BỘ lao đỘng thưƠng binh và XÃ HỘi cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam



tải về 278.45 Kb.
trang1/3
Chuyển đổi dữ liệu13.08.2016
Kích278.45 Kb.
  1   2   3

BỘ LAO ĐỘNG - THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016


BÁO CÁO NGHIÊN CỨU

KHẢ THI CHƯƠNG TRÌNH MỤC TIÊU QUỐC GIA

VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG GIAI ĐOẠN 2016-2020
Thực hiện Nghị quyết số 100/2015/QH13 ngày 12/11/2015 của Quốc hội phê duyệt Chủ trương đầu tư các Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2020, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội đã phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng báo cáo nghiên cứu khả thi Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt Chương trình với các nội dung sau:

I. Tên Chương trình, cơ quan quản lý và sự cần thiết của Chương trình

1. Tên Chương trình: Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020.

2. Cơ quan quản lý Chương trình: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

3. Sự cần thiết đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020

- Luật Đầu tư công ngày 18 tháng 6 năm 2014;

- Nghị quyết số 76/2014/QH13 ngày 24 tháng 06 năm 2014 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020;

- Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 01 tháng 6 năm 2012 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020;

- Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ về Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP);

- Nghị Quyết số 80/NQ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2011 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020 (sau đây viết tắt là Nghị Quyết số 80/NQ-CP);

- Quyết định số 551/QĐ-TTg ngày 04 tháng 4 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình 135 về hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất cho các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản đặc biệt khó khăn;

- Nghị quyết số 57/NQ-CP ngày 06 tháng 8 năm 2015 của Chính phủ về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 7 năm 2015.

- Nghị quyết số 100/2015/QH13 ngày 12 tháng 11 năm 2015 của Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 10 về việc phê duyệt chủ trương đầu tư các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2016-2020.

- Tiếp tục thực hiện có chất lượng mục tiêu thiên niên kỷ đã cam kết với cộng đồng quốc tế; là cơ sở để các tổ chức quốc tế xem xét để tiếp tục xây dựng kế hoạch hợp tác dựa trên cơ sở định hướng giảm nghèo của Việt Nam trong giai đoạn tới, đặc biệt là các mục tiêu phát triển bền vững SDGs.



4. Đánh giá thực trạng

4.1. Bối cảnh

Chương trình MTQG giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 diễn ra trong bối cảnh mới gắn liền với việc thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2011-2020) và kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế - xã hội (2016-2020) đây là giai đoạn cuối nhằm thực hiện hoàn thành chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm. Một trong những nhiệm vụ trước tiên là giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đi đôi với tốc độ tăng trưởng, bảo đảm cho nền kinh tế phát triển bền vững, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của người dân; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, từng bước xây dựng kết cấu hạ tầng hiện đại.

Trong mô hình tăng trưởng này, có sự gắn kết tăng trưởng với giảm nghèo bền vững, trên cơ sở phát triển đa dạng các ngành, nghề; phát huy tiềm lực khoa học, công nghệ của đất nước, nâng cao năng suất lao động xã hội và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế; tăng cường liên kết, khai thác, phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng vùng kinh tế… để tạo nhiều việc làm và thu nhập. Vừa khuyến khích làm giàu hợp pháp, vừa tích cực giảm nghèo và thoát nghèo bền vững, bảo đảm mọi người dân đều được hưởng lợi từ thành quả tăng trưởng kinh tế; giữ khoảng cách chênh lệch giàu nghèo ở mức độ hợp lý, không trở thành vấn đề xã hội bức xúc.

Trong bối cảnh hiện nay, phân bổ nguồn lực sẽ hướng vào ưu tiên đầu tư cho tăng trưởng kinh tế bền vững, khuyến khích đầu tư của xã hội vào vùng kinh tế trọng điểm. Nhà nước tập trung đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, dịch vụ công quan trọng, một số ngành sản xuất thiết yếu, then chốt, đóng vai trò chủ đạo và lĩnh vực cần thiết cho xã hội mà tư nhân không thể hoặc chưa thể đảm đương được. Mặt khác Nhà nước cần ưu tiên hỗ trợ đầu tư vào các vùng kém phát triển, để giảm sự cách biệt giữa các vùng miền; đặc biệt, tăng đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn, nông dân nhằm xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia. Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; quan tâm đến các vùng, đối tượng còn nhiều khó khăn. Tăng đầu tư cho phát triển xã hội, an sinh xã hội và phúc lợi xã hội. Đổi mới cơ chế phân bổ nguồn lực dựa trên kế hoạch trung hạn 5 năm 2016-2020 và nhu cầu phát triển của từng lĩnh vực, vùng miền để bảo đảm công bằng xã hội, vì mục tiêu phát triển con người, đặc biệt trong lĩnh vực giảm nghèo hướng tới đảm bảo các nhu cầu xã hội cơ bản như: giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch và tiếp cận thông tin. Điều chỉnh mô hình đô thị hoá bảo đảm đô thị hoá trải rộng trên phạm vi cả nước; ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường và đô thị hoá nông thôn, cho một số vùng khó khăn, kinh tế thị trường chưa phát triển, có tỷ lệ hộ nghèo cao, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống.

Bối cảnh trên là cơ sở quan trọng để kết hợp giữa kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội gắn với giảm nghèo và định hướng xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 nhằm giảm nghèo nhanh và bền vững.

4.2. Thực trạng nghèo ở nước ta hiện nay

Trong thời gian qua, tỷ lệ nghèo đã giảm nhanh ở các huyện nghèo, xã đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc; tỷ lệ hộ nghèo cả nước dự kiến cuối năm 2015 dưới 5%, một số địa phương không còn hộ nghèo theo chuẩn giai đoạn 2011-2015, nhưng nhiều nơi tỷ lệ nghèo vẫn còn trên 50%, cá biệt còn trên 60-70%; Tỷ trọng hộ nghèo dân tộc thiểu số chiếm gần 50% tổng số hộ nghèo trong cả nước. Thu nhập bình quân của hộ dân tộc thiểu số chỉ bằng 1/6 mức thu nhập bình quân của cả nước1, chênh lệch giàu - nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư chưa được thu hẹp, nhất là khu vực miền núi phía Bắc và Tây Nguyên2. Nghèo đói tập trung chủ yếu ở những vùng khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng bãi ngang ven biển, hải đảo, nơi có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, giảm nghèo chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo cao.



Thực trạng huyện nghèo:

Hiện nay trên cả nước có tất cả 94 huyện nghèo, bao gồm 64 huyện nghèo được hỗ trợ áp dụng các cơ chế, chính sách theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ3 và 30 huyện nghèo được hỗ trợ áp dụng một số cơ chế, chính sách đầu tư theo quy định tại Nghị quyết 30a4.

Đến cuối năm 2014, tổng số hộ nghèo trên địa bàn 64 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a là 234.743 hộ (giảm 34.427 hộ so với năm 2013), tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 32,59% (giảm 5,63% so với năm 2013); tổng số hộ nghèo trên địa bàn 30 huyện nghèo được hỗ trợ áp dụng một số cơ chế, chính sách đầu tư theo Nghị quyết 30a là 119.888 hộ (giảm 20.261 hộ so với năm 2013), tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 28,49% (giảm 5,65% so với năm 2013).

Trong đó vẫn còn có những huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao trên 50% như các huyện Trạm Tấu (56,55%) và Mù Cang Chải (56,27%) thuộc tỉnh Yên Bái; các huyện Tủa Chùa (51,58%), Mường Nhé (50,19%) và Nậm Pồ (54,07%) thuộc tỉnh Điện Biên; huyện Kỳ Sơn (52,79%) thuộc tỉnh Nghệ An; huyện Nam Trà My (62,96%) thuộc tỉnh Quảng Nam. Ngoài ra một số huyện nghèo khác theo Nghị quyết 30a tuy có tỷ lệ hộ nghèo không cao như những huyện nghèo nêu trên nhưng điều kiện kinh tế - xã hội, hệ thống cơ sở hạ tầng, đời sống của người dân trên địa bàn cũng vẫn còn rất khó khăn, như các huyện nghèo khu vực vùng cao núi đá tỉnh Hà Giang (Đồng Văn, Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ); các huyện Bảo Lâm, Bảo Lạc thuộc tỉnh Cao Bằng và một số huyện nghèo khác thuộc các tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Sơn La…; Hiện nay, một số địa phương đang tiếp tục kiến nghị Thủ tướng Chính phủ xem xét, bổ sung một số huyện khác trên địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhưng chưa được hỗ trợ theo Nghị quyết 30a vào danh sách các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a. Theo tổng hợp của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, hiện cả nước còn khoảng 16 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao và có điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội gần với các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a.



Thực trạng xã nghèo vùng dân tộc và miền núi:

Theo kết quả phân loại các xã, thôn, bản dựa trên trình độ phát triển, cả nước hiện có 2.068 xã; 18.280 thôn, bản có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhất (chiếm 18,5% số xã, phường, thị trấn toàn quốc).

Tỷ lệ nghèo và cận nghèo khá cao (trên 45%), nhiều xã có tỷ lệ hộ nghèo trên 70%. Chênh lệch giàu nghèo chưa được thu hẹp, năm 2013 tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo của khu vực miền núi Tây Bắc là 38,78%, miền núi Đông Bắc là 24,54%, Bắc Trung Bộ là 24,28%, các địa bàn này có tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo cao hơn khoảng 2 đến 3 lần so với mức trung bình 14,12% của cả nước.

Hệ thống cơ sở hạ tầng cả ở xã và thôn bản đều yếu kém; các trục đường giao thông xã, thôn bản hầu hết chưa được cứng hóa, thậm chí có xã chưa có đường ô tô đến trung tâm xã; hệ thống điện lưới quốc gia chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất và sinh hoạt; trạm y tế, trường tiểu học, lớp mẫu giáo không đạt chuẩn. Nhiều thôn, bản có trên 50% số hộ không có nhà tiêu hợp vệ sinh, trên 30% số hộ thiếu nước sinh hoạt, trên 30% số hộ chưa có điện, chưa có nhà sinh hoạt cộng đồng phục vụ các hoạt động chung của thôn, bản.

Điều kiện về phát triển sản xuất, tạo việc làm hết sức khó khăn, thiếu đất sản xuất; hệ thống thủy lợi không đáp ứng nhu cầu tưới tiêu, không có cán bộ khuyến nông, khuyến lâm thôn bản; số người làm các nghề phi nông nghiệp, buôn bán nhỏ chỉ chiếm dưới 10%; đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã đạt chuẩn rất thấp (chưa đến 50% số cán bộ, công chức xã), thậm chí có cán bộ chủ chốt xã chưa đọc thông, viết thạo.

Trước thực trạng trên, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 2405/QĐ-TTg ngày 10/12/2013 phê duyệt danh sách 2.331 xã và 3.509 thôn, bản đặc biệt khó khăn được đầu tư, hỗ trợ theo các cơ chế, chính sách của Chương trình 135 theo Quyết định 551/QĐ-TTg ngày 4/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ. Sau 02 năm thực hiện Chương trình (2014-2015), ước tỷ lệ hộ nghèo bình quân trên địa bàn các xã nghèo giảm khoảng 3-4%/năm; 82% số thôn đã có đường cho xe cơ giới, trong đó có 30% số xã và 40% thôn có đường giao thông đạt chuẩn so với mục tiêu là 85% số thôn có đường cho xe cơ giới, trong đó có 35% số xã và 50% thôn có đường giao thông đạt chuẩn; khoảng 20% so với mục tiêu là 50% trạm y tế xã được chuẩn hóa.



Thực trạng xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo:

Trong giai đoạn 2011-2015, dự án đã góp phần đáng kể đến thay đổi đời sống vật chất và tinh thần của 311 xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, tỷ lệ nghèo giảm đáng kể. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo còn cao so với các địa phương khác trong cả nước, điều kiện cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất và dân sinh còn hạn chế, khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản còn thấp, vì vậy trong Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19 tháng 5 năm 2011 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020 đã xác định: Xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo là đối tượng ưu tiên được đầu tư; Ưu tiên đầu tư trước để đạt chuẩn các công trình hạ tầng cơ sở theo tiêu chí nông thôn mới ở các xã đặc biệt khó khăn bãi ngang ven biển và hải đảo.

Các xã vùng bãi ngang ven biển và hải đảo nhìn chung không có điều kiện để phát triển sản xuất, điều kiện canh tác nông nghiệp hạn chế, nguồn lợi hải sản cạn kiệt trong khi chỉ có thể đánh bắt gần bờ, giải quyết công ăn việc làm tại chỗ hết sức khó khăn, cơ sở hạ tầng thấp kém hơn nhiều so với các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc miền núi do những năm qua chưa được quan tâm đầu tư đúng mức. Với mức hỗ trợ đầu tư như hiện nay 01 tỷ đồng/xã/năm chưa thật sự làm chuyển biến rõ nét về bộ mặt hạ tầng cơ sở, mặc khác các công trình phục vụ sản xuất như bờ bao chống triều cường, kè biển nhu cầu đầu tư lớn nhưng vốn bố trí hàng năm từ dự án lại quá thấp dẫn đến không thể đầu tư hoặc đầu tư kéo dài qua nhiều năm.

Để tiếp tục đẩy mạnh công tác giảm nghèo tại các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo, khắc phục những tồn tại, hạn chế thời gian qua, giai đoạn 2016-2020 mục tiêu thiết kế chương trình nhằm hỗ trợ xã đặc biệt khó khăn bãi ngang ven biển và hải đảo về cơ sở hạ tầng thiết yếu, hỗ trợ sản xuất để thực hiện mục tiêu giảm nghèo đồng thời mở rộng danh mục đầu tư nhằm đáp ứng nhu cầu cấp thiết của người dân trong vùng dự án.



4.3. Thực trạng về thông tin cơ sở

Về cơ sở hạ tầng thông tin: Cơ sở vật chất của hệ thống thông tin cơ sở chưa đồng bộ, nhất là ở cấp huyện, cấp xã, đặc biệt là khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo bị xuống cấp, trang thiết bị lạc hậu, có nơi không thể hoạt động được nhưng chưa được đầu tư, nâng cấp kịp thời. Ở khu vực đô thị, trong điều kiện các phương tiện thông tin đại chúng phát triển nhanh đã có những ảnh hưởng hạn chế vai trò của hệ thống thông tin cơ sở. Nguồn lực cho hoạt động thông tin cơ sở còn rất hạn chế, tùy thuộc vào khả năng và sự quan tâm của từng Bộ, ngành, địa phương, cơ sở.

Về tổ chức cán bộ: Đội ngũ cán bộ làm công tác thông tin cơ sở từ trung ương đến cơ sở còn yếu và thiếu cả về chuyên môn nghiệp vụ, lẫn năng lực quản lý. Chế độ chính sách cho đội ngũ làm công tác thông tin cơ sở cấp huyện, cấp xã chưa được quan tâm đúng mức.

Về nội dung, thông tin: Các nội dung thông tin về cơ sở còn sơ sài, nghèo nàn. Có nơi còn dưới tầm trình độ của người dân trên địa bàn. Chưa có quy định chặt chẽ, hợp lý về hệ thống nội dung chương trình, thời điểm, thời lượng, âm lượng truyền thanh phù hợp. Nhiều nơi chỉ chú trọng hoạt động ở những trọng điểm, kỳ, cuộc mà chưa thường xuyên, đều đặn, chưa thể hiện vai trò chủ động thông tin trên mặt trận thông tin cơ sở.

Phương thức thông tin tuyên truyền không được thường xuyên đổi mới, chưa mạnh dạn áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ hiện đại phù hợp với trình độ dân trí phát triển và tập quán tiếp nhận thông tin ngày càng phong phú của quần chúng nhân dân.

Vẫn còn có khoảng cách lớn về hưởng thụ thông tin giữa các vùng miền; đặc biệt là ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Các dịch vụ thông tin đến với người dân còn rất nhiều khó khăn. Do khó khăn về ngân sách, nên nhiều địa phương chưa có điều kiện đầu tư đúng mức cho lĩnh vực này. Nhà nước cũng chưa có nhiều dự án trọng điểm, tập trung đầu tư cho lĩnh vực thông tin và truyền thông cơ sở.

Trong những năm qua Đảng, Nhà nước đã dành sự quan tâm rất lớn cho xóa đói, giảm nghèo và an sinh xã hội, do đó kinh tế khu vực miền núi đã có những bước phát triển tích cực, đời sống vật chất ngày càng được cải thiện. Vì vậy công cuộc xóa đói giảm nghèo đã đạt được những thành công quan trọng.

Sau 4 năm thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia đưa thông tin về cơ sở miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo (CTMTQG), năng lực cơ sở vật chất kỹ thuật hệ thống thông tin truyền thông quốc gia đến tận cơ sở cho các vùng khó khăn, vùng sâu, vùng xa đã được nâng lên một bước. Tuy nhiên, do ngân sách được bố trí mới chỉ đạt 33, 93% so mới mức kinh phí được phê duyệt nên kết quả vẫn còn hạn chế so với mục tiêu đặt ra. Theo mục tiêu cụ thể của Chương trình MTQG, vẫn còn 855 xã chưa được đầu tư xây dựng mới hoặc nâng cấp thiết bị cho đài truyền thanh xã; 278 đài truyền thanh – truyền hình cấp huyện, trạm phát lại phát thanh, truyền hình chưa được nâng cấp thiết bị; nhiều trung tâm thôn bản vẫn trắng hoàn toàn thiết bị nghe, xem….

Vì vậy, nhu cầu về thông tin và đời sống tinh thần của nhân dân ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, thiếu thốn, rất cần có chính sách để đảm bảo sự phát triển cân đối giữa lĩnh vực nâng cao đời sống vật chất với nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân. Vì vậy, để tiếp tục phát huy vai trò của hoạt động thông tin và truyền thông cơ sở phục vụ sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, nhà nước cần tiếp tục có chính sách và tập trung nguồn lực để đưa thông tin về cơ sở, nhằm mục đích giảm nghèo về thông tin, lồng ghép vào Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020.



II. Mục tiêu, chỉ tiêu của Chương trình:

1. Mục tiêu tổng quát: Thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, hạn chế tái nghèo; góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội, cải thiện đời sống, tăng thu nhập của người dân đặc biệt là ở các địa bàn nghèo, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo tại các địa bàn nghèo tiếp cận một cách tốt nhất đến các dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, tiếp cận thông tin), góp phần giảm số hộ nghèo bình quân cả nước từ 1-1,5%/năm theo chuẩn nghèo giai đoạn 2016-2020, trong đó số hộ nghèo trên địa bàn các huyện, xã nghèo giảm bình quân trên 4%/năm.

2. Mục tiêu cụ thể:

- Thực hiện thắng lợi mục tiêu giảm nghèo theo Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ đề ra: giảm tỷ lệ hộ nghèo cả nước bình quân 1-1,5%/năm (riêng các huyện, xã nghèo giảm 4%/năm) theo chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2016-2020;

- Cải thiện sinh kế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người nghèo, bảo đảm thu nhập bình quân đầu người của hộ nghèo cả nước tăng lên 2 lần so với cuối năm 2015 (riêng các hộ nghèo ở các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi tăng gấp 1,5 lần);

- Thực hiện đồng bộ, có hiệu quả cơ chế, chính sách giảm nghèo để cải thiện điều kiện sống của người nghèo và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản như chính sách phát triển sản xuất, đất sản xuất; chính sách tín dụng ưu đãi; chăm sóc sức khỏe và bảo hiểm y tế; giáo dục và đào tạo; nhà ở; nước sạch và vệ sinh, tiếp cận thông tin; giảm nghèo gắn với an ninh quốc phòng…;

- Giải quyết một cách cơ bản về cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở các huyện, nghèo, xã nghèo, thôn, bản đặc biệt khó khăn theo tiêu chí nông thôn mới, trước hết là hạ tầng thiết yếu như giao thông, điện, nước sinh hoạt.

3. Các chỉ tiêu cần đạt được đến năm 2020

a. Phấn đấu 10% số huyện nghèo thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP; 30% số xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn theo tiêu chí; 30% số xã, thôn bản đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn theo tiêu chí.

b. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển sản xuất và dân sinh phù hợp quy hoạch dân cư và quy hoạch sản xuất, đảm bảo phục vụ có hiệu quả đời sống và phát triển sản xuất của người dân. Đảm bảo:

+ Từ 80% - 90% xã có đường ô tô đến trung tâm xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa theo tiêu chuẩn và theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải.

+ Từ 70% - 80% thôn, bản có đường trục giao thông được cứng hoá theo tiêu chuẩn và theo cấp kỹ thuật của Bộ Giao thông vận tải.

+ 100% trung tâm xã có điện; từ 85% - 95% các thôn bản có điện phục vụ sinh hoạt và phát triển sản xuất.

+ Từ 60% - 70% xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế, từ 85% - 90% trạm y tế cấp xã có đủ điều kiện khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế.

+ Các công trình thủy lợi nhỏ được đầu tư đáp ứng 70% - 80% nhu cầu tưới tiêu cho diện tích cây hàng năm có nhu cầu tưới và dân sinh.

c. Thu nhập của hộ nghèo tham gia mô hình tăng 15-20%/năm; bình quân mỗi năm có 10% hộ tham gia mô hình thoát nghèo; những hộ cận nghèo, mới thoát nghèo ổn định đời sống, phát triển kinh tế; xây dựng ít nhất 900 mô hình giảm nghèo bền vững.

d. Hỗ trợ cho 20.000 lao động thuộc đối tượng hỗ trợ được đào tạo (trong đó 70% tương đương khoảng 14.000 lao động đi làm việc ở nước ngoài).

đ. 100% cán bộ, công chức xã, trưởng thôn, bản và cán bộ đoàn thể được tập huấn một số kiến thức cơ bản về kỹ năng quản lý và tổ chức thực hiện các chương trình, chính sách, dự án; lập kế hoạch có sự tham gia; và xây dựng kế hoạch phát triển cộng đồng…

e. 100% số xã thuộc phạm vi dự án có cán bộ làm công tác thông tin và truyền thông được đào tạo nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ thông tin tuyên truyền cổ động; 50% các xã có điểm thông tin, tuyên truyền cổ động ngoài trời; Có 100 huyện và khoảng 600 xã được trang bị bộ phương tiện tác nghiệp tuyên truyền cổ động; Thiết lập từ 5 - 12 cụm thông tin đối ngoại tại các khu vực cửa khẩu, biên giới

g. 90% các hộ dân thuộc địa bàn thực hiện Dự án được tiếp cận, cung cấp đầy đủ thông tin về chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; kinh nghiệm sản xuất; tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước thông qua các chương trình phát thanh truyền hình; sách, ấn phẩm truyền thông được Dự án hỗ trợ; Hỗ trợ từ 4.000 - 6.000 hộ nghèo trên các đảo xa bờ, hộ gia đình thuộc dân tộc rất ít người, tại vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn có thiết bị nghe - xem để nghe, xem trực tiếp sóng phát thanh truyền hình của Trung ương và địa phương;

h. 100% các đội thông tin cổ động đã được Dự án hỗ trợ thiết bị có nội dung chương trình để thực hiện tuyên truyền, cổ động;

i. Góp phần tăng tỷ lệ tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người nghèo như y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, tiếp cận thông tin.

II. Phạm vi, quy mô, đối tượng của Chương trình

1. Phạm vi, quy mô thực hiện

Chương trình được thực hiện trên phạm vi cả nước, khuyến khích các địa phương vận dụng các chính sách giảm nghèo đặc thù áp dụng cho đối tượng nghèo trên địa bàn bằng nguồn lực của địa phương; ưu tiên nguồn lực của Chương trình đầu tư cho người/hộ nghèo, người/hộ cận nghèo, người/hộ mới thoát nghèo, người/hộ dân tộc thiểu số trên địa bàn trọng điểm sau:

- Huyện nghèo:

+ 64 huyện nghèo theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo.

+ 07 huyện nghèo theo Quyết định số 615/QĐ-TTg ngày 25 tháng 4 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách trung ương cho 07 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao được áp dụng cơ chế, chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng theo quy định của Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo.

+ 23 huyện nghèo theo Quyết định số 293/QĐ-TTg ngày 05 tháng 02 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ có mục tiêu từ ngân sách trung ương cho 23 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao được áp dụng cơ chế, chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng theo quy định của Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo.

+ Các huyện khác theo Quyết định phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ.

- Xã nghèo, bao gồm:

+ Xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo;

. 300 xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo theo Quyết định 539/QĐ-TTg ngày 01/4/2013 (không bao gồm xã An Lạc Thôn, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng do đã được Chính phủ phê duyệt thành thị trấn theo Nghị quyết số 87/NQ-CP ngày 19/7/2013; 10 xã đạt chuẩn nông thôn mới dự kiến đưa ra khỏi dánh sách các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo)5.

. 10 xã khác dự kiến đưa vào danh sách các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển và hải đảo theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cho giai đoạn 2016-2020.

+ Xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi;

+ Xã biên giới, xã an toàn khu.

Quy mô xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi và xã biên giới, xã an toàn khu: 2.331 xã, trong đó đầu tư bằng ngân sách trung ương: 2.295 xã; đầu tư bằng ngân sách địa phương: 36 xã.

- Thôn, bản đặc biệt khó khăn: 2.932 thôn, trong đó đầu tư bằng ngân sách trung ương: 2.871 thôn; đầu tư bằng ngân sách địa phương: 61 thôn.


: lib -> ckfinder -> files
files -> THỐng kê CÁC ĐƠn vị do sở khoa học và CÔng nghệ CÁc tỉNH, thành phố kiểm tra năM 2014
files -> THỐng kê CÁC ĐƠn vị do sở khoa học và CÔng nghệ CÁc tỉNH, thành phố thanh tra năM 2014
files -> THỦ TƯỚng chính phủ Số: 1489
files -> Ủy ban nhân dân tỉnh bắc giang
files -> VĂn phòng cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc
files -> THỦ TƯỚng chính phủ Số: 08/2011
files -> THỦ TƯỚng chính phủ Số: 705
files -> Hướng dẫn lập hồ sơ đề nghị cấp giấy phép xử lý, lưu giữ chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng tại kho lưu giữ chất thải phóng xạ quốc gia hoặc cơ sở làm dịch vụ xử lý, lưu giữ chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng
files -> Hình Mô hình hệ sinh thái xã hội lấy con người là trung tâm 31 Hình Vùng trong bậc thang không gian lãnh thổ 40 Bảng Thiệt hại nông nghiệp trong giai đoạn 2010-2014 58 Hình 2


  1   2   3


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương