BỘ TƯ pháp dự thảo số: /bc-btp cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam


b) Công tác thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hoá, hợp nhất VBQPPL và pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật



tải về 0.92 Mb.
trang2/7
Chuyển đổi dữ liệu09.06.2018
Kích0.92 Mb.
1   2   3   4   5   6   7

b) Công tác thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hoá, hợp nhất VBQPPL và pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật


- Công tác thẩm định VBQPPL tiếp tục được chú trọng nâng cao chất lượng và gắn kết chặt chẽ hơn với công tác kiểm tra VBQPPL, kiểm soát thủ tục hành chính. Năm 2015, ước tính toàn Ngành đã thẩm định 9.529 văn bản (tăng 230 văn bản so với năm 2014; giảm 655 văn bản so với năm 2012); trong đó, các Bộ, ngành đã thẩm định 1.335 văn bản, tăng 183 văn bản so với năm 2014 (Bộ Tư pháp thẩm định 320 văn bản, Tổ chức pháp chế các Bộ, cơ quan ngang Bộ thẩm định 1.015 văn bản); các địa phương (cấp tỉnh và cấp huyện) đã thẩm định 8.194 văn bản (tăng 47 văn bản so với năm 2014). Nhìn chung, các ý kiến thẩm định dự thảo VBQPPL đã được các cơ quan soạn thảo nghiên cứu, tiếp thu, giải trình trước khi hoàn chỉnh và là cơ sở để cấp có thẩm quyền xem xét, ban hành. Tính từ đầu nhiệm kỳ đến nay, toàn ngành Tư pháp đã tổ chức thẩm định 45.073 dự thảo VBQPPL. Nội dung thẩm định đã được các Bộ, ngành, địa phương chú trọng tới tính dự báo của các chính sách, đảm bảo tính khả thi trong việc ban hành văn bản để các quy định của pháp luật thực sự đi vào cuộc sống, thiết lập được môi trường pháp lý bình đẳng, tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp.

- Công tác kiểm tra, xử lý VBQPPL được chú trọng tăng cường. Ước tính năm 2015 các Bộ, cơ quan, địa phương đã tiếp nhận kiểm tra theo thẩm quyền 42.357 văn bản (giảm 6.775 văn bản so với năm 2014 và giảm 4.012 văn bản so với năm 2011); qua kết quả kiểm tra 10 tháng đầu năm, phát hiện 1.181 văn bản có dấu hiệu trái nội dung, thẩm quyền (giảm 373 văn bản so với 10 tháng đầu năm 2014)10, đã xử lý xong 442 văn bản. Công tác kiểm tra theo chuyên đề (nhất là trong các lĩnh vực được xã hội quan tâm như đất đai, đầu tư, xây dựng, xử lý vi phạm hành chính...), kiểm tra văn bản qua các nguồn thông tin liên tục được tăng cường, qua đó phát hiện nội dung trái pháp luật của một số văn bản và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền tự kiểm tra, xử lý kịp thời, được dư luận, báo chí đồng tình ủng hộ11. Công tác tự kiểm tra, kiểm tra theo thẩm quyền tại một số Bộ, ngành (như Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Nội vụ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn...) ngày càng được triển khai bài bản; chú trọng đến việc kiểm tra văn bản do Bộ, ngành khác ban hành có liên quan lĩnh vực quản lý của Bộ, ngành mình (Bộ Tài chính).

Tại Bộ Tư pháp, tính đến hết năm 2015, đã kiểm tra 2.391văn bản12, tăng 617 văn bản so với năm 2011 (1774 văn bản), nhưng giảm 1.496 văn bản so với năm 2014 (3887 văn bản); qua kiểm tra, bước đầu phát hiện 4413 văn bản sai về nội dung, thẩm quyền (chiếm 1,84% tổng số văn bản được kiểm tra). Qua đó, Bộ đã chỉ đạo tiến hành xem xét, xử lý và đến nay đã có 14 văn bản đã được xử lý xong, các văn bản khác đang trong thời gian xử lý.

- Đối với công tác rà soát VBQPPL, năm 2015, ước tính toàn Ngành rà soát được 76.453 văn bản. Công tác xử lý các văn bản đã hết hiệu lực, trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội được phát hiện thông qua rà soát cũng đã được chú trọng thực hiện, với 12.253 văn bản được xử lý trong năm 2015. Việc rà soát, hệ thống hóa VBQPPL kỳ đầu thống nhất trên cả nước đã được các Bộ, cơ quan, địa phương quan tâm triển khai thực hiện xong14. Việc công bố Danh mục VBQPPL hết hiệu lực toàn bộ hoặc một phần thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của các Bộ, cơ quan được thực hiện đúng quy định, góp phần giúp cho hệ thống pháp luật được minh bạch, dễ tiếp cận, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp và cơ quan nhà nước trong áp dụng.

- Được triển khai thực hiện từ năm 2012, đến nay, công tác hợp nhất VBQPPL, pháp điển hệ thống QPPL đang dần thể hiện được vai trò quan trọng trong việc giúp cho hệ thống pháp luật dễ tiếp cận, thuận lợi trong áp dụng. Đặc biệt, việc thực hiện Pháp lệnh hợp nhất VBQPPL được các cơ quan nghiêm túc triển khai theo quy định (trong năm 2015, riêng Bộ Tư pháp đã thực hiện hợp nhất và ký xác thực đối với 07 văn bản). Đối với công tác pháp điển, về cơ bản các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành đã đầy đủ; các Bộ, cơ quan đã quan tâm bố trí nhân sự kiêm nhiệm để triển khai công tác này, nhờ đó việc tổ chức triển khai công tác này cơ bản thuận lợi. Tính đến 31/12/2015, Bộ Tư pháp đã tiến hành thẩm định đối với 16 đề mục của Bộ Pháp điển15. Bộ Tư pháp thường xuyên tổ chức các cuộc sinh hoạt chuyên môn và hướng dẫn các Bộ, ngành triển khai pháp điển, hợp nhất VBQPPL, giúp cho các Bộ, ngành thực hiện thống nhất, đồng bộ các công tác này.

Như vậy, có thể thấy rằng trong nhiệm kỳ 2011-2015, với những chuyển biến tích cực, thể hiện tư duy lập pháp mới trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, việc chuyển giao công tác theo dõi, đôn đốc việc ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh từ Văn phòng Chính phủ sang Bộ Tư pháp (từ giữa năm 2013) và việc triển khai nền nếp công tác thẩm định, kiểm tra, xử lý, rà soát VBQPPL cùng công tác hợp nhất, pháp điển VBQPPL xây dựng pháp luật đã giúp cho hệ thống pháp luật Việt Nam được định hình một cách rõ nét trên tất cả các lĩnh vực, làm nền tảng cơ sở cho việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, từng bước chuyển hướng trọng tâm chiến lược từ xây dựng sang tổ chức thi hành pháp luật trong thời gian tới, đáp ứng tốt hơn các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, hội nhập quốc tế.



2.2. Hạn chế và nguyên nhân

a) Hạn chế

- Tình trạng xin lùi, xin rút các dự án luật khỏi Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội chưa được khắc phục triệt để.

- Tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh còn phổ biến. Đến cuối năm 2015 còn nợ 33 văn bản (tăng 15 văn bản so với năm 2014); số lượng văn bản bảo đảm có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của luật, pháp lệnh rất ít, gây ảnh hưởng không tốt đến công tác tổ chức triển khai thi hành luật, pháp lệnh, đến quyền, lợi ích của các cơ quan, tổ chức cá nhân. Số lượng VBQPPL do các Bộ, ngành, HĐND, UBND ban hành còn quá nhiều.

- Chất lượng thẩm định VBQPPL tuy đã được cải thiện một bước, nhưng vẫn còn để lọt nội dung thiếu tính khả thi, chưa hợp lý. Việc kiểm tra VBQPPL ở một số Bộ, cơ quan, địa phương vẫn còn chậm và chưa thường xuyên, nhiều văn bản đã ban hành nhưng chưa được kiểm tra, phát hiện kịp thời sai sót. Việc xử lý VBQPPL có dấu hiệu trái pháp luật còn chậm hoặc chưa đạt yêu cầu, có trường hợp gây bức xúc trong dư luận xã hội.



b) Nguyên nhân

- Lãnh đạo một số Bộ, cơ quan, địa phương chưa thực sự quan tâm, chỉ đạo sát sao công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra, xử lý VBQPPL. Công tác phối hợp giữa các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong quá trình xây dựng, thẩm định, kiểm tra, xử lý VBQPPL chưa thực sự chặt chẽ, kịp thời.

- Trong nhiệm kỳ 2011-2015, nhất là từ khi triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, số lượng các luật, pháp lệnh do các Bộ, cơ quan phải chủ trì xây dựng là rất lớn, đồng thời, số lượng văn bản quy định chi tiết phải xây dựng, ban hành nhiều. Chẳng hạn, riêng năm 2015, cần ban hành tới 230 văn bản (tăng 24 văn bản so với năm 2014). Nội dung của nhiều dự án, dự thảo văn bản quy định những vấn đề mới, phức tạp(16), trong khi đó thời gian để xây dựng, ban hành văn bản là tương đối ngắn và việc tuân thủ quy trình xây dựng, thẩm định VBQPPL còn chưa nghiêm, nhất là ở các địa phương.

- Đội ngũ công chức làm công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra, rà soát VBQPPL vẫn còn ít, tính chuyên nghiệp còn chưa cao. Việc thành lập, củng cố và kiện toàn các tổ chức pháp chế ở một số Bộ, cơ quan nhất là tại các địa phương còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của Nghị định số 55/2011/NĐ-CP.



3. Công tác kiểm soát thủ tục hành chính

3.1. Kết quả đạt được

- Năm 2015, các Bộ, cơ quan đã hoàn thành việc đơn giản hóa thêm 98 thủ tục hành chính (TTHC), nâng tổng số TTHC đã hoàn thành thực thi trong nhiệm kỳ 2011-2015 lên 4.481/4.723 TTHC đã được Chính phủ phê duyệt tại 25 Nghị quyết chuyên đề (đạt tỷ lệ 94,9%); ước tính đã đánh giá tác động đối với 2.087 TTHC, (tăng 61 TTHC so với năm 2014); thẩm định 1.616 TTHC (giảm 1.032 TTHC so với năm 2014); tham gia ý kiến đối với 1.850 TTHC; ban hành 2.139 quyết định công bố TTHC để cập nhật vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC (tăng gấp đôi so với năm 2014). Toàn Ngành cũng đã tiếp nhận và xử lý 2.098/2.436 phản ánh kiến nghị về hành vi hành chính, quy định hành chính (đạt 86%). Riêng Bộ Tư pháp, đã tham gia ý kiến đối với 796 TTHC, thẩm định 528 TTHC. Bộ đã tổ chức kiểm tra tại 03 Bộ, cơ quan và 13 tỉnh để nắm bắt những khó khăn, kịp thời hướng dẫn, đề xuất giải pháp khắc phục những tồn tại, hạn chế trong công tác kiểm soát TTHC.

  • Các Bộ, cơ quan, địa phương đã tích cực triển khai Kế hoạch đơn giản hóa thủ tục hành chính trọng tâm năm 2015 ban hành kèm theo Quyết định số 08/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Có 7/9 Bộ được giao rà soát, đơn giản hóa 13 nhóm thủ tục hành chính trọng tâm đã hoàn thành hệ thống hóa thủ tục hành chính, quy định liên quan; 2/9 Bộ khác đã hoàn thành nghiên cứu, đề xuất phương án đơn giản hóa trình Thủ tướng Chính phủ17; 19/24 Bộ, cơ quan đã ban hành quyết định công bố bộ thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng quản lý18; nhiều địa phương cũng đã hoàn thành công bố bộ TTHC đặc thù, còn 17 địa phương đang thực hiện công bố19.

  • Việc liên thông các TTHC được chú trọng nghiên cứu, triển khai. Bộ Tư pháp đã cùng với Bộ Công an, Bộ Y tế ban hành Thông tư liên tịch số 05/2015/TTLT-BTP-BCA-BYT ngày 15/5/2015 hướng dẫn liên thông thủ tục đăng ký khai sinh, đăng ký thường trú, cấp thẻ bảo hiểm y tế cho trẻ em dưới 6 tuổi. Bộ cũng đã xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ “Đề án liên thông thủ tục công chứng, đăng ký quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và thuế”. Thực hiện chủ trương đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, Bộ Tư pháp đã phê duyệt theo thẩm quyền Đề án Thiết lập hệ thống thông tin tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính và tình hình, kết quả giải quyết TTHC tại các cấp chính quyền; hoàn thiện Hệ thống quản lý, đánh giá công tác kiểm soát TTHC và Cơ sở dữ liệu quốc gia về TTHC.

Như vậy, mặc dù mới nhận chuyển giao toàn bộ chức năng, nhiệm vụ và nhân lực từ Văn phòng Chính phủ, Văn phòng UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương năm 2012, song công tác kiểm soát TTHC được ngành Tư pháp triển khai cơ bản có hiệu quả, ngày càng có sự gắn kết chặt chẽ với công tác xây dựng, thẩm định VBQPPL và nhận được sự quan tâm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương và toàn xã hội. Các kết quả đạt được trong công tác kiểm soát TTHC đã góp phần tạo thuận lợi, giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp, nhất là các lĩnh vực đầu tư, doanh nghiệp, đất đai, xây dựng, thuế, hải quan, bảo hiểm xã hội, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực canh tranh quốc gia. Đặc biệt, với việc tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 08/6/2013 phê duyệt Đề án tổng thể đơn giản hóa TTHC, giấy tờ công dân và các cơ sở dữ liệu liên quan đến quản lý dân cư giai đoạn 2013 – 2020 đã tạo tiền đề quan trọng tạo nên bước đổi mới căn bản về tổ chức, hoạt động quản lý nhà nước về dân cư theo hướng đơn giản hóa TTHC, bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân, góp phần phát triển Chính phủ điện tử.

3.2. Hạn chế và nguyên nhân

a) Hạn chế

- Các TTHC không hợp lý, không hợp pháp gây cản trở đến hoạt động sản xuất kinh doanh và quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp vẫn còn nhiều nhưng chưa được phát hiện, cắt giảm kịp thời.

- Một số nhiệm vụ được giao tại Kế hoạch đơn giản hóa TTHC trọng tâm năm 2015 chậm tiến độ, chưa bảo đảm chất lượng.

- Việc công bố công khai, niêm yết TTHC chưa được một số Bộ, ngành, địa phương thực hiện kịp thời, đầy đủ gây khó khăn, vướng mắc cho không chỉ cá nhân, tổ chức trong việc thực hiện TTHC mà còn “làm khó” cho chính các cơ quan hành chính cấp cơ sở (nhất là các đơn vị cấp huyện, xã) trong việc giải quyết và niêm yết TTHC.



b) Nguyên nhân

- Nhận thức của Lãnh đạo một số cơ quan, đơn vị về công tác cải cách TTHC, kiểm soát TTHC còn hạn chế, chưa quan tâm, chỉ đạo sâu sát các nhiệm vụ có liên quan. Trách nhiệm phối hợp của một số cơ quan, đơn vị trong việc thực hiện nhiệm vụ cải cách TTHC chưa chặt chẽ; một số Bộ, ngành chưa có sự phối hợp tích cực với Bộ Tư pháp trong triển khai đơn giản hoá TTHC các lĩnh vực thuộc phạm vi của Bộ, ngành mình.

- Trong quá trình triển khai thực hiện, một số tổ chức Pháp chế, Sở Tư pháp còn chưa chủ động, quyết liệt trong tham mưu triển khai và tổ chức thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ cải cách TTHC, kiểm soát TTHC.

- Đội ngũ những người làm công tác kiểm soát TTHC còn mỏng, chưa được kiện toàn đầy đủ. Một số cán bộ công chức còn có biểu hiện nhũng nhiễu; hiện tượng yêu cầu thêm các giấy tờ ngoài thành phần hồ sơ theo quy định còn tồn tại trong quá trình giải quyết TTHC.



4. Công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính, theo dõi thi hành pháp luật

4.1. Kết quả đạt được

a) Công tác quản lý xử lý vi phạm hành chính

- Thực hiện Nghị quyết số 77/2014/QH13, ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, nhiều địa phương đã tiến hành tạm thời giao trung tâm, cơ sở tiếp nhận đối tượng xã hội để quản lý, cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý cho người nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định trong thời gian lập hồ sơ để Tòa án nhân dân xem xét, quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, qua đó khắc phục, tháo gỡ một phần vướng mắc trong việc đưa người nghiện ma túy vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Bên cạnh đó, Bộ Y tế đã phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Công an ban hành Thông tư liên tịch số 17/2015/TTLT-BYT-BLĐTBXH-BCA quy định thẩm quyền, thủ tục và quy trình xác định tình trạng nghiện ma túy, góp phần tháo gỡ được khó khăn, vướng mắc lớn nhất trong quá trình triển khai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

- Việc kiện toàn tổ chức, biên chế làm công tác xử lý vi phạm hành chính (XLVPHC) bước đầu được các Bộ, cơ quan, địa phương quan tâm thực hiện. Đa số các Bộ, cơ quan ngang Bộ đã giao cho Vụ Pháp chế là đơn vị đầu mối triển khai thực hiện nhiệm vụ quản lý XLVPHC, bố trí từ 01 đến 03 cán bộ thực hiện công tác này, một số Bộ ngành: Bộ Công an, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã triển khai tốt việc tổ chức bộ máy, bố trí nhân sự chuyên trách để thực hiện nhiệm vụ quản lý XLVPHC. Tại địa phương, tính đến nay đã có có 44/63 tỉnh, thành phố thành lập được Phòng chuyên môn trực thuộc Sở Tư pháp (Phòng QLXLVPHC&TDTHPL) để thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định20 (tăng 41 địa phương so với năm 2014).

- Công tác tập huấn, hướng dẫn nghiệp vụ, kiểm tra về XLVPHC tiếp tục được chú trọng thực hiện. Bộ Tư pháp đã tổ chức 17 hội nghị, hội thảo tập huấn về công tác thi hành pháp luật về XLVPHC; kiểm tra công tác tại 04 Bộ, và 3 địa phương21. Một số Bộ, ngành, địa phương: Bộ Y tế, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Bộ Giao thông vận tải, Nghệ An, Sóc Trăng, Lâm Đồng... đã chủ động tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn, kiểm tra công tác áp dụng pháp luật về XLVPHC, giúp cho công tác này được thực hiện nghiêm minh, chặt chẽ, kịp thời hơn.

- Công tác thống kê về XLVPHC bước đầu đi vào nề nếp. Theo báo cáo của 15/2022 Bộ, cơ quan ngang Bộ và 63/63 tỉnh, thành phố, trong năm 2015 có 9.445.474 vụ vi phạm hành chính bị phát hiện, đã ra 4.142.875 quyết định xử phạt với với tổng số tiền hơn 7.338 tỷ đồng. Về việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, năm 2015 có 27.465 đối tượng bị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính; trong đó có 14.428 đối tượng bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; 13.036 đối tượng đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý hành chính do TAND quyết định. Qua kiểm tra, theo dõi cho thấy việc thực hiện xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng các biện pháp xử lý hành chính cơ bản được thực hiện theo quy định của pháp luật, chưa để xảy ra sai sót, bức xúc lớn.



b) Công tác theo dõi thi hành pháp luật

Năm 2015, Bộ Tư pháp đã cùng với các Bộ, ngành, địa phương tổ chức sơ kết 03 năm thi hành Nghị định số 59/2012/NĐ-CP ngày 23/7/2012 của Chính phủ về theo dõi tình hình thi hành pháp luật. Thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ, Bộ Tư pháp đã ban hành Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật về chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả và Kế hoạch theo dõi tình hình thi hành pháp luật trong lĩnh vực trọng tâm của Bộ Tư pháp năm 2015; tổ chức 04 Đoàn Kiểm tra liên ngành, tiến hành kiểm tra về tình hình thi hành pháp luật về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả tại địa phương23 và một số Đoàn Kiểm tra công tác theo dõi thi hành pháp luật (TDTHPL) tại Bộ, ngành, địa phương24. Qua theo dõi cho thấy, hầu hết các Bộ, cơ quan, địa phương đều ban hành Kế hoạch và tổ chức các hoạt động TDTHPL trong phạm vi quản lý nhà nước được giao, trong đó có các lĩnh vực trọng tâm đã được xác định theo hướng dẫn của Bộ Tư pháp. Ngoài ra, một số địa phương (như Hà Nội, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Hà Tĩnh, Lâm Đồng, TP.Hồ Chí Minh, Long An, Hậu Giang...) đã tổ chức TDTHPL trong những lĩnh vực nóng, có nhiều bức xúc ở địa phương như đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng.

Có thể thấy rằng, mặc dù đều là những nhiệm vụ mới, còn gặp nhiều khó khăn song trong nhiệm kỳ 2011-2015, Bộ Tư pháp, các Bộ, cơ quan, địa phương đã có nhiều nỗ lực triển khai công tác quản lý nhà nước về XLVPHC theo Luật XLVPHC, Nghị quyết số 24/2012/QH13 về việc thi hành Luật, cũng như công tác theo dõi thi hành pháp luật theo Nghị định số 59/2012/NĐ-CP, bước đầu đạt được kết quả tích cực, một mặt góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, mặt khác bảo vệ được tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân.

4.2. Hạn chế và nguyên nhân

a) Hạn chế

- Việc rà soát, sửa đổi, bổ sung một số VBQPPL phục vụ cho việc triển khai Luật XLVPHC, nhất là các văn bản liên quan đến việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính, trong đó có quy định về áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc còn chậm; tình trạng chồng chéo, chưa phù hợp trong một số nghị định về xử phạt vi phạm hành chính chưa được giải quyết kịp thời.



- Việc kiện toàn tổ chức bộ máy, biên chế, triển khai công tác quản lý về XLVPHC ở địa phương còn chậm, lúng túng. Công tác thống kê, theo dõi tình hình XLVPHC chủ yếu thực hiện theo phương thức thủ công. Một số Bộ, ngành, địa phương chưa quan tâm đến công tác XLVPHC; một số Bộ chưa có báo cáo thống kê số liệu.

- Hiệu quả triển khai công tác TDTHPL ở một số Bộ, cơ quan, địa phương chưa cao, chưa phản ánh đúng những khó khăn, vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thi hành pháp luật tại địa phương; chưa có nhiều đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thi hành và hoàn thiện hệ thống pháp luật.



b) Nguyên nhân

- Quản lý nhà nước về XLVPHC là nhiệm vụ mới, phức tạp, phạm vi rộng trong khi cơ sở vật chất và điều kiện bảo đảm cho việc triển khai công tác này còn gặp nhiều khó khăn, nhất là về biên chế.

- Công tác phối hợp giữa các Bộ, cơ quan và địa phương trong công tác quản lý nhà nước về XLVPHC, nhất là trong xử lý những vướng mắc phát sinh còn chưa thực sự nhịp nhàng, còn nhiều bất cập.

- Một số lãnh đạo Bộ, cơ quan, địa phương chưa coi trọng vai trò công tác TDTHPL trong chỉ đạo, điều hành kinh tế - xã hội. Thể chế về công tác TDTHPL chậm được hoàn thiện; phối hợp trong TDTHPL chưa chặt chẽ. Số lượng, khối lượng nhiệm vụ trên các mặt công tác TDTHPL lớn, rộng trên nhiều lĩnh vực, trong khi đó nguồn lực về bộ máy, cán bộ, kinh phí để triển khai còn hạn chế.



5. Công tác thi hành án dân sự

5.1. Kết quả đạt được

Thực hiện Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự, Bộ Tư pháp đã xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 62/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự; chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng, ban hành Thông tư liên tịch số 12/2015/TTLT-BTP-BTC-TANDTC-VKSNDTC ngày 15/9/2015 hướng dẫn việc miễn, giảm nghĩa vụ thi hành án đối với các khoản thu, nộp ngân sách nhà nước và ban hành Thông tư số 08/2015/TT-BTP ngày 26/6/2015 của Bộ Tư pháp sửa đổi, bổ sung Thông tư số 02/2013/TT-BTP ngày 03/01/2013 của Bộ Tư pháp hướng dẫn chế độ báo cáo thống kê thi hành án dân sự (THADS). Việc kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ của các cơ quan THADS tiếp tục được quan tâm; kỷ cương, kỷ luật hành chính được siết chặt và ngày càng đi vào nền nếp; công tác biệt phái, điều động, luân chuyển công chức được quan tâm thực hiện nghiêm túc, đúng quy định. Việc giải quyết các vụ án lớn, phức tạp, các vụ án liên quan đến tín dụng, ngân hàng được chú trọng. Công tác phối hợp liên ngành được đặc biệt quan tâm, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Bộ, ngành liên quan ban hành các Quy chế phối hợp trong công tác thi hành án dân sự với Ngân hàng Nhà nước, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Bộ Công an, Tòa án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao...; trên cơ sở đó, nhiều địa phương đã ban hành Quy chế phối hợp liên ngành để triển khai thực hiện tại địa phương. Nhờ đó, công tác THADS năm 2015 tiếp tục đạt kết quả tốt, cụ thể:



- Về việc, tổng số thụ lý là 791.412 việc, tăng 12.114 việc (1,55%) so với năm 2014. Kết quả xác minh, phân loại có: 599.436 việc có điều kiện giải quyết, chiếm tỷ lệ 75,74% (giảm 861 việc và giảm 1,29% về tỷ lệ so với năm 2014). Trong số có điều kiện, đã giải quyết xong 533.985 việc, đạt tỷ lệ 89,08%, vượt 1,08% so với chỉ tiêu được Quốc hội giao (tăng 2.890 việc và tăng 0,61% về tỷ lệ so với năm 2014). Số việc chuyển kỳ sau là 257.427 việc, tăng 9.224 việc so với số việc còn phải giải quyết của năm 2014 chuyển sang năm 2015 và tăng 10.324 việc còn phải giải quyết của năm 2010 chuyển sang năm 2011.

- Về tiền, tổng số tiền thụ lý là 125.956 tỷ 77 triệu 210 nghìn đồng, tăng cao so với năm 2014 (tăng 30.847 tỷ 421 triệu 820 nghìn đồng, tương đương tăng 32,43%). Kết quả xác minh, phân loại có: 56.342 tỷ 815 triệu 341 nghìn đồng có điều kiện giải quyết, chiếm tỷ lệ 44,73% (tăng 5.534 tỷ 836 triệu 938 nghìn đồng nhưng giảm 8,69% về tỷ lệ so với năm 2014). Trong số có điều kiện, đã giải quyết xong 42.819 tỷ 191 triệu 766 nghìn đồng, đạt tỷ lệ 76%, còn thiếu 1% so với chỉ tiêu được Quốc hội giao (tăng 3.837 tỷ 686 triệu 324 nghìn đồng nhưng giảm 0,72% về tỷ lệ so với năm 2014). Số tiền chuyển kỳ sau là 83.136 tỷ 885 triệu 439 nghìn đồng, tăng 27.009 tỷ 735 triệu 491 nghìn đồng so với số tiền còn phải giải quyết của năm 2014 chuyển sang năm 2015 và tăng 63.176 tỷ 981 triệu 242 nghìn đồng so với số tiền còn phải giải quyết của năm 2010 chuyển sang năm 2011.

Một số địa phương có kết quả thi hành án đạt tỷ lệ khá cao, góp phần quan trọng vào kết quả chung của toàn quốc25; có 21 địa phương26 hoàn thành cả 03 chỉ tiêu của Bộ Tư pháp giao (chỉ tiêu thi hành án xong về việc, chỉ tiêu thi hành án xong về tiền và chỉ tiêu giảm án chuyển kỳ sau).

- Công tác đôn đốc thi hành án hành chính đã có nhiều chuyển biến trong nhiệm kỳ 2011-2015, nhất là sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 17/CT-TTg ngày 25/5/2012, hầu hết các vụ việc thi hành án hành chính đều được các cơ quan THADS kịp thời có văn bản đôn đốc (năm 2013 đạt tỷ lệ 99,43%, năm 2014: 99,33%, năm 2015: 100%). Triển khai Luật tố tụng hành chính, Nghị quyết số 56/2010/QH12 của Quốc hội và Chỉ thị số 17/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tư pháp đã phối hợp với Bộ Nội vụ bổ sung nguồn nhân lực cho các cơ quan THADS địa phương (bổ sung 01 biên chế chuyên trách công tác này).

- Thực hiện Nghị quyết số 36/2012/QH13 của Quốc hội, Bộ Tư pháp phối hợp một số Bộ, ngành liên quan, Tỉnh uỷ, HĐND, UBND một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục tổ chức thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại 12 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ngoài thành phố Hồ Chí Minh. Đến nay, cả nước có 53 Văn phòng Thừa phát lại với 134 Thừa phát lại, tổng doanh thu là gần 136 tỷ đồng. Kết thúc thí điểm, Bộ Tư pháp đã tổ chức tổng kết, báo cáo Chính phủ trình Quốc hội thông qua Nghị quyết số 107/2015/QH13 ngày 26/11/2015 về thực hiện chế định thừa phát lại, trong đó ghi nhận kết quả đạt được trong việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại và chính thức cho thực hiện chế định Thừa phát lại trong phạm vi cả nước từ ngày 01/01/2016.





Biểu đồ số 03: Kết quả thi hành án dân sự nhiệm kỳ 2011 - 2015

Nhìn vào Biểu đồ số 03 cho thấy, kết quả THADS năm sau luôn đạt cao hơn năm trước. Có thể khẳng định, nhiệm kỳ 2011-2015 là giai đoạn đi vào ổn định và phát triển bền vững của công tác THADS trên tất cả các lĩnh vực công tác, từ việc hoàn thiện thể chế cho đến tổ chức bộ máy được thành lập tập trung, thống nhất theo ngành dọc từ Trung ương tới địa phương; công tác cán bộ được coi trọng, tổ chức, đội ngũ cán bộ được củng cố, kiện toàn cơ bản cả về số lượng và chất lượng, nhất là cán bộ quản lý và chức danh pháp lý, những địa phương yếu kém đã được giải quyết dứt điểm; công tác phối hợp được quan tâm, ngày càng hiệu quả; kỷ cương kỷ luật, cơ sở vật chất được tăng cường đáng kể; kết quả thi hành án dân sự năm sau cao hơn năm trước, ngày càng thực chất và bền vững, cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ được Quốc hội giao. Những kết quả, đóng góp của các cơ quan THADS đã góp phần quan trọng, tích cực vào việc đảm bảo an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của đất nước và từng địa phương, được Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Nhân dân ghi nhận. Việc tổ chức thí điểm thành công chế định Thừa phát lại, được Quốc hội cho phép chính thức thực hiện, dự báo sẽ góp phần quan trọng cho công tác xã hội hóa các nghề tư pháp, làm sáng tỏ và đầy đủ hơn ý nghĩa của những nỗ lực cải cách trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp của đất nước ta.

5.2. Hạn chế và nguyên nhân

a) Hạn chế

- Mặc dù kết quả THADS năm 2015 vượt chỉ tiêu Quốc hội giao về việc (vượt 1,08%) nhưng vẫn chưa hoàn thành chỉ tiêu Quốc hội giao về tiền (còn thiếu 01%); số việc, tiền phải thi hành chuyển kỳ sau còn nhiều, nhất là về tiền (chiếm 32,53% về việc và 66 % về tiền so với tổng số thụ lý); một số đơn vị có biểu hiện chạy theo thành tích trong thời điểm cuối năm, số việc hoãn, trả đơn, ủy thác thi hành án chiếm số lượng lớn với gần 51.000 việc và trên 20.751 tỷ đồng (chiếm 6,4% về việc và 16,5% về tiền so với tổng số thụ lý).

- Công tác luân chuyển cán bộ, công chức trong các cơ quan THADS vẫn chưa được như mong muốn. Kỷ cương, kỷ luật tại một số đơn vị còn chưa nghiêm; số lượng công chức vi phạm bị xử lý kỷ luật còn nhiều như Gia Lai, An Giang...; vẫn còn có nơi để xảy ra việc nhũng nhiễu, gây phiền hà cho các bên đương sự, gây bức xúc trong dư luận xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng tới hình ảnh cán bộ, công chức cũng như hình ảnh của các cơ quan THADS27.

- Cơ sở vật chất chưa đáp ứng yêu cầu, hiện vẫn còn 534 đơn vị chưa có Kho vật chứng; có nơi vẫn còn phải đi thuê hoặc chưa có trụ sở, nhất là những Chi cục ở vùng sâu, vùng xa, Chi cục mới được thành lập; công tác quản lý, sử dụng ngân sách, tài sản; thực hiện chế độ kế toán nghiệp vụ tại một số nơi còn nhiều tồn tại, hạn chế, thực hiện chưa nghiêm.

- Công tác tuyên truyền về Thừa phát lại ở cả Trung ương và địa phương còn chưa sâu rộng nên hiểu biết của người dân và xã hội về Thừa phát lại còn hạn chế; thể chế về Thừa phát lại chưa hoàn thiện; sự phối hợp của các cấp, các ngành ở Trung ương và địa phương, ngay cả của các cơ quan THADS đối với Văn phòng Thừa phát lại còn chưa chặt chẽ, có lúc có việc chưa hiệu quả.

b) Nguyên nhân

- Đội ngũ cán bộ còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình mới; còn một bộ phận công chức chưa thật sự chủ động, tích cực trong công việc, tư duy theo nếp cũ, chưa tận tuỵ phục vụ Nhân dân, cá biệt có trường hợp còn có hành vi tiêu cực, tham nhũng, gây phiền hà cho các bên đương sự, thậm chí là vi phạm pháp luật.

- Chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra chưa thực sự đạt hiệu quả như mong muốn, vẫn còn có những cuộc kiểm tra kết luận mang tính chung chung, không chỉ rõ trách nhiệm phải xử lý kỷ luật đối với sai phạm; cơ chế hậu kiểm, phúc tra việc thực hiện Kết luận kiểm tra của các đơn vị được kiểm tra vẫn còn là một khâu yếu, chưa được quan tâm thực hiện.

- Công tác phối hợp với các đơn vị có liên quan (Tòa án, Viện Kiểm sát, Công an...), phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương trong công tác THADS có lúc có nơi còn thiếu chủ động, hiệu quả chưa cao mặc dù đã có đầy đủ các văn bản hướng dẫn, quy chế phối hợp liên ngành.

- Số việc và tiền thụ lý ngày càng nhiều, năm sau cao hơn năm trước (năm 2015 tăng 1,55% về việc và 32,43% về tiền so với năm 2014 và cao nhất từ trước đến nay với gần 800.000 việc, số tiền xấp xỉ 126.000 tỷ đồng) trong khi nền kinh tế còn khó khăn, thị trường bất động sản chưa thực sự khởi sắc trở lại nên nhiều tài sản, nhất là bất động sản đã kê biên, thẩm định giá nhưng rất khó bán, nhiều vụ việc phải định giá lại nhiều lần vẫn không có người mua.

- Vẫn còn lượng án tương đối lớn về giá trị thuộc diện chưa có điều kiện thi hành, tồn đọng trong nhiều năm không thi hành được, phải tiến hành đôn đốc, xác minh theo định kỳ, mất nhiều thời gian, công sức. Đặc biệt, những năm gần đây có nhiều vụ án hình sự liên quan đến tham nhũng, thu hồi tài sản cho Nhà nước, giá trị phải thi hành lớn nhưng khả năng thi hành thấp do tài sản của đương sự có giá trị rất nhỏ, không đủ bảo đảm thi hành án như vụ Vinashin, vụ Vinalines, vụ Huỳnh Thị Huyền Như.



6. Quản lý nhà nước về phổ biến, giáo dục pháp luật, hoà giải ở cơ sở

6.1. Kết quả đạt được

- Năm 2015, việc thực hiện Luật phổ biến, giáo dục pháp luật, các Chương trình, Đề án về phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) và các văn bản hướng dẫn thi hành tiếp tục được quan tâm, chú trọng, bám sát nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh của đất nước và từng địa phương; từng bước gắn kết chặt chẽ hơn với công tác xây dựng, thực thi pháp luật, trong đó đã chú trọng phổ biến mục tiêu, quan điểm, chính sách mới trong quá trình xây dựng luật gắn với những vấn đề dư luận xã hội quan tâm hoặc cần định hướng dư luận để tạo đồng thuận trong xã hội. Ngày Pháp luật năm 2015 được các Bộ, ngành, địa phương tổ chức đồng bộ, rộng khắp, với nhiều hình thức phong phú như: Tư vấn pháp luật lưu động, phổ biến, giáo dục pháp luật trực tiếp tại địa bàn vùng sâu, vùng xa (Sơn La, Nghệ An, Hà Giang...); thu hút sự vào cuộc sâu của các cơ quan thông tấn báo chí (như Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam...). Theo ước tính, năm 2015 các Bộ, ngành, địa phương tổ chức 1.597.892 cuộc tuyên truyền pháp luật (TTPL), tăng gần 54% so với năm 2014) cho 80.984.919 lượt người (tăng 1.387.706 lượt so với năm 2014)Biểu đồ số 04; phát hành miễn phí 46.638.537 tài liệu tuyên truyền, phổ biến pháp luật; tổ chức 15.585 cuộc thi tìm hiểu pháp luật, qua đó góp phần tác động tích cực đến ý thức pháp luật của người dân.


Biểu đồ số 04: Số cuộc tuyên truyền pháp luật

và Số lượt người được tuyên truyền pháp luật từ năm 2012-2015

- Tiếp tục triển khai Luật hòa giải ở cơ sở, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các địa phương tổ chức các lớp tập huấn kiến thức pháp luật và nghiệp vụ, kỹ năng hòa giải cho hòa giải viên. Theo thống kê, hiện cả nước có 134.873 Tổ Hòa giải (tăng 23.358 Tổ so với đầu nhiệm kỳ - năm 2011); 762.794 Hòa giải viên (tăng 203.362 so với đầu nhiệm kỳ - năm 2011); trong năm 2015 cả nước tiếp nhận 183.658 vụ việc hòa giải, số vụ việc hoà giải thành ước đạt 143.665 vụ việc - đạt tỷ lệ hòa giải thành 78,22% (tăng 1,22% so với năm 2014 và năm 2011) - Biểu đồ số 05. Một số địa phương có tỷ lệ hoà giải thành cao (như Hà Nam - 96%, Hoà Bình - 93%, Bình Định - 91,8%).





Biểu đồ số 05: Số vụ việc tiếp nhận hoà giải và

Số vụ việc hoà giải thành nhiệm kỳ 2011-2015

- Trong năm 2015, Bộ Tư pháp đã cùng với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ban hành Kế hoạch liên tịch số 856/KH-BTP-BVHTTDL-BTTUBTWMTTQVN ngày 23/3/2015 về việc phối hợp khảo sát, đánh giá tình hình xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước; đồng thời hướng dẫn Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương rà soát, đánh giá tình hình xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước, làm rõ hơn vị trí, vai trò của hương ước, quy ước trong quản lý xã hội. Bộ Tư pháp cũng đã phối hợp với các địa phương (thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mau, Quảng Bình, Thái Bình và Điện Biên) tiếp tục triển khai làm thử việc đánh giá, công nhận địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật theo Quyết định số 09/2013/QĐ-TTg, từ đó đề xuất các giải pháp lồng ghép tiêu chí tiếp cận pháp luật vào Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới nhiệm kỳ 2016-2020, gắn kết các chủ trương, chính sách pháp luật về xây dựng nông thôn mới, xây dựng địa phương đạt chuẩn tiếp cận pháp luật trong thời gian tới.

Có thể thấy rằng, nhiệm kỳ 2011-2015, công tác quản lý nhà nước về PBGDPL và hòa giải ở cơ sở ngày càng được chú trọng và tăng cường. Thể chế các lĩnh vực này đã được hoàn thiện với việc Quốc hội thông qua Luật phổ biến, giáo dục pháp luật và Luật hòa giải ở cơ sở và gần 10 văn bản quy định chi tiết thi hành28 đã tạo lập khuôn khổ pháp lý cho bước chuyển mới, căn bản trong các công tác này. Điều kiện bảo đảm thực hiện công tác PBGDPL và Hòa giải ở cơ sở ngày càng được quan tâm hơn. Đặc biệt, kể từ năm 2013, Ngày Pháp luật Việt Nam đã được triển khai đồng bộ trên cả nước; thực sự trở thành sự kiện chính trị, pháp lý, góp phần nâng cao ý thức của cán bộ, Nhân dân sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật. Công tác hoà giải ở cơ sở, nhất là từ khi có Luật hoà giải ở cơ sở, đã góp phần quan trọng trong gắn kết cộng đồng dân cư, bảo đảm ổn định trật tự an toàn cơ sở.


: tintuc -> Lists -> ChiDaoDieuHanh -> Attachments
Attachments -> ĐẢng bộ khối các cơ quan tw
Attachments -> BỘ TÀi chính cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
Attachments -> BỘ CÔng an số: 411/bc-bca cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
Attachments -> Điều Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 103/2013/NĐ-cp ngày 12/9/2013 quy định về xử phạt VI phạm hành chính trong hoạt động thủy sản
Attachments -> Hội nghị toàn quốc sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm 2016
Attachments -> BỘ TƯ pháp số: 1215/btp-pbgdpl v/v tăng cường quản lý về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước CỘng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
Attachments -> BỘ TƯ pháp cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc
Attachments -> VĂn phòng số: 1470/tb-vp cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
Attachments -> DỰ thảO ngày 16/12/2014


1   2   3   4   5   6   7


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương