Ba mưƠi hai tưỚng tốt và TÁm mưƠi vẻ ÐẸp của phậT 三 十 二 相


/32 - Bốn Mươi Răng Trong Trắng



tải về 378.17 Kb.
trang6/13
Chuyển đổi dữ liệu14.08.2016
Kích378.17 Kb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   13

23/32 - Bốn Mươi Răng Trong Trắng


-Kinh văn : 世尊齿相四十齐平虢。净密根深?白逾珂?雪。是二十三。

-Lời kinh : Thế Tôn xỉ tướng, tứ thập tề bình, tịnh mật căn thâm, bạch du kha tuyết. Thị nhị thập tam.

-Nghĩa kinh: Hàm răng của Ðức Thế Tôn đủ 40 cái, bằng đều không so le, sít kín nhau, chân sâu và trong trắng như ngọc “Kha Tuyết”. Ðó là hai mươi ba.

-ÐTÐ: 二十三者齿齐相。诸氤等无蒉粗U无细不出辵不入。齿密相人不知者谓为一齿。齿间不容一毫。»

Nhị thập tam giả, “Xỉ Tề” tướng. Chư xỉ đẳng vô thô vô tế bất xuất bất nhập, xỉ mật tướng, nhơn bất tri giả vị vi nhứt xỉ, xỉ gian bất dung nhứt hào. [Hai mươi ba là tướng “Tề Xỉ”, các răng bằng như nhau, không lớn không nhỏ, không de ra, không xéo vào. Kín nhiệm người khó phân biệt, tưởng chừng như một khối. Dù một xơ nhỏ cũng không mắc kẹt vào kẽ răng được].

---o0o---

24/32 - Răng Và Bốn Răng Cửa Ðều Trong Suốt


-Kinh văn : 世尊四牙鲜白锋?利。是二十四。

-Lời kinh : Thế Tôn tứ nha tiễn bạch phong lợi. Thị nhị thập tứ.

-Nghĩa kinh: Bốn răng cửa của Thế Tôn, trắng tươi và bén nhọn. Là hai mươi bốn.

-ÐTÐ: 二十四者牙白相。乃至胜雪山王光。Á

Nhị thập tứ giả, “Nha Bạch” tướng.  [Hai mươi bốn là tướng “Nha Bạch”. Tướng “Nha Bạch” của Thế Tôn trong sáng lóng lánh hơn cả “Tuyết Sơn” vương].

 

---o0o---


25/32 - Cổ Có Mạch Hầu Biến Chất Ăn Thành Thượng Vị.


 -Kinh văn :

世尊常得味中缎上味。喉脉秛直故能引饼身中诸ỵƯ节脉衭所有上味卸。风热痰病不能为杂Ĩ由I彼不杂Ĩư吕沉浮延隝缩坏损痈曲等过。能正吞咽津?液通流故。身心适悦好常得上味。是二十五7875?

-Lời kinh : Thế Tôn thường đắc vị trung thượng vị, hầu mạch trực cố năng dẫn thân trung chư chi tiết mạch, sở hữu thượng vi phong nhiệt đàm bịnh, bất năng vi nhiễm, do bỉ bất nhiễm mạch ly trầm phù, diên xúc hoại tổn thống khúc đẳng quá. Năng chánh thôn yết tân dịch thông lưu cố. Thân tâm hoạt duyệt thường đắt thượng vị. Thị nhị thập ngũ.

-Nghĩa kinh : Tất cả hương vị khi đến với Thế Tôn đều trở thành “Thượng Vị”. Sở dĩ có như vậy, vì ngay nơi hầu mạch (mạch tại cổ) có công năng dẫn thẳng đến các mạch chi tiết của toàn thân. Các bịnh đàm ấm phong nhiệt, đều bị vô hiệu với cơ thân của Thế Tôn. Cơ thể miễn nhiễm tuyệt vời đó làm tiêu hoại tất cả sự xâm tổn đến các mạch, nổi chìm co giãn trong thân của Ngài. Ðó là hai lăm.

-ÐTÐ: 二十六者味中缎得上味相。有缎人言O。佛以Ơ食着口中。是一谢切食皆O作最?上味。何?Ơ故。是一切食中恍有最?上味因豆。无兽是相人不能发其因涔。不得最?上味。复有缎人言O。若o菩萨举食着口中行。是时咽喉边两处。流注甘露和合诸ỵỴ。是味清净故。名味抖中得上味卸。

Nhị thập lục giả, vị trung đắc thượïng vị tướng. Hữu nhơn ngôn, Phật dĩ thực trước trung khẩu, thị nhứt thế thực giai tác tối thượng vị. Hà dĩ cố ?  Thị nhứt thiết thực trung, hữu tối thượng vị nhân cố. Vô thị tướng nhơn bất năng phát kỳ nhơn cố, bất đắc tối thượng vị. Phục hữu nhơn ngôn, nhược Bồ Tát cữ thực trước khẩu trung, thị thời yết hầu biên lưỡng xứ, lưu chú cam lồ hòa hợp chư vị, thị vị thanh tịnh cố, danh vị trung đắc thượng vị. [TÐL  số 26 nói: Ðóù là cái tướng được “Thượng Vị” trong các vị. Các món ăn đến miệng Phật thì món ăn  đều biến thành thượng vị. Cớ sao vậy ? Bởi vì chất thượng vị hằng có trong thực vị, nhưng người không có tướng “Thượng Vị” không thể phát tiết ra được cái nhân tố  tối thượng vị  nầy. Còn một ý nói khác là Bồ Tát khi đưa món ăn đến miệng thì dòng mạch ngoài hai bên yết hầu, chảy ra chất “Cam Lồ” hòa hợp với thực vị, khiến cho vị đó liền trong sạch thơm tho, để trọn nên  “Thượng Vị”]. 

---o0o---

26/32 - Lưỡi Che Trùm Cả Mặt


-Kinh văn : 世尊舌相薄净广长。能覆面?U至耳发际。是二十六。Á

-Lời kinh : Thế Tôn thiệt tướng bạt tịnh quảng trường, năng phú diện luân chí nhĩ phát tế. Thị nhị thập lục.

-Nghĩa kinh : Tướng lưỡi của Thế Tôn, trong sạch dài rộng và mỏng, công năng của lưỡi có thể che trùm cả mặt cho đến  mé tóc trán và đến mang tai. Ðó là hai sáu.  

---o0o---


27/32 - Tiếng Nói Âm Vang Trong Suốt Như Tần-Già Âm


-Kinh văn :

世尊梵
i
ơ词韵弘7863?雅。随?众多少无谵不等闻。其配声洪7855?震犹如天鼓。发言蘋婉d约如频嫉迦音ơ。是二十七。ß

-Lời kinh : Thế Tôn phạm âm từ vận hoằng nhã, tùy chúng đa thiểu vô bất đẳng văn. Kỳ thinh hồng chấn du như thiên cổ, phát ngôn uyển ước như tần-ca âm. Thị nhị thập thất.

-Nghĩa kinh : Phạm âm từ vận giọng nói của Thế Tôn, lan rộng hòa nhã dịu dàng, bất luận thính chúng nhiều ít, xa gần độ nghe được, đều bình đẳng giống nhau. Chấn âm của giọng như tiếng trống trời, điệu uyển chuyển của thanh âm mềm như “Tần-già thinh” (giống chim nói pháp cõi Tịnh Ðộ). Là hai mươi  bảy.

-ÐTÐ: 二十七者大遡舌相。是菩萨大衖舌从I口中出衭覆一切面?U。乃至发际。若羙还入口口亦不满。à

Nhị thập thất giả, “Ðại Thiệt” tướng thị Bồ Tát đại thiệt tùng khẩu trung xuất phú nhứt thế diện phần, nải chí phát tế. Nhược hoàn nhập khẩu, khẩu diệc bất mãn. [Hai mươi bảy là “Ðại Thiệt” tướng, lưỡi lớn của Bồ Tát khi le ra che trùm trọn cả mặt, cho đến mé tóc. Khi trở lại co vào miệng, miệng vẫn bình thường không choáng ngập trong miệng].

---o0o---




1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   13


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương