BỘ giáo dục và ĐÀo tạO ĐẠi học huế trưỜng đẠi học khoa học phạm thị hà



tải về 2.93 Mb.
trang7/24
Chuyển đổi dữ liệu06.06.2018
Kích2.93 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   24
The whole long day was a blaze of sunshine... [4]

Trong câu: The whole long day was a blaze of sunshine, thông qua quá trình quan hệ “was”, và cũng là yếu tố phân định ranh giới giữa Đề và Thuyết, các tham thể ĐNT/GT và BĐNT/BH có sự hoán đổi vị trí cho nhau. Quá trình hoán đổi vị trí của các tham thể cũng chính là quá trình đảo các vai nghĩa. Sự đảo các vai nghĩa nhằm mục đích tạo hiệu ứng đối với người đọc/nghe. Ở đây, ĐNT (The whole long day) có sự đồng nhất với BĐNT (a blaze of sunshine). Tuy nhiên, tác giả muốn nhấn mạnh ĐNT (The whole long day) với thái độ khẳng định nên đã đặt nó ở vị trí đầu câu làm thành Đề đánh dấu. Phần còn lại - Thuyết ((a blaze of sunshine) nhằm thuyết giải thông tin cho phần Đề



b. Đảo tham tố ĐNT/ GT trong quá trình quan hệ: Chu cảnh (Circumstantial)

Quá trình quan hệ chu cảnh liên quan đến chuyển tác quan hệ “ở nơi nào đó”. Mối quan hệ của chúng là quan hệ giữa một thực thể với chu cảnh hay môi trường của nó như thời gian, không gian, phong cách, đồng chu cảnh...BH và GT là những thành phần chỉ thời gian, địa điểm và quá trình được hiện thực hóa bằng các động từ chỉ quan hệ sâu. Là cú đồng nhất nên các tham thể trong các cú này có thể đảo ngược được.

Ví dụ {2: 16}... We walked on along the street until it came out onto a wider street that was beside a canal. On the other side was a brick wall and buildings... [1]

Ví dụ trên cho thấy GT (On the other side) và BH (a brick wall and buildings) hoán đổi vị trí cho nhau. Tuy nhiên, vì muốn nhấn mạnh tham tố liên quan đến địa điểm (On the other side) mà tác giả đã đảo chúng lên vị trí đầu câu với một thái độ khẳng định, xác định chúng làm phần Đề cho văn bản.

Ngoài ra, Đề đánh dấu cũng có khi được khẳng định bằng một từ mang trạng tính chỉ nơi chốn như: here.

Ví dụ {2: 17}... Scarlett sat down on the column, too sick at the sight to go on. This desolation went to her heart as nothing she had ever experienced. Here was the Wilkes pride in the dust at her feet... [6]

Xét câu: Here was the Wilkes pride in the dust at her feet. Đề đánh dấu chính là từ mang đặc điểm trạng tính (here). Phần còn lại là Thuyết được đánh dấu từ quá trình quan hệ (was).

c. Đảo tham tố thuộc tính thường trực và kết quả trong quá trình quan hệ

Đề đánh dấu là chỉ định từ (determiner) such “đến như thế, đến mức độ” hay trạng từ chỉ cấp độ (adverb of degree) như so (quá...đến nỗi) cũng là Đề cấu trúc nằm trong cái kết cấu đứng trước Đề hữu hạn ở đầu câu làm cho câu có cấu trúc đảo.

Ví dụ {2: 18}... His eyes turned blood shot, and he was metamorphosed into a raging fiend. So changed was he that the Judge himself would not have recognized him; and the express messengers breathed with relief when they bundled him off the train at Seattle... [4]

Ví dụ {2: 19}... There is an ecstasy that marks the submit of life, and beyond which life cannot rise. And such is the paradox of living, this ecstacy comes when one is most alive, and it comes as a complete forgetfulness that one is alive.

Tương ứng với khung tham chiếu thể hiện một hình thức khác của phép đảo bán phần (trợ động từ). Theo đó, đề cấu trúc được bắt đầu với từ chỉ định so và such như So changed và such, kế tiếp là đề hữu hạn được mã hóa bởi động từ was và cuối cùng là phần thuyết ngữ: he that the Judge himself would not have recognized him và the paradox of living, this ecstacy comes when one is most alive, and it comes as a complete forgetfulness that one is alive. Trong tiếng Anh, các cặp liên từ “so ... that” và “such ... that” thường được dùng để liên kết hai vế trong câu văn. Đứng vị trí đầu câu và làm chức năng của đề cấu trúc chính là cụm từ bắt đầu với so nhằm nhấn mạnh một thuộc tính hay một trạng thái nào đó cho cụm từ hay tiểu cú được giới thiệu trong vế thứ hai. Mối quan hệ thông tin giữa hai về là mối quan hệ nhân quả và tạo hiệu ứng nhấn mạnh.

Từ nhấn mạnh “so” còn được làm Đề đánh dấu trong văn bản mà không đi kèm thuộc tính của Đương thể.

Ví dụ {2: 20}... “I’m always hungry.” “So am I.” We went out in the snow but it was drifted so that we could not walk far... [1]

Xét câu: “So am I”, Đề đánh dấu chính là từ nhấn mạnh “so” nhằm khẳng định sự nhấn mạnh và thay thế thông tin mới đã nêu trước đó “I’m always hungry”. Loại hình đảo ngữ này cũng xuất hiện khá phố biến trong tiếng Anh.

Đối với thuộc tính liên quan đến thường trực, người ta có thể dùng hình thức so sánh hơn hoặc so sánh nhất. Nói cách khác, khi muốn nhấn mạnh một thông tin nào đó người ta có thể đặt yếu tố chứa thông tin đó lên đầu câu và đối lập nó với các thông tin còn lại bằng hình thức so sánh.

Ví dụ {2: 21}... These are the indicators of crisis, subject to data and statistics. Less measurable but no less profound is a sapping of confidence across our land - a nagging fear that America's decline is inevitable, and that the next generation must lower its sights... [8]



Trong tiếng Anh, quá trình đảo ngữ còn xảy ra khi thuộc tính của Đương thể làm Đề đánh dấu được biểu hiện bằng một tính ngữ hay một cụm tính ngữ.

Ví dụ {2: 22} ...Till the day she died there would be blank spots in her memories of those days. Especially vague were her recollections of the time between her acceptance of Charles and her wedding. Two weeks! ... [6]

Ví dụ {2: 23}... One bright summer morning some weeks later, he reappeared with a brightly trimmed hatbox in his hand and, after finding that Scarlett was alone in the house, he opened it. Wrapped in layers of tissue was a bonnet, a creation that made her cry: “Oh, the darling thing!” as she reached for it... [6]

Từ những ví dụ trên, có thể thấy rằng ở đầu câu, vai Thuộc tính của Đương thể thực hiện nhiều chức năng khác nhau. Có khi Thuộc tính thực hiện chức năng là “chỗ nối” (cohesive link), đặc biệt là khi Thuộc tính có chứa “yếu tố mang tính so sánh” với “ngôn cảnh phía trước” như thành phần Chu cảnh: Less measurable but no less profound trong ví dụ {2: 21} còn Đương thể “chở thông tin quan trọng nên xuất hiện ở cuối câu” (Eastwood, 1994: 56). Trong các ví dụ số {2: 22} và {2: 23}, các thành phần ngữ phân từ Wrapped in layers of tissue với tư cách là một phần của vị từ đã chuyển sang làm khung đề trong câu. Ý nghĩa bị động và ý nghĩa chủ động đã bị triệt tiêu và thay vào đó là ý nghĩa định tính được thể hiện bằng hệ từ “be”. Biber (1999) cho rằng việc chuyển ra phía trước có chức năng diễn ngôn chính là: tổ chức dòng thông tin để tạo sự liên kết, biểu đạt ý nghĩa tương phản và cho phép nhấn mạnh thành tố nào đó.

2.1.2. Phủ định sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố trong các quá trình

Các sơ đồ tương ứng:



CTĐT

Đề đánh dấu

Thuyết

CTT

Thức phủ định

TrN (phủ định)

(cụm)trạng từ



Động từ tình thái + CN + CV + (TrN)

(cụm)danh/đại từ + (cụm) động từ + (cụm)trạng/ giới từ



CTCT

CC (bắt buộc)

Từ tình thái + HT/ ƯT/ CT + QT:vc/ QT:hv/ QT:tt + (CC)


2.1.2.1. Phủ định sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua tham tố đảo trong quá trình vật chất

Trong sơ đồ này, tác giả muốn nhấn mạnh sự phủ định về thông tin liên quan đến chủ đề là Chu cảnh bắt buộc trong cấu trúc chuyển tác và cũng là phần Đề đánh dấu trong cấu trúc Đề thuyết khi mô tả quá trình vật chất của Hành thể.

Phần bị đảo ra đầu câu là: (1) trạng ngữ phụ nghĩa cho một vị từ (adverbial adjunct of a verb) có chứa phủ định từ hay trạng từ phủ định (negative determiner or adverb): never, nor, not, never, scarcely, only, rarely, hardly, seldom, little và no...; (2) bổ ngữ trực tiếp của một ngoại vị từ (direct object of a transitive verb). Vì không đứng tận cùng trong câu nên đại từ nhân xưng mới được chấp nhận làm chủ ngữ trong câu.

Ví dụ {2: 24} ... Of course, she had discovered that this was not altogether true but the pleasant fiction still stuck in her mind. Never before had she put this remarkable idea into words... [6]

Ví dụ {2: 25} ... On top of everything else, she was actually making money out of the mill, and no man could feel right about a wife who succeeded in so unwomanly an activity. Nor did she turn over the money or any part of it to him to use in the store...[4]

Ví dụ {2: 26} ... Some days they did not make ten miles. On other days they were unable to get started at all. And on no day did they succeed in making more than half the distance used by the men as a basis in their dog-food computation... [4]

Ví dụ {2: 27} ... “Oh, no, sir,” she laughed. “I don’t smoke, sir.” Neither do I,” said Harris... [3]

Trong những ví dụ trên, vì muốn nhấn mạnh sự phủ định mà tác giả đã đặt chính các yếu tố phủ định lên đầu câu. Nói cách khác, Đề đánh dấu chính là những yếu tố phủ định như: Never, Nor, và On no day đã được đặt ở vị trí đầu câu. Phần Thuyết được xác định từ các tác tử Hữu định: had, do và did. Đứng ngay sau những tác tử Hữu định này là vai Hành thể đóng chức năng làm chủ ngữ có liên quan đến các quá trình vật chất thể hiện qua các động từ: put, turn over, succeed. Chính vị trí xuất hiện của những tác tử Hữu định này là yếu tố xác nhận cấu trúc đảo ngữ. Bởi lẽ, tác tử Hữu định thường xuất hiện sau chủ ngữ và trật tự ngược lại đánh dấu cấu trúc đảo trong tiếng Anh. Đây cũng chính là mô hình đảo ngữ mà tiêu điểm thông báo là trạng ngữ phủ định – yếu tố được đặt ở vị trí đầu câu bởi vì chúng mang thông tin quan trọng nhất trong câu. Trong ví dụ {2: 27}, yếu tố phủ định neither được dùng để nhấn mạnh sự phủ định và thay thế cho “I don’t smoke, sir.”



2.1.2.2. Phủ định sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua tham tố đảo trong quá trình hành vi

Đối với quá trình này, thông tin được nhấn mạnh ở phần đề đánh dấu biểu hiện qua thái độ phủ định với sự xuất hiện của yếu tố phủ định ở vị trí đầu câu. Với vị trí này, yếu tố phủ định trở thành Đề ngữ có đánh dấu cho phát ngôn. Phần còn lại được xác định là Thuyết trong cấu trúc thể hiện quá trình hành vi.

Ví dụ {2: 28}... There is one thing about you, daughter, he thought. Not only can you outsleep anybody I’ve ever known and have the best appetite I’ve ever seen linked with a build like yours but you have an absolutely heaven-given ability to not have to go to the bathroom... [3]

Ví dụ {2: 29} ... He sat beside her, holding her hand until sleep loosened her grasp. Only then did he tiptoe downstairs, leaving the lamp burning brightly and the door ajar so he might hear her should she awake and become frightened. Never again did he intend her to have a recurrence of fear of the dark... [6]

Ví dụ {2: 30}...Ashley sat on Ellen’s little writing chair, his long body dwarfing the frail bit of furniture while Scarlett offered him a half-interest in the mill. Not once did his eyes meet hers and he spoke no word of interruption... [6]

Cũng giống như sự nhấn mạnh phủ định xảy ra trong các quá trình vật chất, những ví dụ trên cho thấy rằng thành phần bị đảo ra đầu câu chính là một trạng ngữ hay một ngữ đoạn trạng từ phủ định có tính chất phủ định bán phần mã hóa làm đề cấu trúc cho cú như: Not only, only then; và not once. Tiêu điểm thông báo của câu cũng chính là những trạng ngữ phủ định này bởi lẻ nó mang thông tin mà người nói đang muốn người nghe tập trung sự chú ý nhất. Ví trí tiếp theo là Đề hữu hạn (Đề dánh dấu Thức) được mã hóa bằng các tác tử hữu hạn của vị từ như: can và did đứng trước các chủ đề làm thành phần Thuyết cho cú thông qua các quá trình hành vi như: outsleep, tiptoe, và meet.



2.1.2.3. Phủ định sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua tham tố đảo trong quá trình tinh thần

a. Đảo tham tố thuộc tính chu tố trong quá trình tinh thần ( nhận thức/tình cảm/mong muốn)

Trong quá trình tinh thần chỉ sự nhận thức/tình cảm/mong muốn, Đề đánh dấu chính là yếu tố phủ đinh xuất hiện ở vị trí đầu câu và đây cũng là thành phần được nhấn mạnh mà tác giả truyền đạt đến người đọc/nghe trong hội thoại. Yếu tố phủ định thường được biểu hiện là thuộc tính chu cảnh trong cấu trúc chuyển tác của các quá trình tinh thần nhận thức/tình cảm/mong muốn.

Ví dụ{2: 31}... You are killing me, fish, the old man thought. But you have a right to. Never have I seen a greater, or more beautiful, or a calmer or more noble thing than you, brother. Come on and kill me... [2]

Ví dụ{2: 32}...With that kiss, everything she had intended to say in welcome took wings. Not until hours later did she recall that he had not kissed her on the lips...[6]

Trong ví dụ trên, để nhấn mạnh sự phủ định các quá trình tinh thần như: seen, recall, tác giả đã thể hiện bằng thái độ phủ định được diễn đạt bằng cụm từ: never và not until. Thành phần này xuất hiện đầu câu và làm Đề ngữ có đánh dấu trong cấu trúc Đề – Thuyết. Phần còn lại bao gồm: (1) tác tử hữu định: have và did. (2) Phần Thuyết thuyết giải cho Đề chứa tham tố Cảm thể, quá trình tinh thần và chu cảnh được xác định từ: I seen a greater, or more beautiful, or a calmer or more noble thing than you, brother và she recall that he had not kissed her on the lips... .



b. Đảo tham tố Hiện tượng trong quá trình tinh thần: nhận thức.

Các sơ đồ tương ứng:



CTĐT

Đề đánh dấu

Thuyết

CTT

Thức phủ định

TN

(cụm) danh/đại từ/cú



CN + TrN + VN

(cụm) danh/đại từ + trạng từ + (cụm) động từ



CTCT

HTg

CT + (yếu tố phủ định) + QT:tt: nhận thức

Sự nhấn mạnh tham tố Hiện tượng trong quá trình tinh thần nhận thức của Cảm thể với thái độ phủ định được thể hiện với việc thêm yếu tố phủ định vào ngay trước quá trình tinh thần nhận thức. Tham tố Hiện tượng vẫn xuất hiện ở vị trí đầu câu nên nó tiếp tục làm thành Đề đánh dấu trong cấu trúc Đề - Thuyết.

Ví dụ {2: 33}... She turned and there stood India, white faced, her pale eyes blazing, and Archie, malevolent as a one-eyed parrot. Behind them stood Mrs. Elsing. How she got out of the office she never remembered... [6]

Xét câu: How she got out of the office she never remembered. Trong hoàn cảnh nhân vật (she) – Cảm thể muốn giải thích về việc không nhớ nổi vì sao cô ấy có thể bước ra khỏi văn phòng (How she got out of the office) – tham tố Hiện tượng, cô đã thể hiện quá trình tinh thần nhận thức của mình với thái độ phủ định (never remembered) nhưng thông tin mà cô muốn truyền đạt và nhấn mạnh là điều boăn khoăn (How she got out of the office)) nên nó (Hiện tượng) được đề cập trước trở thành Đề đánh dấu trong cấu trúc.

2.1.2.4. Phủ định sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua tham tố đảo trong quá trình quan hệ

Cũng giống như sự phủ định về nội dung thông tin được nhấn mạnh ở phần đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố được đảo trong Quá trình vật chất và quá trình tinh thần, sự phủ định về nội dung thông tin được nhấn mạnh ở phần đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố được đảo trong Quá trình quan hệ được thể hiện bằng sự xuất hiện của các yếu tố phủ định đóng chức năng đề đánh dấu trong cấu trúc đề – thuyết thông qua quá trình quan hệ được thể hiện bằng hệ từ “be”.

Ví dụ {2: 34}... Yes, as Rhett had prophesied, marriage could be a lot of fun. Not only was it fun but she was learning many things... [6]

Ví dụ {2: 35}... Afternoon naps were a custom of the country and never were they so necessary as on the all-day parties, beginning early in the morning and culminating in a ball... [6]

Ví dụ {2: 36}... Are you married, Tenente?” “No.” Neither is Bonello.”... [1]

Trong các ví dụ trên, để nhấn mạnh sự phủ định, tác giả đã đặt các yếu tố phủ định như: Not only, never và neither lên vị trí đầu câu và làm cho chúng trở thành Đề trong cấu trúc Đề – thuyết. Tuy nhiên, xét trong cấu trúc chuyển tác thì đây là sự nhấn mạnh phủ định đối với các quá trình quan hệ: was, were, và is. Các quá trình quan hệ này lại xuất hiện trước các tham tố Đương thể và các chu cảnh tạo thành phần Thuyết trong cấu trúc.

2.1.3. Nghi vấn sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố trong các quá trình

Cấu trúc thông thường của một câu là: chủ từ đứng trước động từ (S+V), nhưng có trường hợp ngược lại: động từ lại đứng trước chủ từ. Đó chính là hình thức đảo ngữ như câu hỏi và đây cũng chính là hình thức đảo ngữ phổ biến nhất trong tiếng Anh. Khi nhìn vào ngữ pháp của ngôn ngữ tiếng Anh, chúng ta thấy hình thức đảo ngữ thông thường nhất là sự thay đổi trật tự các chủ ngữ và động từ trong một câu.

Câu hỏi thường được hình thành bằng cách đặt một từ nghi vấn (Wh – questions như what, where, when, how, which, who,...) tiếp theo là một tác tử động từ. Một điều cần lưu ý là đối với các cú nghi vấn có WH-. Thành phần WH- là thành phần khu biệt trong cấu trúc liên nhân của câu. Chức năng của nó là cụ thể hóa thực thể mà người hỏi muốn được cung cấp. Thành phần WH- thường trùng khớp với một trong ba chức năng Chủ ngữ, Bổ ngữ hay Phụ ngữ. Nếu nó trùng khớp với Chủ ngữ, thì nó là một phần của thành phần Thức, và do đó trật tự trong thành phần Thức phải là Chủ ngữ – Hữu định. Điều này không thể hiện hình thức đảo ngữ trong tiếng Anh.

Các sơ đồ tương ứng:


CTĐT

Đề đánh dấu

Thuyết

CTT

Thức nghi vấn

BN

(cụm từ nghi vấn)

(cụm)trạng/giới từ


tác tử động từ + (CN) + VN + (TN)

tác tử động từ + (cụm) danh/đại từ + (cụm) động từ + (cụm) danh/đại từ



CTCT

TTCC

tác tử động từ + HT/CT/ƯT/ĐgT + QT:vc/QT:tt/QT:hv/QT:qh + ĐT/HTg/TT/ThT


2.1.3.1. Nghi vấn sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố trong quá trình vật chất

Khi muốn xác nhận một thông tin nào đó, người ta có thể dùng thái độ nghi vấn để diễn đạt điều muốn xác nhận. Thông tin mà tác giả muốn xác nhận thường được thể hiện bằng một thuộc tính chu cảnh trong cấu trúc chuyển tác và được xem như là thành phần Bổ ngữ trong cấu trúc cú pháp.Yếu tố chu cảnh này được đặt ở vị trí đầu câu và trở thành đề đánh dấu trong cấu trúc Đề – Thuyết.

Ví dụ {2: 37}... How could he deliberately break her heart? Then, suddenly, an idea, shining and new, flashed like a comet through her brain... [6]

Xét câu: - How could he deliberately break her heart?. Vì thái độ nghi vấn đối với việc đánh thức trái tim của cô gái mà chàng trai đã thể hiện và đề cập ngay thông qua từ nghi vấn (how) và làm cho nó trở thành phần Đề đánh dấu. Phần còn lại (could he deliberately break her heart) là Thuyết ngữ được hiện thể hiện qua cấu trúc chuyển tác của QT: vc (break).



2.1.3.2. Nghi vấn sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố trong quá trình hành vi

Cũng giống như sự nghi vấn xảy ra trong quá trình vật chất, khi muốn bày tỏ sự nghi vấn xảy ra trong quá trình hành vi chúng ta đưa các từ thể hiện sự nghi vấn lên đầu câu. Khi quá trình này được thực hiện, tham tố Ứng thể đóng vai chủ ngữ sẽ xuất hiện sau tác tử động từ. Như vậy, chủ ngữ không trùng khớp với chủ đề và quá trình đảo ngữ sẽ xảy ra.

Ví dụ {2: 38}... - what dress should she wear to the barbecue? ... [6]

Ví dụ {2: 39}... Where did you tell him to go?” “To the station...”... [1]

Trong các ví dụ trên cho thấy, để bày tỏ sự nghi ngờ đối với những thông tin liên quan như: what dress (chiếc váy gì); where (địa điểm) mà các Ứng thể (she; you) thực hiện các quá trình hành vi (wear; tell, tác giả đã sử dụng các thuộc tính chu cảnh thường dùng để hỏi (what dress; where). Các thuộc tính này được đưa lên vị trí đầu câu làm thành Đề đánh dấu trong cấu trúc Đề – thuyết với thái độ nghi vấn.




1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   24


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương