dân. Chúng thực hiện chính sách “Tôn giáo hóa” đồng bào ta ở Tây Nguyên, nhất là đạo Thiên Chúa, đạo Tin Lành, Cao Đài… tập trung nhiều nhất ở Cheo Reo. Với các thủ đoạn cho bọn tay sai kiểm soát chặt chẽ nhân dân; làm ra vẻ bề ngoài tôn trọng tự do của nhân dân, “không can thiệp vào công việc của dân” bằng pháp luật. Với chính sách thâm độc trên, thực dân Pháp đã gây cho phong trào kháng chiến ở Tây Nguyên nhiều khó khăn, thiệt hại về người và tài sản.

Từ giữa năm 1948, chiến trường Nam Trung Bộ được đẩy mạnh, mở rộng. Mặt trận Đăk Lăk diễn biến ác liệt hơn, đồng thời đặt ra yêu cầu lớn về chi viện lực lượng, vũ khí và hậu cần. Địa bàn Cheo Reo có ý nghĩa quan trọng làm bàn đạp đứng chân của lực lượng ta phát triển vào Đăk Lăk và nam Tây Nguyên. Chính vì vậy, tháng 8-1948, đặc phái viên của Chính phủ tại Nam Trung Bộ đã có Nghị định 203/CP giao huyện Cheo Reo cho tỉnh Đăk Lăk chỉ đạo. Ngày 10-8-1948, Ban cán sự Đảng Đăk Lăk chỉ định Ban cán sự Đảng huyện Cheo Reo gồm 3 đồng chí do đồng chí Ksor Ní làm Bí thư. Việc thành lập Ban cán sự huyện Cheo Reo đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ phong trào kháng chiến của quân dân vùng Cheo Reo.

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương mở rộng (20-1-1948) đã chủ trương đẩy mạnh cuộc kháng chiến toàn quốc sang một giai đoạn mới. Nhiệm vụ chính là củng cố khối đoàn kết toàn dân; tiến công địch, phá âm mưu “dùng người Việt trị người Việt”, “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh” của thực dân Pháp; đẩy mạnh tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân và bộ đội; kiện toàn cơ quan kháng chiến các cấp.

Hội nghị Phân ban kháng chiến hành chính Tây Nguyên căn cứ vào chủ trương của Đảng và Chính phủ đã quyết định đưa các đội công tác tuyên truyền vũ trang và đại đội độc lập hầu hết là cán bộ, chiến sĩ người dân tộc thiểu số, đi sâu vào vùng địch để xây dựng cơ sở; gây ảnh hưởng cách mạng ở những nơi ta chưa có chính quyền, phát triển thêm lực lượng, huấn luyện và phát động chiến tranh du kích. Liên Khu ủy V và Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ chỉ thị cho các tỉnh vùng tự do Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên có trách nhiệm tăng cường cán bộ, đảng viên cho các tỉnh Tây Nguyên; giúp đỡ vật chất cho công tác gây dựng cơ sở địch hậu.

III- CỦNG CỐ VÀ PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG, TIẾN CÔNG TIÊU DIỆT ĐỊCH, GÓP PHẦN KẾT THÚC THẮNG LỢI CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1950 -1954)

Tháng 3-1948, cụ Nay Der được điều đi làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Kon Tum, đồng chí Ksor Ní được cử giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính huyện Cheo Reo, đồng chí Rơchơm Thép làm Phó chủ tịch. Huyện đội cũng được củng cố, do đồng chí Rơchơm Thép làm Huyện đội trưởng, đồng chí Nay Then làm Huyện đội phó. Ngoài trung đội du kích tập trung (gồm 40 người, toàn người Jrai), lúc này huyện Cheo Reo đã có 255 dân quân, du kích trong 5 xã Ơi Nu, Đất Bằng, Sông Ba, Chư Drăng, cả vùng Uar và Ia Rbol (tây nam Cheo Reo). Lúc đầu tổ chức hai lực lượng dân quân, lực lượng làm nhiệm vụ dẫn đường canh gác, báo tin, chạy giấy tờ, đưa đồng bào đi tránh khi địch càn và lực lượng dân quân du kích tập trung, được huấn luyện từ thấp lên cao do bộ đội chủ lực huấn luyện. Các đại đội 12, 18 luôn có từ 3 đến 5 trung đội phân tán bám dân, tổ chức vót chông, gài mang cung, bẫy đá,... bố phòng các vùng, chốt hướng địch thường đi càn. Một trung đội ở hậu cứ vùng tự do Phú Yên làm nhiệm vụ sản xuất tự túc chăn nuôi, trồng mì.

Thực hiện phương châm xây dựng, phát triển cơ sở Đảng và các đội vũ trang tuyên truyền của Trung ương, trong năm 1948, ở Gia Lai có đại đội 12 của Trung đoàn 79 do đồng chí Võ Dũng phụ trách và một đội vũ trang tuyên truyền do đồng chí Nguyễn Lê làm đội trưởng, đã đến hoạt động ở phía tây Cheo Reo. Phía đông huyện Cheo Reo có đại đội vũ trang 29 do đồng chí Rơchơm Nghiêu phụ trách. Tuy gặp khó khăn bước đầu, nhưng sau đó cả hai vùng đông và tây Cheo Reo đã xây dựng được một số cơ sở ngay trong các làng, xã địch chiếm đóng.

Tháng 5-1948, địch từ các cứ điểm Cheo Reo, Ơi Nu, Kà Lúi gồm hai tiểu đoàn, chia làm hai cánh, một cánh càn xuống vùng Buôn Ban, Buôn Jú, Buôn Ji (xã Krông Năng); một cánh có hỏa lực cối 81 tấn công theo đường
số 7 từ Chư Ma Thiêng đánh xuống đến Củng Sơn, một hướng đánh xuống Buôn Bá, Buôn Ma Tê, Buôn Bau, Buôn Keng (MĐrak) cho tới Chư M’Dan (nay thuộc huyện Sông Hinh). Ta chặn đánh quyết liệt, song do lực lượng quá chênh lệch, ta chủ trương rút lui để củng cố lực lượng. Địch đến được Củng Sơn, nhưng lại bị lực lượng tập trung của Trung đoàn 84 vây đánh, buộc chúng phải rút về Cheo Reo và Buôn Hồ.

Những cuộc càn quét liên tục và ác liệt của địch trên một diện rộng đã làm cho tình hình Đăk Lăk nói chung và vùng đông Cheo Reo - Krông Pa trở nên khó khăn hơn. Các cơ sở vùng sâu phần lớn bị phá vỡ, lực lượng chủ lực rút về miền tây Phú Yên để củng cố. Cán bộ, chiến sĩ sức khỏe giảm sút do thiếu lương thực và thuốc men. Ở những vùng ta làm chủ, địch cướp hết trâu bò, đốt phá nhà cửa, kể cả Tân Vinh, Trà Kê thuộc tỉnh Phú Yên, tiếp giáp với xã Đất Bằng. Tuy nhiên, từ năm 1948, Cheo Reo đã có cơ sở tương đối vững vàng ở các xã phía đông nam huyện là Đất Bằng, Ơi Nu và các xã nam Sông Ba, Chư Drăng, tạo thành hành lang nối liền vùng tự do Phú Yên với vùng diễn ra tranh chấp quyết liệt MĐrak. Lúc này tỉnh Đăk Lăk đã xây dựng được căn cứ Dleiya (còn gọi là Chiến khu 40 - gọi tắt CK 40), một vùng nằm quanh dãy núi Dleiya án ngữ giữa huyện Cheo Reo và huyện Buôn Hồ. Cơ sở chính trị và dân quân du kích ở xã Dleiya và các buôn phụ cận được củng cố tạo thành vành đai bảo vệ CK 40. Chiến khu trở thành trạm trung chuyển giữa cơ quan tỉnh Đăk Lăk với các huyện phía sau, là nơi tập kết, điều động lực lượng cho chiến trường Đăk Lăk. Trong chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1950, CK 40 là nơi tiền phương đứng chân chỉ đạo của Ban cán sự Đảng bộ tỉnh Đăk Lăk.

Nhân dân miền tây Phú Yên và đông Cheo Reo (Krông Pa) đã hết lòng, hết sức đùm bọc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho Đăk Lăk phát triển mọi mặt. Có sự chi viện của miền xuôi, tỉnh đã mở những hợp tác xã ở Đất Bằng và Thạnh Hội (nay là xã Sơn Hội, huyện Sơn Hòa) để trao đổi các sản phẩm địa phương… Để nhân dân trao đổi mua bán được thuận lợi, tỉnh còn mở mang thêm chợ phiên lưu động giữa các vùng. Tại căn cứ Đất Bằng, tỉnh đã thành lập các cơ sở công nghiệp như xưởng dệt, xưởng sản xuất thuốc lá, khu vực chăn nuôi… Tỉnh còn thành lập Ty kinh tế để tiếp nhận sự chi viện của các tỉnh đồng bằng Khu V, lập các kho dự trữ và cung cấp lương thực, thuốc men, nhu yếu phẩm cho bộ đội, cán bộ và nhân dân.

Việc sáp nhập Cheo Reo vào Đăk Lăk đã tạo thế liên hoàn, thúc đẩy phong trào kháng chiến chống Pháp của Phú Yên, Gia Lai, Đăk Lăk phát triển.

Thực hiện chủ trương củng cố lực lượng vũ trang Nam Trung Bộ, tháng 10-1948, các Khu V và Khu XV hợp nhất lại thành Liên khu V. Bộ máy lãnh đạo Đảng, chính quyền, quân sự của Liên khu được củng cố. Liên khu V quyết định giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 120 ở Bình Định phụ trách công tác quân sự, chính trị địa bàn tây Bình Định và chiến trường tỉnh Gia Lai. Trong số 1 tiểu đoàn tập trung, 3 đại đội độc lập và 3 đội vũ trang tuyên truyền của E120 hoạt động trên địa bàn tỉnh Gia Lai có một đại đội độc lập và một đội vũ trang tuyên truyền hoạt động trên địa bàn huyện Cheo Reo. Lực lượng bộ đội này cùng với các đơn vị bộ đội trước đó và cán bộ dân chính, lực lượng du kích, dân quân của huyện đẩy mạnh xây dựng cơ sở chính quyền cách mạng các buôn dọc từ hai bên bờ sông Ba và đã có cơ sở ở 22 buôn làng, từ buôn Pan, buôn Puh đến buôn Ơi Nu… Trong hoạt động phối hợp công tác, chiến đấu giữa bộ đội, dân quân, du kích và cán bộ dân chính đã xuất hiện nhiều cán bộ, chiến sĩ tiêu biểu như Ơi Lưng (Ma Djet), Ama Tyh, Ma Đăm, Ma Diêk, Y Bua, Ma Hâm, Ơi Yem, Ma H’Pran, H’Pran, Ma Yú, Ma Chen, Ma Soan, Y King… đều là người dân tộc thiểu số địa phương. Số cán bộ này được tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận và lực lượng vũ trang bồi dưỡng để kết nạp vào Đảng. Đến giữa năm 1949, Đảng bộ Cheo Reo đã xây dựng được 3 chi bộ với 70 đảng viên hoạt động trong các cơ quan huyện, đội công tác, lực lượng dân quân, du kích và trong các xã.

Tại các buôn làng vùng tạm chiếm, nhân dân không bán một thứ gì cho địch, không đưa hàng hóa của địch ra vùng tự do. Việc đi lại giữa vùng địch chiếm đóng được công an tỉnh kiểm soát chặt chẽ. Nhờ những biện pháp tích cực, nạn đói giáp hạt được giảm bớt, nạn lạt muối, thiếu nông cụ sản xuất, thiếu vải may mặc được giải quyết một phần ở những vùng căn cứ và vùng bất hợp tác với địch. Ngoài ra, nhân dân còn có điều kiện đóng góp cho cách mạng hàng trăm tấn gạo, hàng trăm trâu bò...

Trong vùng căn cứ Đất Bằng, trường nội trú được mở để dạy chữ phổ thông và chữ Jrai cho thanh, thiếu niên do chính cụ Nay Der, Nay Brui và Ksor Ní đảm nhiệm. Trường đã thu hút được đông đảo con em nhân dân cả vùng đông Cheo Reo đến học, có lúc lên tới 55 em và một số cán bộ xã, buôn. Một số học sinh sau khi học xong, được đưa xuống Phung Niên (Phú Yên) để thi, nếu tốt nghiệp được đưa về làm cán bộ, giáo viên ở các làng, xã. Các lớp bình dân học vụ được mở để xóa nạn mù chữ cho nhân dân. Chỉ trong thời gian ngắn, từ năm 1947 đến năm 1949, đã có hàng trăm cán bộ, nhân dân thoát khỏi nạn mù chữ. Phong trào giữ vệ sinh, môi trường sống, phòng bệnh được thực hiện tốt. Các đội y tế lưu động đi khám chữa bệnh, phát thuốc cho bộ đội và nhân dân; vận động xây dựng đời sống mới như sạch nhà, sạch làng, cắt tóc ngắn, ăn chín, uống sôi, giảm bớt các phong tục tập quán lạc hậu, sức khỏe của nhân dân được nâng lên, không bị dịch bệnh nguy hiểm.

Bằng những hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội đó, trong hai năm 1948 -1949, vùng căn cứ Đất Bằng - Cheo Reo được xây dựng, củng cố, trở thành bàn đạp vững chắc cho phong trào kháng chiến của huyện và tỉnh.

Đi đôi với việc xây dựng vùng căn cứ, trong năm 1949, lực lượng vũ trang Cheo Reo phối hợp với Trung đoàn 120 và Trung đoàn 84 liên tục đánh địch trên đường số 7 từ Kà Lúi đi Mlah và đoạn từ Mlah đi Ơi Nu, phục kích đánh địch dọc đường 19 đoạn đèo Mang Yang. Các đội công tác bám trụ khôi phục cơ sở cách mạng ở những vùng xung yếu hai bên bờ sông Ba và các đường giao thông quan trọng, tổ chức nắm tình hình bộ máy tề ngụy, khống chế bọn tay sai phản động thực hiện phá tề, trừ gian, diệt ác, phân hóa bọn tay sai trong chính quyền địch. Một số tề ngụy ngả dần theo Việt Minh, tham gia lực lượng kháng chiến, tìm cách che chở cho ta hoạt động trong vùng địch hậu. Một số tên tay sai nguy hiểm làm chánh tổng, những tên Việt gian đầu sỏ như Ama Nga, Ama Kuai, Y Su… bị ta trấn áp, tiêu diệt. Công tác binh địch vận ở Cheo Reo (địa phận Krông Pa hiện nay) cũng đẩy mạnh, tạo điều kiện cho phong trào kháng chiến phát triển đều khắp.

Từ giữa năm 1949, Liên khu ủy V chủ trương thực hiện thống nhất chế độ Ban cán sự Đảng đối với các tỉnh Tây Nguyên. Ban các sự Đảng Đăk Lăk được bổ sung từ 3 đồng chí lên 7 đồng chí, đồng chí Lê Vụ nguyên Bí thư Tỉnh ủy Phú Yên được điều lên làm Bí thư Ban cán sự thay cho đồng chí Nguyễn Khắc Tính. Trung đoàn 84 được bổ sung thêm lực lượng, các cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần được tăng cường thêm một bước. Đồng chí Phạm Kiệt (T2) được cử làm Trung đoàn trưởng thay cho đồng chí Lê Lương. Thực hiện chế độ chính ủy trong quân đội, đồng chí Đoàn Khuê được cử làm chính ủy Trung đoàn 84 thay đồng chí Nguyễn Trọng Ba. Các ban chuyên môn của Đảng, các Ty chuyên môn của chính quyền, các cơ quan đoàn thể quần chúng của tỉnh đều được bổ sung, kiện toàn một bước. Trường đào tạo cán bộ địch hậu Tây Nguyên đã điều hàng trăm cán bộ cho Đăk Lăk. Trong số đó, có các đồng chí được phân công trực tiếp về chiến trường Krông Pa - Cheo Reo, trở thành cán bộ chủ chốt của địa phương như đồng chí Nguyễn Địch, Bí thư Ban cán sự huyện, đồng chí Trương Phụng Tiến (Ama Kim) trưởng Công an huyện, đồng chí Đặng Bốn phụ trách xã Sông Ba, Nguyễn Tiển (Ama Đam) phụ trách xã Ơi Nu, đồng chí Võ Ngọc Châu (Ama Yú) phụ trách xã Đất Bằng, đồng chí Lê Vũ Doãn phụ trách xã Chư Drăng…

Cuối năm 1949, Ban cán sự huyện Cheo Reo được củng cố, đồng chí Ksor Ní được điều về làm Phó chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Gia Lai, đồng chí Nguyễn Địch làm Bí thư và đồng chí Rơchơm Thép làm Phó Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính huyện Cheo Reo. Huyện đã phát triển được nhiều đảng viên “lớp đảng viên Tháng Tám”. Ngoài chi bộ cơ quan huyện, ở Cheo Reo đã có 3 chi bộ xã: chi bộ Đất Bằng, chi bộ Buôn Sai, chi bộ Sông Ba.

Nhìn chung, trong hai năm 1948 - 1949, phong trào kháng chiến của huyện Cheo Reo đã có bước phát triển đều ở các vùng trong huyện, từ vùng căn cứ đến vùng địch tạm chiếm. Cơ quan Đảng, chính quyền được củng cố, phát triển và có những bước trưởng thành qua thực tiễn lãnh đạo phong trào, cán bộ của huyện được rèn luyện trưởng thành qua huấn luyện và thực tiễn phong trào kháng chiến ở địa phương. Tuy vậy, công tác xây dựng thực lực kháng chiến của ta trong lòng địch, trục đường chiến lược và ở thị trấn phát triển chưa được đều. Vùng căn cứ, lực lượng chủ lực hoạt động mạnh, nhưng phong trào kháng chiến chưa vững chắc. Một số nơi sau khi bộ đội ta đánh vào cứ điểm địch, cơ sở của ta thường bị địch đánh phá. Tổ chức “Hội đánh Tây” ở các thôn làng phát triển chậm.

Cuối năm 1949, trên chiến trường toàn quốc đã mở một số chiến dịch lớn và giành được thắng lợi. Thực dân Pháp đã phải cầu xin viện trợ của đế quốc Mỹ để tiếp tục cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Bối cảnh quốc tế có một số thuận lợi để cuộc kháng chiến của nhân dân ta mở rộng quan hệ với thế giới.

Tháng 6-1949, địch xây dựng cứ điểm ở buôn Ma Phu gồm 102 lính, trong đó có 12 lính Âu phi, 80 lính khố đỏ và 10 lính khố xanh để tăng cường kiểm soát hành lang qua lại của ta với đồng bằng, đánh phá vùng căn cứ Đất Bằng và càn quét vùng tự do của ta. Để chuẩn bị địa bàn, đảm bảo cho bộ đội chủ lực đánh các đồn bót địch, huyện đã tổ chức chỉ đạo phân công cán bộ bám sát các buôn làng, tuyên truyền vận động quần chúng xây dựng cơ sở cách mạng, nắm tình hình và theo dõi các hoạt động của địch. Sau khi quán triệt nghị quyết của hội nghị bàn công tác vùng địch, Ban cán sự Đảng bộ tỉnh Đăk Lăk và Trung đoàn 84 thành lập các đội vũ trang tuyên truyền có nhiệm vụ gây dựng cơ sở cốt cán cách mạng ở các buôn làng vùng sau lưng địch, vừa đánh địch để gây ảnh hưởng, làm cho nhân dân vững tin vào kháng chiến, tham gia công tác cách mạng. Các đội vũ trang tuyên truyền đi vận động ở các vùng trọng điểm như đội vũ trang tuyên truyền 120 hoạt động ở vùng các buôn làng: Plơi Pa, Broái, Tul, Plơi Bâu, Plơi Thung Ngung… do đồng chí Mại làm đội trưởng, đồng chí Kpă Púi làm chính trị viên cùng với 10 chiến sĩ, trang bị đầy đủ súng đạn; đại đội 22 độc lập do Rơchơm Nghiêu chỉ huy; đội vũ trang tuyên truyền 127 do Rơchơm Thép (Ama Quang) làm đội trưởng, Siu Pui (Ama Thương) làm đội phó, đồng chí Trần Bình làm chính trị viên, các đội viên Y Mot, Y Bú, Y Dyơnh, Y Phơng, Ksor Y Ben (Ama Hoa), đồng chí Tô Tấn Tài (Ama H’Oanh), đồng chí Nguyễn Văn Minh (Ama H’Nim) hoạt động tại các vùng Uar, đông nam Ơi Nu, nam và tây Cheo Reo, 3 buôn Hoang, 2 buôn Bir, buôn Kham, M’Liêm, Ama Hlep, buôn Rưng, buôn Phu, vùng Ia Hiao, Ia Sôl. Dọc đường số 7 đến đèo Chư Sê cả vùng đông Phú Nhơn có đại đội độc lập 18 do đồng chí Ân làm đại đội trưởng, đồng chí Hán Trìu là chính trị viên. Sau một thời gian hoạt động ta mới gây cơ sở cách mạng được ở các vùng nói trên.

Trên chiến trường Liên khu V và Tây Nguyên, thực dân Pháp vẫn thực hiện kế hoạch bình định, chiêu an các vùng chiếm đóng, cướp bóc vơ vét của cải, bóc lột sức dân, bắt thanh niên vào lính nhằm thực hiện kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược, đồng thời càn quét, dồn dân, lập các nhóm vũ trang phản động. Chúng tuyên truyền việc trao trả độc lập giả hiệu cho Bảo Đại; đổi xứ “Tây Kỳ tự trị” thành “Hoàng Triều Cương thổ phía Nam”, song thực chất vẫn cai trị trực tiếp Tây Nguyên. Chúng bày ra việc cải tổ bộ máy bù nhìn, lấy danh nghĩa Bảo Đại để xây dựng quân đội quốc gia, lực lượng lục quân Cao nguyên đặt dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ chỉ huy tối cao Pháp, phát triển “goum” trong đồng bào dân tộc thiểu số.

Trước tình hình đó, Liên khu ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ tiếp tục tăng cường cán bộ, lực lượng chính trị, vũ trang và hậu cần cho Tây Nguyên. Tháng 11-1949, Liên khu ủy V mở hội nghị bàn về công tác địch hậu, chọn nam Tây Nguyên với mục tiêu phát triển mạnh cơ sở chính trị và du kích ở khu căn cứ MĐrak – Cheo Reo; diệt ngụy quân, ngụy quyền. Tháng 1-1950, Hội nghị cán bộ Đảng Liên khu V quyết định phát triển mạnh mẽ chiến tranh du kích trong toàn vùng; củng cố xây dựng tổ chức đảng, phát triển thêm đảng viên, xây dựng các đảng bộ huyện, xã, thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh.

Tháng 1 năm 1950, tại Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 3, Đảng chủ trương gấp rút xây dựng bộ đội chủ lực, đưa chiến tranh chính quy lên ngang với chiến tranh du kích. Trung ương Đảng, Chính phủ quyết định thực hiện chế độ tổng động viên theo khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”.

Để đẩy mạnh công tác địch hậu và đánh địch ở Tây Nguyên, chuẩn bị chiến dịch Nguyễn Huệ (từ ngày 15-7 đến ngày 15-9-1950), Liên khu ủy V đã chú trọng tăng cường thực lực cho Đăk Lăk, điều đồng chí Trương Quang Giao, Liên khu ủy viên về làm Bí thư Tỉnh ủy Đăk Lăk thay đồng chí Lê Vụ giữ chức Phó bí thư. Ban cán sự Đảng tỉnh được bổ sung từ 7 ủy viên lên 12 ủy viên, lập Ban Thường vụ gồm 5 đồng chí. Đồng chí Y Wang, ủy viên Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ được điều động về làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Đăk Lăk thay đồng chí Ma Khê được cử đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng. Đồng chí Lư Giang thay đồng chí Phạm Kiệt làm chỉ huy quân sự tỉnh và đồng chí Đoàn Khuê làm Chính ủy.

Tháng 3-1950, Ban cán sự tỉnh Đăk Lăk họp triển khai kế hoạch hoạt động hè của Liên khu V và xác định nhiệm vụ các mặt công tác là: Củng cố các cơ sở chính trị và cơ sở du kích ở khu tam giác MĐrak – Cheo Reo – Buôn Hồ, đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh, phá tề trừ gian, phát triển gây cơ sở địch hậu phía tây đường 14; phối hợp với các lực lượng vũ trang của Liên khu tác chiến tiêu hao địch và phát triển chiến tranh du kích; tổ chức tiếp nhận và bảo quản tốt hậu cần tiếp viện và đẩy mạnh tăng gia sản xuất, tự túc lương thực tại chỗ; kiện toàn Ban cán sự huyện MĐrak, Cheo Reo, Buôn Hồ và Ban chỉ huy E84 của tỉnh.

Liên khu ủy và Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ điều E803 tới mặt trận Đăk Lăk và huy động một lực lượng hàng vạn dân công ở Bình Định, Phú Yên, hàng ngàn đồng bào và dân quân, du kích ở Ma Đrak và Nam Cheo Reo mở đường để xây dựng 3 tuyến hành lang tiếp vận gồm: hành lang A - ngang qua đông Cheo Reo - từ La Hai, Kỳ Lộ (Đồng Xuân) đến Ma Choi, Ma Thìn và Dleiya; hành lang B từ Tuy Hòa lên Thạnh Hội qua Sơn Thành đến MĐrak đi Dleiya về buôn Ia Rôk đi huyện Lak; hành lang C từ Sơn Thành đi Hà Roi vào Khánh Hòa lên Nam MĐrak, đi sâu vào nội địa hàng chục kilômét. Các tuyến đã chuyển lên chiến trường 200 tấn lương thực, thực phẩm và nhiều quân trang, quân dụng. Lực lượng hậu cần được tập trung ở chiến khu Dleiya (40%), MĐrak và Cheo Reo (40%). Trung đoàn 84 được phiên chế thành hai liên đại đội và 6 đại đội độc lập. Trong 8 đội vũ trang tuyên truyền của tỉnh, Cheo Reo có một đội được lập ra từ cán bộ quân, dân, chính, Đảng.

Trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk cũng lập ra 6 khu được bố trí lực lượng theo yêu cầu để xây dựng lực lượng chính trị và thực hiện chiến tranh du kích. Trong đó, huyện Cheo Reo chia thành 2 khu :

Khu I: Gồm các xã đông Cheo Reo: Đất Bằng, Ơi Nu, Plei Pa, Sông Ba, Chư Drăng (có 28 buôn). Bên cạnh các đội công tác xã, bố trí đội vũ trang tuyên truyền 127 gồm đại đội độc lập 18 hoạt động ở các vùng đông nam, phía nam Ơi Nu và Cheo Reo. … có đội vũ trang tuyên truyền 120 do đồng chí Mại làm đội trưởng, đồng chí Kpă Púi, chính trị viên, cùng đại đội 22 do đồng chí Rơchơm Nghiêu chỉ huy hoạt động ở vùng đông bắc và bắc Cheo Reo, gồm có các buôn Plơi Pa, buôn Broái, Ia Tul, Plơi Bâu, Thung Ngung.

Khu IV: Gồm các xã vùng tây Cheo Reo : Dleiya, Ia Rbol, Ia Hiao, thị trấn Cheo Reo, bố trí đội vũ trang tuyên truyền 122 và đại đội độc lập 15.

Tháng 3 - 1950, cơ quan chỉ huy của đại đội 18 lên đóng tại đầu nguồn suối Ia Kdrieng, sau này cơ quan huyện Cheo Reo lên đóng ở đây. Vào thời gian này tại đây, trong lúc đi công tác, đồng chí Rơchơm But và Y Tré bị hy sinh, đồng chí Cự bị thương do sa vào ổ phục kích của bọn Pháp. Tháng 4-1950, 5 đội vũ trang tuyên truyền đã rời hậu cứ miền tây Phú Yên để lên đường làm nhiệm vụ xây dựng chính quyền xã, lập làng chiến đấu, xây dựng lực lượng du kích, lãnh đạo nhân dân sản xuất và chiến đấu…

Ngay từ đầu tháng 7-1950, địch nống ra càn quét vùng buôn Jú, buôn Ji, phục kích vùng buôn Lối, Kà Lúi… gây cho ta một số tổn thất. Song, tiểu đoàn 365 của Trung đoàn 803 vẫn mở màn chiến dịch đúng thời gian quy định. Đêm 15-7-1950, trận đánh cứ điểm Ma Phu mở màn cho chiến dịch. Trận đánh diễn ra nhanh chóng, ta đã tiêu diệt và làm bị thương 30 tên, bắn sập hết nhà cửa, phá hủy một súng cối 81 mm và làm tê liệt hệ thống hoả lực của địch. Tuy không tiêu diệt được hoàn toàn cứ điểm, nhưng trận Ma Phu đã khích lệ tinh thần cán bộ, chiến sĩ, nhân dân vùng Mlah, Cheo Reo và làm cho địch hoang mang, lo sợ.

Phát huy thắng lợi, đêm 20-8-1950, bộ đội và dân quân uy hiếp cứ điểm Mlah, Kà Lúi, bảo vệ nhân dân nổi dậy giương cờ đỏ sao vàng ở quanh cứ điểm, rải truyền đơn vào đồn. Các chiến sĩ binh vận và nhân dân dùng loa đặt sát các cứ điểm kêu gọi binh lính ra hàng. Bọn địch hoang mang, lo sợ, đóng chặt cửa đồn không dám phản ứng. Cùng đêm hôm đó, ở Ơi Nu, gần 200 nhân dân đủ già, trẻ, gái, trai dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy, mở Hội nghị phát động quân, dân, chính, Đảng hạ quyết tâm chống Pháp đến cùng, diệt bọn tề gian ác ngoan cố. Đồng bào được dân quân du kích hỗ trợ đồng loạt nổi dậy phá hoại đường giao thông từ cứ điểm Mlah đi Ma Phu, dùng súng và lựu đạn đánh vào kho gạo, bốt gác của địch, diệt 4 lính Pháp và 20 lính khác, bắt 2 tên, làm bị thương 10 tên. Bị đánh đau, địch co lại trong các cứ điểm, bỏ mặc hệ thống tề ngụy tan rã, trừ một số tên chạy trốn vào đồn quân Pháp, còn hàng trăm tề buôn, tề tổng bị ta bắt giải về xuôi tập trung cải tạo. Nhân dân làm chủ buôn làng. Dân quân du kích phối hợp với bộ đội phá cầu, cắt dây điện thoại, đánh phục kích, bao vây cứ điểm địch ở Ma Phu, Ơi Nu… Đồng bào vót chông, cài mang cung, làm bẫy đá, biến nhiều buôn ở Đất Bằng, Ơi Nu thành làng chiến đấu.

Cuối tháng 8-1950, hàng nghìn đồng bào ở MĐrak, Cheo Reo được huy động phục vụ chiến đấu và tổ chức mít tinh trương băng cờ khẩu hiệu, gọi loa vào các đồn địch kêu gọi những người theo địch trở về với buôn làng, cha mẹ, vợ con.

Phía tây Cheo Reo, các cơ sở vùng Dleiya được củng cố từ Ia Rbol, Ia Hiao mở rộng ra phía Pleikli, Plei Ring. Đêm 20-8-1950, đội vũ trang tuyên truyền 127 cùng một tiểu đội (thuộc C18) đột nhập vào buôn Hoang tước 15 khẩu súng, 2.000 viên đạn của bọn dân vệ mà không tốn một viên đạn nào. Đêm 30-8-1950, C1 tăng cường phối hợp C18 độc lập tập kích thị trấn Cheo Reo, đốt cháy một số nhà làm việc, nhà ở của quân địch, thu thuốc men, quân trang, vũ khí. Những cuộc đột kích này gây ảnh hưởng chính trị lớn trong nhân dân. Phong trào chống xâu, chống thuế, bất hợp tác với địch ở Ia Rbol lên cao. Vùng buôn Hoang được xây dựng thành căn cứ đứng chân cho các cơ quan lãnh đạo huyện Cheo Reo.

Chỉ trong vòng 2 tháng, chiến dịch Nguyễn Huệ đã giành được thắng lợi to lớn. Lực lượng vũ trang của ta tuy ít, phải dàn mỏng nhiều nơi nhưng đã nêu cao quyết tâm bám sát địa bàn, đánh một số trận có hiệu suất cao. Trong chiến dịch, ta đã diệt hơn 100 tên, có 14 lính Âu – Phi, 1 quan ba, 1 quan hai... bắn bị thương 50 tên, bắt sống 4 tên trong đó có 3 sỹ quan Pháp, phá hủy 1 cối 81 mm, 1 vô tuyến điện, 1 xe vận tải và thu nhiều phương tiện, vũ khí, đạn dược, quân trang, quân dụng; bộ máy chính quyền tổng, xã của địch nhiều nơi bị tan rã; cơ sở cách mạng phát triển mạnh mẽ khắp nơi, tinh thần chống Pháp dâng cao ở mọi buôn làng, hàng trăm thanh niên xung phong vào các đội chiến đấu.

Với những thành tích đó, tại Hội nghị tổng kết chiến dịch Nguyễn Huệ tháng 11-1950 (ở Gò Chai, Phú Yên) Chính ủy Bộ Tư lệnh quân khu V đã kết luận: “Với chiến dịch (Nguyễn Huệ) ta đã đặt được nền móng đầu tiên cho việc xây dựng một khu du kích, mở đường xây dựng một khu căn cứ địa trên địa bàn địch hậu Đăk Lăk, trung tâm của vị trí chiến lược Tây Nguyên, chiến trường chính của Liên khu”.

Cuối năm 1950, cơ quan huyện đóng ở suối Ia Rsai, buôn Rsai xã Ơi Nu. Sau chiến dịch Nguyễn Huệ, mùa xuân 1951 toàn bộ cơ quan chuyển qua bên kia sông Ba, phía buôn Hoang. Lúc này 3 buôn Hoang nối liền liên hoàn đến vùng Dleiya là vùng giải phóng, căn cứ cách mạng.

Vừa kháng chiến, vừa tăng gia sản xuất là hai mặt hoạt động phong trào của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Cheo Reo. Trong khu tam giác MĐrak, Cheo Reo, Buôn Hồ, các cơ quan dân, chính, bộ đội, đội công tác và dân quân, du kích có trại, rẫy trồng sắn, dong riềng, các loại đậu đỗ và trỉa lúa nhận từ huyện Tuy Hòa, Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên lên bằng các đợt ngựa thồ, cán bộ, chiến sĩ gùi lên chiến trường. Việc đẩy mạnh tăng gia sản xuất đã giải quyết được một phần nhu cầu lương thực của các đơn vị. Để kịp thời phát huy những thành quả trên các mặt kháng chiến, ta tổ chức một đoàn vũ trang đi sâu vào vùng nội địa gặp gỡ các tầng lớp nhân dân ở khu tam giác MĐrak - Cheo Reo - Buôn Hồ tuyên truyền, làm tăng thêm uy tín và niềm tin của nhân dân vào thắng lợi của lực lượng kháng chiến.

Đến cuối năm 1950, toàn huyện Cheo Reo có 442 đảng viên, hai phần ba số làng, buôn có cơ sở Đảng. Phía đông (Krông Pa) đã có 5 chi bộ là Đất Bằng, Ơi Nu, Sông Ba, Chư Drăng, Buôn Sai, có chi bộ lên tới 20 đảng viên. Phía tây Cheo Reo có các chi bộ Plei Kly, Bir, vùng Dleiya, Ia Hiao và Ia Rbol.

Nhìn chung, Đảng bộ, chính quyền, mặt trận và quân dân Cheo Reo trong năm 1950 đã cùng với Đảng bộ, quân dân MĐrak góp phần xây dựng một khu căn cứ du kích trong vùng địch hậu Đăk Lăk, vị trí trung tâm chiến lược Tây Nguyên. Đảng bộ Cheo Reo không ngừng lớn mạnh cùng với phong trào kháng chiến.

Sau chiến dịch Nguyễn Huệ, địch phản công đánh phá ác liệt. Ở các vùng sâu Buôn Hồ, Lak, Đak Min, các đội công tác vũ trang của ta bị tổn thất nhiều, cơ sở cách mạng trong quần chúng lo sợ, đứt liên lạc (kể cả thị trấn Cheo Reo). Ở phía bắc Đăk Lăk (Krông Pa) địch đánh phá các vùng giáp ranh Phú Yên, Đăk Lăk.

Để giúp các huyện xây dựng lực lượng, phát triển phong trào, tỉnh chủ trương đưa 3 đại đội người dân tộc thiểu số xuống đứng 3 xã thành lập Ban cán sự vùng, gồm cán bộ xã và ban chỉ huy đại đội dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy Đăk Lăk và E84.

Nhằm cứu vãn tình hình, từ tháng 1 đến tháng 7- 1951, địch mở nhiều cuộc càn quét quy mô, thực hiện dồn dân dọc các trục đường giao thông, xung quanh các đồn điền, tăng cường bắt xâu, đánh thuế để phục vụ chiến tranh. Thời gian đi xâu tăng lên 25 ngày, rồi một tháng. Đánh thuế cả đàn ông, đàn bà, voi, ngựa, trâu, bò,… Thuế đàn ông từ 50 đồng đến 300 đồng tiền Đông Dương, thậm chí cướp bóc trắng trợn. Tháng 5-1951, địch cướp ở Cheo Reo hơn 300 con bò, cướp của Buôn Hồ hơn 10 tấn lúa. Buôn Chánh Đơn, Buôn Bir là những mục tiêu chính trong những trận càn của địch, mục tiêu phụ là buôn Ơi Nu.

Để giành lại thế chủ động và đẩy mạnh phong trào, từ 24-1 đến 8-2-1951, ta tấn công tiêu diệt cứ điểm Ơi Nu, bức rút đồn Chánh Đơn và đồn Buôn Bia, đánh diệt viện 2 trận trên đường số 7 đoạn Mlah – Ơi Nu, diệt trên 200 tên địch, thu gần 10 tấn đạn dược. Nhân điều kiện thuận lợi, phong trào du kích trên trục Nam - Bắc đường số 7 Cheo Reo - Mlah - Kà Lúi phát triển mạnh.

Năm 1951, ở chiến trường Tây Nguyên chiến sự ngày càng khốc liệt. Đầu năm, địch mở một số cuộc càn quét nhỏ để thăm dò lực lượng ta. Khi biết bộ đội ta rút về xuôi để chuẩn bị chỉnh Đảng, chỉnh quân, địch tiến hành những cuộc càn lớn nhằm bao vây tiêu diệt các đội vũ trang tuyên truyền, các đại đội độc lập còn bám trụ hoạt động; chặn các hành lang, đánh phá các đoàn vận tải tiếp tế hậu cần của ta. Ở Cheo Reo, cả phía tây và đông nam huyện, đi đôi với chống càn quét, ta còn chống địch lập đồn bót, tháp canh, chống phát triển dân vệ vũ trang và việc dồn dân tập trung dọc đường giao thông, quanh các căn cứ. Căn cứ buôn Hoang là mục tiêu đánh phá ác liệt của địch.

Đồng thời với việc giảm biên chế, các cơ quan tỉnh huyện điều cán bộ xuống chiến trường củng cố lại các đội công tác. Ở phía đông Cheo Reo, các xã Plei Pa, Chư Drăng, Ơi Nu có các đội công tác từ một đến hai người giúp cho cán bộ địa phương. Riêng các xã Đất Bằng, Sông Ba cùng các xã Kà Lúi, Suối Trai, Bầu Bèng, Đá Mài do Phú Yên chuyển giao sang và lập ra khu IV vào đầu năm 1952 do đồng chí Nguyễn Khắc Tính, Thường vụ Tỉnh ủy làm Bí thư Ban cán sự, đồng chí Y Blôk, Phó bí thư làm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính khu. Cơ quan khu IV đứng chân tại xã Kà Lúi và có đầy đủ các ban. Đồng thời đưa đồng chí Lê Kiết, Thường vụ Huyện ủy Sơn Hòa, đồng chí Thung (Tùy) và đồng chí Võ Mông, Huyện ủy viên huyện Đồng Xuân, đồng chí Nguyễn Tiển (Ama Đam)…tham gia Ban Thường vụ. Trong thời gian này tỉnh Đăk Lăk tăng cường đồng chí Quách Xân, Thường vụ Tỉnh ủy xuống theo dõi nắm tình hình tại vùng Sông Ba - Đất Bằng trong một thời gian rồi rút về. Sau khi đồng chí Quách Xân chuyển đi, đồng chí Trương Cần (đồng bào thường gọi bằng tên thân mật là Y Thái) về thay, phụ trách vùng Sông Ba.

Sau khi giải thể Khu IV, Đăk Lăk xây dựng huyện Cheo Reo thành một đơn vị mới (vẫn quen gọi là huyện Cheo Reo) nhằm xây dựng căn cứ, xây dựng bàn đạp để Đăk Lăk đứng chân tiến lên vùng sâu còn bị tạm chiếm. Đơn vị mới này (huyện Cheo Reo) tuy không có các ban đầy đủ, nhưng có Ban cán sự Đảng do đồng chí Lê Đình Ban (Nguyễn Hồ), tỉnh ủy viên làm Bí thư Ban cán sự, có Đảng ủy viên phụ trách từng lĩnh vực như quân sự, kinh tế, tuyên huấn… (đồng chí Nguyễn Khuê (Ama H’lơ) - Thường vụ Huyện ủy - phụ trách kinh tế). Đơn vị này có hai đại đội : Đại đội 21 đóng ở phía Ia Rsai do đồng chí Kpă Thìn (Ama Hâm) làm đại đội trưởng, đồng chí Trần Phòng làm chính trị viên; Đại đội 22 đóng phía Kà Lúi do đồng chí Từ Ngọc Hảo làm chính trị viên. Thời gian này, tỉnh tổ chức đợt chỉnh huấn bộ đội và cán bộ dân chính Đảng từ tỉnh đến cơ sở để đánh giá ưu khuyết điểm từng tập thể và cá nhân, xây dựng nâng cao lập trường quan điểm, xây dựng tính chiến đấu hy sinh cao độ, công tác quần chúng, dân tộc phục vụ cách mạng. Tiếp theo, các huyện tổ chức đợt phát động quần chúng tố giác bọn tề ngụy, ác ôn, trấn áp bọn xấu, phát triển lực lượng cách mạng, tạo thế quần chúng mới. Khu vực đông Cheo Reo lấy buôn Lao xã Chư Drăng làm điểm.

Lúc này huyện Cheo Reo đã được huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên bàn giao các xã Đá Mài, Bầu Bèng và vùng Thồ Lồ, Ma Choi, Ma Hàm. Huyện Cheo Reo lại được chia lại thành 4 vùng A, B, C, D thành lập ban cán sự nhỏ liên xã gắn với đại đội độc lập đang hoạt động tại địa bàn. Vùng A gồm Ơi Nu, Plei Pa và đại đội 21, đồng chí Trần Phòng làm chính trị viên. Vùng B gồm các xã Chư Drăng, Sông Ba do đồng chí Nguyễn Khuê (Ama H’lơ) làm Bí thư. Vùng C gồm Kà Lúi, Đất Bằng, Suối Trai, Bầu Bèng và đại đội 23, do đồng chí Võ Kiết làm Bí thư. Vùng D có 2 đại đội là Đại đội 21 do đồng chí Cao Văn Khá, đội trưởng đóng ở vùng Ơi Nu (đồng chí Nguyễn Tiển tức Ama Đam tham gia ban cán sự) và Đại đội 22 do đồng chí Từ Ngọc Hảo làm chính trị viên, đồng chí Rơchơm Nghiêu làm Bí thư đóng ở vùng Kà Lúi. Vùng D là vùng căn cứ sâu gồm các buôn Ma Choi, Ma Hàm, Ma Thìn, Ma Nhao giáp xuống Cây Vừng, do đồng chí Lê Khắc Thiệu làm Bí thư.

Về phía địch, trong năm 1951-1952, chúng tăng cường càn quét đánh phá cơ sở, thu hẹp vùng du kích của ta, tổ chức các cuộc hành quân phối hợp giữa cứ điểm Ơi Nu, Mlah, Hai Riêng… thọc sâu xuống vùng tự do miền tây Phú Yên nhằm đánh phá các cơ quan, trường học, đơn vị ta và triệt phá kinh tế, gây cho ta nhiều khó khăn; ra sức củng cố vùng tạm chiếm, củng cố bộ máy tề điệp, tiếp tục dồn dân và đẩy mạnh chiêu an giả nhân giả nghĩa để lừa phỉnh nhân dân… Đối với vùng bất hợp tác ở các xã Đất Bằng, Ơi Nu, địch ra sức lôi kéo, mua chuộc nhân dân. Địch cho một số gián điệp về liên lạc với đồng bào, tìm cách làm dao động tinh thần và thúc giục đồng bào ra đầu hàng. Ngoài ra, địch còn cho nguỵ binh là bà con đến lôi kéo, mua chuộc đồng chí Ama Tyh nhưng không có kết quả.

Tình hình chung lúc này, vùng tự do đang thiếu đói, việc tiếp tế hậu cần cho Tây Nguyên gặp nhiều khó khăn, trở ngại. Thiếu lương thực, thực phẩm, thuốc men, cán bộ, bộ đội bị đau ốm nhiều. Một số cán bộ, đảng viên từ đồng bằng tăng cường cho Đăk Lăk trước đây không chịu đựng nổi gian khổ, dao động về luôn đồng bằng không trở lại. Tuy vậy, ở chiến trường nam Tây Nguyên, ta và địch vẫn ở thế giằng co. Ở Cheo Reo, cơ sở và lực lượng ta vẫn đứng vững, địa bàn căn cứ được củng cố.

Liên khu V mở chiến dịch nam Tây Nguyên lần thứ hai, mặt trận chính là Đăk Lăk và phần phía nam tỉnh Gia Lai. Đêm 24, rạng ngày 25-1-1952, tiểu đoàn 365 của Liên khu V tăng cường đã tiêu diệt đồn Ơi Nu, thu toàn bộ vũ khí, trang bị, ta bắt sống toàn bộ trung đội địch, trong đó có đồn trưởng và đồn phó người Pháp, đưa vùng Buôn Hoang (4 buôn) thành bàn đạp tấn công lên phía tây. Cùng ngày, Tiểu đoàn 39 bố trí tại đèo Tong Á (Tô Na) và đoạn Cầu Đôi, chặn địch từ Cheo Reo xuống; tiểu đoàn 40 của E84 chặn đánh một đại đội địch từ đồn Mlah đi cứu viện cho Ơi Nu, diệt 208 tên địch. Bộ đội ta pháo kích vào đồn Mlah, Kà Lúi và bức đồn Chánh Đơn. Du kích xã Đất Bằng chặn đánh địch trên đường số 7, diệt và làm bị thương 6 tên địch. Ta mở rộng vùng du kích và đưa xã Đất Bằng từ bất hợp tác lên đấu tranh vũ trang là chủ yếu.

Sau một thời gian, cuối năm 1952 đầu năm 1953, địch bung ra càn quét vùng này. Trong thời gian này, huyện Cheo Reo được tỉnh Đăk Lăk bổ sung các đồng chí Nguyễn Minh Lập, Phạm Văn Minh, Đặng Bốn tham gia Ban cán sự.

Suốt những năm 1950 – 1952, hoạt động chủ yếu của ta là giữ vững các vùng căn cứ, giành giật từng cơ sở, từng xã, buôn, làng với địch. Đảng bộ và quân dân huyện Cheo Reo đã thực hiện sáng tạo chủ trương của Đảng, Chính phủ, Liên khu V và của Đảng bộ, chính quyền địa phương. Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 2 (9-1951) về công tác vùng sau lưng địch, đến tháng 12-1952, Cheo Reo đã hình thành hai vùng rõ rệt. Tuy các xã còn lại của huyện đều bị địch chiếm, nhưng tất cả đều có cơ sở chính trị và lực lượng vũ trang là dân quân du kích: Đất Bằng, Ơi Nu, Sông Ba, Chư Drăng, nối liền với các xã miền Tây Phú Yên.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 về công tác chỉnh Đảng, chỉnh quân (4-1952), theo sự phân cấp, cán bộ huyện và các đơn vị vũ trang trên địa bàn huyện thay phiên nhau đi dự các lớp tập trung do tỉnh tổ chức. Việc chỉnh Đảng, chỉnh quân gắn liền với chấn chỉnh tổ chức đội ngũ cán bộ theo hướng tinh giản biên chế, giảm đầu mối, kết hợp chặt chẽ cán bộ chính trị với cán bộ quân sự, cán bộ mặt trận với cán bộ chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể từ tỉnh xuống huyện, xã; thực hiện hợp nhất lực lượng quân, dân, chính, Đảng; cùng hưởng chế độ sinh hoạt phí quân đội như nhau. Tiếp theo đó là tổ chức các đợt phát động quần chúng tố giác bọn tề nguỵ, ác ôn; trấn áp, cải tạo bọn xấu; phát triển lực lượng cách mạng, tạo thế quần chúng mới.

Hòa nhịp với chiến trường cả nước và chiến trường nam Tây Nguyên (Gia Lai, Đăk Lăk), Đảng bộ và quân dân Krông Pa - Cheo Reo đã có những bước tiến quan trọng về mọi mặt, lãnh đạo phát triển chiến tranh du kích trong vùng căn cứ, kết hợp đấu tranh chính trị, vũ trang, binh vận, tề vận trong vùng địch; phát triển thực lực kinh tế, văn hóa, giáo dục… Tất cả các mặt hoạt động của Đảng bộ, quân và dân Krông Pa - Cheo Reo đã tạo ra sức mạnh mới trước khi bước vào giai đoạn quyết định giành thắng lợi hoàn toàn của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược.

Trên chiến trường Tây Nguyên, bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích phối hợp chiến đấu và giành nhiều thắng lợi quan trọng. Các Đảng bộ địa phương đã trưởng thành và đóng vai trò quyết định cho thắng lợi các phong trào kháng chiến của quần chúng nhân dân. Khi chiến dịch An Khê mở màn (13-1-1953), quân địch ở Đăk Lăk bị động đối phó, phải gấp rút điều 1 tiểu đoàn cơ động ở Buôn Hồ và rút bớt quân ở các cứ điểm để ứng cứu cho An Khê.

Trên đà thuận lợi, ta đưa các tiểu đội du kích vào hoạt động ở vùng Đất Bằng, Kà Lúi và đã tiêu diệt nhiều tốp địch ở buôn Ma Tih, buôn Ma Đao. Du kích của ta còn đánh địa lôi trên đường số 7, phục kích đoạn đường Ia Rsai.

Tiếp theo đợt hoạt động của Liên khu, tỉnh mở tiếp đợt hoạt động hè nhằm phát triển chiến tranh du kích tiêu hao sinh lực địch, tiếp tục xây dựng các lực lượng bán vũ trang.

Ngày 14-4-1953, ta phục kích trên đường số 7B, vùng buôn Thung Ngung, đánh 1 đại đội ứng chiến, diệt 10 tên, bắt sống 6 tên, làm bị thương 20 tên, số còn lại bỏ chạy. Ta thu 1 súng cối 60 mm, 5 khẩu Thomson, một số súng trường và nhiều quân trang, quân dụng.

Đầu tháng 3 năm 1953, Bộ Tư lệnh Liên khu tăng cường cho tỉnh trung đoàn 803 (thiếu). Vừa đặt chân tới chiến trường, trung đoàn đã phân bố lực lượng vây ép địch ở vùng Hai Riêng và cùng du kích bám chặt đường 21 bis, sau đó tập trung đánh cứ điểm Hai Đúc và quân tiếp viện từ MĐrak lên. Trung đoàn còn hỗ trợ cho du kích đánh diệt địch ở Suối Trai, Đất Bằng, diệt 2 trung đội địch trên đường từ Mlah đi Ơi Nu, đánh thiệt hại nặng 2 đại đội hành quân giải toả ở phía đông Mlah.

Ngày 2-5-1953, địch dùng 5 đại đội chia làm 3 cánh thọc vào vùng Kà Lúi. Tiểu đoàn 39, trung đoàn 803 cùng 1 trung đội của huyện bố trí phục kích đánh một cánh quân gồm 2 đại đội, diệt 30 tên. Cánh thứ 2 đến Ma Phu (Dốc Quýt) do tên quan tư chỉ huy lọt vào trận địa phục kích của ta, bị tấn công bất ngờ, chúng bỏ chạy tán loạn, ta đã tiêu diệt 40 tên, bắt 20 tên, thu 1 trung liên, nhiều tiểu liên và súng trường. Cánh thứ 3 đi sang hướng Ma Rôk bị du kích chặn đánh, không tiến lên được phải lui quân.

Các đơn vị bộ đội của E84, các đội vũ trang công tác hoạt động phía trước cũng gây cho chúng nhiều tổn thất và luồn sâu vào vùng sau lưng địch xây dựng, phát triển cơ sở. Phối hợp với chủ lực, bộ đội, du kích và đội vũ trang công tác của huyện đánh địch trên đường 7 làm thiệt hại 2 đại đội địch đi giải tỏa cứ điểm Mlah. Vùng Đất Bằng, Kà Lúi, Suối Trai, ta đã xây dựng được thế trận nhân dân đánh địch, cất giấu tài sản, tổ chức sơ tán người già, trẻ em đến nơi an toàn; bố trí buôn làng kháng chiến, cắm chông, gài cạm bẫy sẵn sàng đánh địch. Các đại đội 121, 141 phục kích diệt hoàn toàn đoàn xe 15 ô tô trên đường số 7, chở quân từ Ơi Nu đi Mlah, Kà Lúi. Tiểu đoàn 39 và đại đội độc lập 22 phục kích đánh địch tại buôn Ma Dênh và Ma Phu, diệt 60 tên, bắt sống 20 tên… Đến giữa năm 1953, phía đông Cheo Reo đã xây dựng và phát triển cơ sở cách mạng khắp vùng Plei Pa (15 buôn) kéo dài đến huyện MĐrak thành một hành lang căn cứ, tạo điều kiện cho chiến tranh du kích phát triển mạnh. Phía tây Cheo Reo đã xây dựng được cơ sở mật ở 75 buôn trên tổng số 94 buôn làng.

Ngày 30-5-1953, Nghị định số 477-MN/TOC của Ủy ban kháng chiến hành chính Nam Trung Bộ tách huyện Cheo Reo, thành lập hai huyện Đông Cheo Reo và Tây Cheo Reo thuộc tỉnh Đăk Lăk. Đồng chí Lê Đình Ban (Nguyễn Hồ), tỉnh ủy viên làm Bí thư Ban cán sự huyện đông Cheo Reo. Các đồng chí Nguyễn Khuê (Ama H’lơ), Nguyễn Tiển (Ama Đam), Ngô Đức Đề (Ama Đing), Nay Pum (Ama H’ Lam), Nguyễn Văn Minh (Ama H’Nim), Võ Ngọc Châu (Ama Yú, Trương Phụng Tiến (Ama Kim) và Nguyễn Ngọc Chấn (Ama Thi) tham gia Ban cán sự. Huyện Đông Cheo Reo lúc này có thêm vùng Plei Ngol là vùng đồng bằng nằm giữa sông Ba và sông Ayun, phía bắc giáp Khu 7 (thuộc tỉnh Gia Lai), có buôn Plei Chă (Đak Chă) hầu hết là đồng bào dân tộc Bahnar.

Bị thất bại liên tiếp, nhưng thực dân Pháp vẫn ngoan cố tăng cường lực lượng hòng cứu vãn tình thế. Tướng Nava được Chính phủ Pháp cử làm Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Đông Dương đã đến Việt Nam tháng 5-1953. Sau một tháng điều tra, nghiên cứu tình hình chiến trường Đông Dương, y vạch ra kế hoạch quân sự chính trị - Kế hoạch Nava với mục tiêu bình định nước ta trong vòng 18 tháng, được cả Pháp và Mỹ tán thành triển khai thực hiện qua hai bước. Bước 1, từ thu – đông 1953 đến xuân 1954, quân Pháp giữ thế chiến lược phòng ngự ở phía bắc vĩ tuyến 18 để xây dựng lực lượng cơ động; nỗ lực tấn công quân sự ở nam vĩ tuyến, xóa bỏ vùng tự do Liên khu V. Bước 2, từ đông – xuân 1953 – 1954, sau khi bình định xong miền Nam, sẽ đẩy mạnh tiến công miền bắc Đông Dương, giành thắng lợi quân sự, buộc ta đàm phán theo ý đồ của chúng, hoặc bị tiêu diệt.

Để chống lại kế hoạch Nava, Trung ương Đảng và Bộ Chính trị đã đề ra kế hoạch tổng thể về nhiệm vụ chính trị, quân sự trong đông xuân 1953 – 1954. Các hướng tấn công chiến lược lớn là Tây Bắc, Thượng Lào, Trung Lào, Hạ lào và đông bắc Campuchia, mở rộng vùng giải phóng ở Nam Bộ; giành địa bàn chiến lược Tây Nguyên, kiên quyết phá tan âm mưu bình định miền Nam của Pháp và can thiệp Mỹ.

Các chiến trường cả nước, ở Lào và đông bắc Campuchia đã tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết của Bộ Chính trị và sự chỉ đạo của Tổng Quân ủy Trung ương.

Tại Liên khu V, tháng 12-1953, Liên khu ủy và Bộ tư lệnh Liên khu đã quyết định tập trung toàn bộ lực lượng chủ lực tấn công lên Tây Nguyên, giao nhiệm vụ bảo vệ vùng tự do cho lực lượng địa phương, các chiến trường sau lưng địch phải tích cực đẩy mạnh chiến tranh du kích, gây rối loạn trong quân đội, tề ngụy địch.

Đầu năm 1954, do yêu cầu chiến trường hoạt động mạnh, tỉnh tăng cường lực lượng vũ trang, đưa các đại đội độc lập 21, 22, 23 xuống đứng tại các xã và thành lập Ban cán sự nhỏ liên xã. Đại đội 21 phụ trách vùng Ơi Nu, gắn chặt với phong trào quần chúng hoạt động toàn diện, đồng thời sắp xếp lại tổ chức, thành lập Ban cán sự Đảng vùng trực thuộc Ban cán sự Đảng tỉnh và Trung đoàn 84. Ban cán sự gồm có Ban chỉ huy đại đội và Bí thư xã; đồng chí Chính trị viên đại đội làm Bí thư Ban cán sự. Một số đồng chí trong Ban chỉ huy đại đội tham gia Ban cán sự vùng. Vùng Ơi Nu do đồng chí Từ Ngọc Hảo, đồng chí Nguyễn Tiển (Ama Đam) lần lượt làm Bí thư, vùng Đất Bằng do đồng chí Ngô Tấn Tài (Ama H’Oanh), đồng chí Võ Ngọc Châu (Ama Yú) lần lượt làm Bí thư; Vùng Sông Ba do đồng chí Nguyễn Khuê (Ama H’Lơ), đồng chí Trương Cần (Y Thái), đồng chí Trương Phụng Tiến (Ama Kim) lần lượt làm Bí thư; vùng Chư Drăng do đồng chí Ngô Đức Đề (Ama Đing) làm Bí thư…

Đảng bộ và quân dân Đăk Lăk bước vào đông xuân 1953 – 1954 với một khí thế mới, quyết tâm cao thực hiện chủ trương của Trung ương và Nghị quyết của Liên Khu ủy V. Ban cán sự tỉnh Đăk Lăk họp bàn với Tỉnh ủy Phú Yên để phối hợp chiến đấu. Vùng căn cứ an toàn của tỉnh – vùng tây và đông Cheo Reo được chuẩn bị sẵn sàng mọi mặt.

Ngày 16-1-1954, đại đội 182 chặn đánh tiểu đoàn địch tại ngã ba buôn Prong - Ma Phu, diệt và làm bị thương 60 tên, bắt 10 tù binh, làm tan rã 1 đại đội khi chúng lùng sục ra căn cứ định chặn đường tiến của ta.

Ngày 20-1-1954, địch mở cuộc hành quân Átlăng đổ bộ lên Tuy Hòa (Phú Yên) với hơn 40 tiểu đoàn của các binh đoàn cơ động số 10 vừa từ Pháp đưa sang Đông Dương, binh đoàn cơ động số 100 từ chiến trường Nam Triều Tiên về, các binh đoàn 41, 42 và các tiểu đoàn độc lập tại chỗ đánh chiếm vùng tự do Liên khu V. Quân Pháp bị quân dân Phú Yên chặn đánh quyết liệt. Trong 10 ngày đầu đã diệt và làm bị thương gần 800 tên, sau đó tiếp tục đánh địch ở Chí Thạnh, La Hai và Sông Cầu.

Đáp lại cuộc hành quân của địch vào vùng tự do, từ ngày 26-1 đến 4-2-1954, ta mở đợt tấn công phía bắc Kon Tum diệt các cứ điểm Măng Đen, Măng Bút, Kon Braih… đập tan cụm phòng thủ phía bắc Kon Tum; chặn đánh địch trên đường 14. Quân Pháp ở thị xã Kon Tum bị vây hãm và tấn công liên tục, đến ngày 7-2-1954, thị xã Kon Tum được giải phóng.

Được chiến thắng chung cổ vũ, ngày 18 tháng 2, liên đại đội 141 và 182 phục kích chặn đánh 1 tiểu đoàn địch ở buôn Phùm đèo Tong Á (Tô Na) trên đường 7, địch bỏ lại trận địa 150 xác, phải chở 3 xe lính bị thương về Mlah, Cheo Reo. Trong trận này, một toán lính địch chạy ra hàng ta, nhưng bị bọn chỉ huy xả súng bắn chết gần hết, ta không bắt được tù binh. Trận đánh đã thắng lớn, ta tiêu diệt phần lớn quân địch, đồng thời bảo vệ an toàn cho hơn 1 ngàn đồng bào trên đường lánh cư vào rừng sâu.

Trong ngày 9 và 10 tháng 2, các đại đội 141, 182 đánh một tiểu đoàn địch ở Buôn Búp diệt 150 tên, nhiều tên bị thương phải trở về thị trấn Cheo Reo. Du kích, bộ đội huyện đặt mìn phục kích trên đường Hoanh Cham đi Cheo Reo phá 2 xe, diệt 7 tên địch, có một tên chỉ huy Pháp. Du kích xã Đất Bằng, cùng đại đội 22 dùng mưu đã dồn địch vào bãi chông mìn, diệt hàng chục tên, làm bị thương 30 tên.

Ngày 18-2-1954, quân dân Đăk Lăk tiêu diệt đồn Ma Tê, có 25 tên nguỵ đầu hàng. Sau đó đột nhập vào thị trấn Cheo Reo, phá phà Ơi Nu, diệt 2 xe cơ giới địch.

Nhằm ngăn chặn các cuộc hành quân ứng chiến của địch, hàng trăm du kích và đồng bào tập trung phá hoại đường số 7 từ Mlah trở xuống, cắt dây diện thoại, phá sập cầu Kà Lúi, làm tê liệt đường số 7.

Hệ thống phòng ngự của địch từ Cheo Reo – Mlah hòan toàn sụp đổ. Đường số 7 bị cắt đứt nhiều đoạn, Cheo Reo bị cô lập, địch phải dùng máy bay tiếp tế cho các cứ điểm còn lại.

Trên đà thắng lợi, bộ đội địa phương tỉnh, huyện, các đội vũ trang tuyên truyền tranh thủ áp sát vùng địch tạm chiếm, bao vây các cứ điểm Mlah, Ơi Nu, đánh nhiều trận có hiệu suất cao. Ngày 12- 4, cùng bộ đội chủ lực diệt và bắt 60 tên, thu 4 trung liên, 4 vô tuyến điện, 20 súng trường, 12 tiểu liên, diệt 100 tên, bắt sống 20 tên.

Ngày 22- 4, bộ đội chủ lực phối hợp với lực lượng tỉnh phục kích tại suối Rji buôn Ơi Nu (nay thuộc xã Ia Rsiơm), đánh 3 đại đội địch, có 2 đại đội bộ binh, 1 đại đội xe cơ giới đi giải toả đường số 7, diệt và phá hủy hoàn toàn 16 xe có 1 xe tăng, 16 xe bọc thép, thu 3 đại bác 37 mm, 11 trọng liên, 30 trung liên, phá 2 đại bác 75 và 50 mm, bắt 81 tù binh có 18 lính Âu-Phi, thu nhiều quân trang quân dụng. Đây là lần đầu tiên ta đưa súng DKZ vào phục kích đường số 7, tiêu diệt xe tăng và xe bọc thép địch. Tiếp theo, chủ lực ta phục kích tiêu diệt địch trên đường buôn Kơ Ting đi buôn Tờ Khế, xác địch chết ngổn ngang ở vùng buôn Pan - Tờ Khế, ta bắn rơi 1 máy bay L19 tại giữa đường đi từ buôn Tờ Khế đến suối Ia Rsai.

Tháng 4-1954, bộ đội địa phương chặn đánh diệt 1 đại đội địch tại buôn Chánh Đơn. Cả một vùng rộng lớn từ xã Ia Bon, Ia Klôt (MĐrak), Ơi Nu, Đất Bằng, Plei Pa, Chư Drăng, Sông Ba, nhân dân đã đứng lên giành quyền làm chủ, chuyển sang thế đấu tranh vũ trang.

Tuy bị tê liệt nhưng giặc Pháp vẫn phản ứng dữ dội, chúng dùng 2 máy bay khu trục thả bom xăng vào ban ngày tại các buôn Jik, buôn Pú và buôn Pan, thiêu cháy hoàn toàn buôn Kơ Ting, làm chết và bị thương trên 50 người dân. Hành động tội ác này đến nay đồng bào buôn Kơ Ting (nay thuộc xã Ia Rsai) vẫn ghi nhớ không bao giờ quên.

Sau khi cắt đứt đường số 7, địch bị tổn thất nặng, ta bao vây Cheo Reo nhằm kéo trung đoàn lê dương từ Buôn Hồ - Buôn Ma Thuột xuống để tiêu diệt, nhưng địch không dám đi. Ta vây chặt cứ điểm Cheo Reo không cho chúng ra ngoài. Đại đội 21 và du kích của huyện vây bến nước, bắn tỉa không cho địch đi lấy nước. Địch trong đồn bị thiếu nước uống, tinh thần hoang mang, hoảng loạn.

Bộ đội tỉnh cùng du kích bao vây chặt cứ điểm Mlah, địch phải dùng máy bay thả dù tiếp tế lương thực, thực phẩm, đạn dược. Ta khống chế chặt bến sông. Bọn lính trong đồn không còn cách nào khác phải dùng truyền đơn viết bằng 4 thứ tiếng (Pháp, Việt, Êđê và Jrai), xin đi lấy nước và xin hàng để về với vợ con vì có tin Hiệp định Giơnevơ sắp được ký kết.

Kết hợp với lực lượng quân sự bao vây cứ điểm, ta tổ chức lực lượng nhân dân, nhất là phụ nữ, hàng ngày phóng loa kêu gọi và từng đợt kéo vào đồn nói rõ tình hình thất bại của địch, tình hình Cheo Reo – Mlah bị bao vây, vận động chồng con bỏ ngũ về với gia đình.

Trong tháng 4 và tháng 5-1954, ta đã đập tan cuộc hành quân Át lăng. Ngày 7-5-1954, chiến thắng Điện Biên Phủ làm nức lòng quân dân cả nước, khích lệ quân dân đẩy mạnh cuộc tấn công vùng sau lưng địch.

Ở chiến trường Gia Lai, Đăk Lăk, ta đã phục kích và tiêu diệt tiểu đoàn cơ động GM 100 trên quốc lộ 19. Ngày 15-7-1954, đại đội 21 và một bộ phận E96 tập kích vào thị trấn Cheo Reo, cắt đứt đường số 7, cô lập đồn Mlah. Hai ngày sau, ngày 17-7-1954, E803 cắt đường 21 tại MĐrak. Các chiến thắng liên tiếp đã làm suy sụp tinh thần quân địch ở Đăk Lăk – Cheo Reo. Quân địch ở thị xã Pleiku rút chạy về Buôn Ma Thuột theo đường 14, đến đèo Chư Djrêk, Binh đoàn cơ động 40 (GM 40) bị Trung đoàn 108 chặn đánh tiêu diệt 300 tên, phá hủy 62 xe quân sự và bắt sống 200 tên.

Ngày 20-7-1954, Hiệp định Giơnevơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết, công nhận độc lập thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, Lào, Campuchia. Đảng bộ, chiến sĩ và đồng bào hai huyện Đông và Tây Cheo Reo vô cùng phấn khởi. Nhân lúc binh lính địch rã rời tuyệt vọng, đồng chí Nguyễn Khuê (Ama H’Lơ) chỉ đạo tổ chức đồng bào các buôn xung quanh, nhất là chị em phụ nữ bồng bế trẻ con, kéo vào đồn Mlah kêu gọi, thuyết phục, giành giật…đưa con em mình bỏ hàng ngũ địch trở về với cha mẹ, với đồng bào để được khoan hồng. Trong đồn Mlah có tên Ma Ưng khét tiếng ác ôn, trốn chạy về buôn Bak, bị du kích bắt được đem trừng trị tại buôn Chai trước sự đồng tình của đông đảo đồng bào vùng này. Các buôn, xã tổ chức mít tinh, hội họp, liên hoan mừng huyện được giải phóng, mừng thắng lợi Hiệp định Giơnevơ, mừng đất nước được hòa bình sau chín năm trường kỳ kháng chiến gian khổ.

Tháng 8-1954, đại biểu nhân dân huyện Đông Cheo Reo tập trung về Tân Vinh (Phú Yên) tham gia lễ ăn mừng chiến thắng và quán triệt tình hình nhiệm vụ mới của cách mạng, đồng thời tiễn đưa lực lượng vũ trang và những người con đi tập kết. Lúc này chỉ còn hai người phụ trách vùng này là đồng chí Nguyễn Chấn (Ama Thi) được phân công ở lại phụ trách vùng Chư Drăng, đồng chí Trương Phụng Tiến (Ama Kim) ở lại Đất Bằng (vùng Quang Hiển), được trang bị đài 15 oát để liên lạc với tỉnh.

Sau năm 1954, thực hiện Hiệp định Giơnevơ, đại bộ phận cán bộ quân đội chuyển đi tập kết ra Bắc, chỉ bố trí ở lại một lực lượng rất mỏng, không trang bị vũ khí, nhiệm vụ chủ yếu là bám dân xây dựng cơ sở với phương thức hoạt động mới, chuẩn bị thi hành hiệp thương tổng tuyển cử.

Từ những năm đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân và đồng bào các dân tộc của huyện đã được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, chính quyền, Mặt trận tỉnh Gia Lai. Từ tháng 8-1948, khi huyện được sáp nhập vào tỉnh Đăk Lăk, tổ chức chính quyền cách mạng, Việt Minh và tổ chức Đảng tiếp tục được xây dựng và củng cố, bám đất, bám dân, xây dựng cơ sở cách mạng. Đồng bào các dân tộc trong huyện đã đoàn kết vượt qua mọi khó khăn, thử thách, tin tưởng và ủng hộ kháng chiến.

Do vị trí chiến lược quan trọng, là tuyến đầu của chiến trường Gia Lai – Đăk Lăk, cửa ngõ xuống Phú Yên, vùng tự do Liên khu V và Nam Trung Bộ, nên địch luôn tăng cường bố trí lực lượng, dùng nhiều chính sách thâm độc để o ép, khủng bố, thường xuyên đánh phá phong trào kháng chiến nhằm chiếm giữ một vùng chiến lược đông dân, trù phú, gây khó khăn cho phong trào kháng chiến của huyện.

Thuận lợi lớn cho phong trào đấu tranh chống Pháp xâm lược sau Cách mạng Tháng 8-1945 của huyện là phong trào yêu nước đã phát triển mạnh trong các năm trước, nằm cạnh vùng tự do Tây Phú Yên và khu căn cứ của Tỉnh ủy Đăk Lăk. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ Tây Sơn (Gia Lai) và Phòng quốc dân thiểu số Nam Trung bộ, phong trào kháng chiến của huyện được phát triển lên một tầm cao mới. Vùng Đất Bằng sớm được chọn làm căn cứ của huyện có ý nghĩa quan trọng, quyết định thành công trong xây dựng lực lượng và thúc đẩy phong trào chiến tranh du kích toàn vùng phát triển. Chi bộ Đảng sớm ra đời, 10-8-1947, trực tiếp lãnh đạo phong trào kháng chiến bước sang thời kỳ mới, phát triển toàn diện cả lực lượng chính trị và vũ trang, đẩy mạnh tiến công địch giải phóng quê hương. Mặc dù dân cư thưa thớt, chủ yếu là đồng bào dân tộc Jrai, nhưng Đảng bộ đã phát huy được sức mạnh quần chúng tại chỗ. Cán bộ, chiến sĩ đã kiên cường bám trụ, chủ động, sáng tạo trong lãnh đạo và tổ chức nhân dân vừa kháng chiến vừa xây dựng kinh tế, văn hóa phục vụ kháng chiến lâu dài, đặc biệt xây dựng thành công vùng căn cứ Đất Bằng, Dleiya làm chỗ dựa cho phong trào cách mạng của tỉnh Đăk Lăk sau này. Qua thực tiễn xây dựng và trưởng thành trong những năm tháng đấu tranh chống Pháp, Đảng bộ huyện đã tập hợp và rèn luyện được đội ngũ cán bộ người Kinh cũng như người dân tộc tại chỗ có tinh thần yêu nước, trung thành với lý tưởng của Đảng và Bác Hồ, có ý chí quyết đánh và quyết thắng bọn thực dân xâm lược. Tuy xa sự chỉ đạo của cấp trên ,có lúc tách ra từ tỉnh Gia Lai về tỉnh Đăk Lăk, có những lúc chia thành các khu, các vùng nhỏ nhưng vẫn giữ được sự đoàn kết thủy chung với các dân tộc, khắc phục khó khăn để Đảng bộ trụ bám kiên cường, vừa kháng chiến, vừa xây dựng bàn đạp kinh tế, xây dựng văn hóa phục vụ kháng chiến lâu dài. Những chiến công của quân và dân huyện Đông Cheo Reo đã góp phần to lớn vào thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của cả nước nói chung và các tỉnh Đăk Lăk, Gia Lai, Phú Yên nói riêng.




: Files
Files -> Sạt-đe rằng: Nầy là lời phán của Đấng có bảy vì thần Đức Chúa Trời và bảy ngôi sao
Files -> HƯỚng dẫn càI ĐẶt và SỬ DỤng phần mềm tạo bài giảng e-learning
Files -> VIỆn chăn nuôi trịnh hồng sơn khả NĂng sản xuất và giá trị giống của dòng lợN ĐỰc vcn03 luậN Án tiến sĩ NÔng nghiệp hà NỘI 2014
Files -> ĐẠi học quốc gia hà NỘi trưỜng đẠi học khoa học tự nhiên nguyễn Thị Hương XÂy dựng quy trình quản lý CÁc công trìNH
Files -> PHỤ LỤC 2 TỔng hợp danh mục tài liệu tham khảO
Files -> BÁo cáo quy hoạch vùng sản xuất vải an toàn tỉnh bắc giang đẾn năM 2020 (Thuộc dự án nâng cao chất lượng, an toàn sản phẩm nông nghiệp và phát triển chương trình khí sinh học ) Cơ quan chủ trì
Files -> BỘ TÀi nguyên và MÔi trưỜng
Files -> 1. Mục tiêu đào tạo: Mục tiêu chung


1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương