BỘ giáo dục và ĐÀo tạO ĐẠi học huế trưỜng đẠi học khoa học phạm thị hà


Kiểu 5: Nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo có yếu tố chêm xen phụ trợ (cấu trúc câu)



tải về 2.93 Mb.
trang10/24
Chuyển đổi dữ liệu06.06.2018
Kích2.93 Mb.
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   ...   24
2.5. Kiểu 5: Nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo có yếu tố chêm xen phụ trợ (cấu trúc câu)

Số lượng: 35/500 (Tỷ lệ: 7 %)

CTĐT

Đề đánh dấu

Thuyết

CTT

Thức khẳng định/ Phủ định

It + VN + TN

CN (giả) + (cụm) động từ + (cụm) danh/ động/ tính/ giới từ



That + CN + VN + BN

that + (cụm) danh/đại từ + (cụm) động từ + (cụm) trạng từ



CTCT

Yếu tố chêm xen + QT:qh + tham tố

That + Tham tố + QT + CC

Trong sơ đồ này, yếu tố phụ trợ (it) xuất hiện đầu câu kết hợp với một tham tố đảo thông qua quá trình quan hệ (be) tạo thành phần một cụm chủ - vị có chủ ngữ giả (it) đóng chức năng làm Đề đánh dấu. Phần Thuyết là một cấu trúc câu được dẫn nhập bằng chu tố (that) nhằm thuyết giải cho Đề. Đối với sơ đồ này, chúng tôi tiến hành khảo sát nguồn ngữ liệu trên hai Thức (Thức khẳng định và Thức Phủ định). Kết quả khảo sát cho thấy đây là sơ đồ chiếm tỷ lệ rất khiêm tốn (7 %) trong tổng số câu đảo ngữ được khảo sát.

2.5.1. Khẳng định sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo có yếu tố chêm xen phụ trợ



2.5.1.1. Khẳng định sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua tham tố đảo có yếu tố chêm xen phụ trợ trong quá trình vật chất

Trong tiếng Anh, việc nhấn mạnh nội dung thông tin ở chủ đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo có yếu tố chêm xen phụ trợ còn được biểu hiện qua cấu trúc câu. Nói cách khác, yếu tố bị đảo ra phía trước chính là một trong những thành phần của cấu trúc câu xuất hiện sau đại từ “that” vì mục đích nhấn mạnh.

Ví dụ {2: 69}... It was the cherished belief of each that he did more than his share of the work, and neither forbore to speak this belief at every opportunity. The result was a beautiful and unending family quarel...[4]



Xét câu: It was the cherished belief of each that he did more than his share of the work, and neither forbore to speak this belief at every opportunity trong ví dụ trên, thành phần bị đảo ra phía trước chính là the cherished belief of each, đây một cũng là một thành phần câu trong cấu trúc câu còn lại: he did more than his share of the work, and neither forbore to speak this belief at every opportunity. Tuy nhiên, vì mục đích nhấn mạnh mà tác giả đã đưa nó lên trước mệnh đề kết hợp với yếu tố chêm xen (it) và động từ thể hiện quá trình quan hệ (was) làm cho chúng trở thành đề đánh dấu với thái độ khẳng định. Phần còn lại được xác định là Thuyết, đánh dấu từ he did more than his share of the work, and neither forbore to speak this belief at every opportunity nhằm thuyết giải cho Đề và được nhận diện như là câu đảo ngữ khẳng định về nội dung thông tin được nhấn mạnh ở chủ đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo có yếu tố chêm xen phụ trợ trong quá trình vật chất (did).

2.5.1.2. Khẳng định sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua tham tố đảo có yếu tố chêm xen phụ trợ trong quá trình tinh thần

Kiểu đảo ngữ nhấn mạnh khẳng định liên quan đến tham tố Hiện tượng trong cấu trúc đảo về phía trước của quá trình tinh thần cũng được chúng tôi tìm thấy và chứng minh qua ví dụ sau:

Ví dụ {2: 70}... It was a token that he was harking back through his own life to the lives of his forebears; for he was a civilized dog, an unduly civilized dog, and his own experience knew no trap and so could not himself fear it... [4]

Xét câu: It was a token that he was harking back through his own life to the lives of his forebears. Đề ngữ đánh dấu được xác định là cấu trúc có yếu tố nhấn mạnh: It was a token. Ngay trong phần Đề này, tham tố a token được nhấn mạnh thông qua cụm chủ - vị có yếu tố chêm xen: it is. Phần Thuyết được xác định là: he was harking back through his own life to the lives of his forebears; với nhiều yếu tố xảy ra bao gồm quá trình tinh thần tri nhận (harking) và chu cảnh (back through his own life to the lives of his forebears). Đề có đánh dấu và Thuyết có quan hệ mật thiết với nhau bằng một thái độ khẳng định nhờ yếu tố that xuất hiện trong diễn ngôn.



2.5.1.3. Khẳng định sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua tham tố đảo có yếu tố chêm xen phụ trợ trong quá trình quan hệ

a. Quá trình Quan hệ: thuộc tính

Trong quá trình quan hệ thuộc tính, khi muốn nhấn mạnh tham tố (Thuộc tính) trong quá trình, người ta có thể đảo vị trí hai tham tố đó thông qua yếu tố chêm xen nhấn mạnh: It is như trong ví dụ sau:

Ví dụ {2: 71}... What a young miss could do and what she could not do were as different as black and white in Mammy’s mind; there was no middle ground of deportment between. But it had always been a struggle to teach Scarlett that most of her natural impulses were unladylike... [6]

Xét cú: it had always been a struggle to teach Scarlett that most of her natural impulses were unladylike. Tham tố Đương thể được biểu hiện trong cụm chủ - vị (most of her natural impulses were unladylike) đảo vị trí cho tham tố Thuộc tính (a struggle to teach Scarlett). Như vậy, tham tố Thuộc tính đã xuất hiện trước Đương thể và được nhấn mạnh bởi yếu tố chêm xen (it is) làm cho câu mang tính chất “tiền đảo” và đóng vai trò làm Đề đánh dấu trong cấu trúc. Phần Thuyết được xác định là cụm chủ - vị mang thông tin đến sau trong diễn ngôn là: most of her natural impulses were unladylike.



b. Quá trình quan hệ: đồng nhất

Trong quá trình quan hệ đồng nhất, tham tố Biểu hiện và Giá trị cũng được hoán đổi vị trí cho nhau để làm cho câu mang tính chất đảo. Tuy nhiên, khi tham tố Giá trị được đảo lên phía trước cùng với sự xuất hiện của yếu tố chêm xen (it) thì câu được khẳng định là mang tính tiền đảo. Song hành với cụm yếu tố chêm xen (it is) là tham tố Giá trị chứa thông tin được nhấn mạnh làm cho chúng tạo thành Đề đánh dấu trong cấu trúc. Phần Thuyết sẽ chứa tham tố Biểu hiện xuất hiện sau trong diễn ngôn.

Ví dụ {2: 72}... And, my dear, I would not have alarmed you by saying these things, were it not that I had to explain why I ask you to look after Melanie It will be a comfort to me to know that you are together if anything happens to me... [6]

Xét câu: It will be a comfort to me to know that you are together if anything happens to me trong ví dụ trên. Tham tố GT được biểu hiện bằng cụm chủ - vị (you are together if anything happens to me) được đồng nhất với tham tố BH (a comfort to me to know). Tham tố BH xuất hiện trước tham tố GT vì mục đích nhấn mạnh và tạo hiệu ứng cho người đọc/nghe, đồng thời đóng vai trò làm Đề ngữ có đánh dấu và làm cho câu mang tính chất “tiền đảo”. Tham tố BH đến sau Đề đânhs dấu và trở thành phần Thuyết trong cấu trúc.



c. Quá trình quan hệ: sở hữu

Quá trình tiền đảo cũng xảy ra với các tham tố là ĐNT/BĐNT trong quá trình quan hệ sở hữu với sự xuất hiện của yếu tố chêm xen nhấn mạnh it.

Ví dụ {2: 73}... Her weapons of scorn, coldness and abuse blunted in her hands, for nothing she could say would shame him. It had been her experience that the liar was the hottest to defend his veracity, the coward his courage, the ill-bred his gentlemanliness, and the cad his honor ... [6]

Xét câu: It had been her experience that the liar was the hottest to defend his veracity, the coward his courage, the ill-bred his gentlemanliness, and the cad his honor. Ở đây, các tham tố ĐNT (the hottest to defend his veracity, the coward his courage, the ill-bred his gentlemanliness, and the cad his honor) và BĐNT (her experience) đã có sự hoán đổi vị trí cho nhau. Cụ thể là tham tố BĐNT đã được đảo lên phía trước để kết hợp với cụm yếu tố chêm xen (It had been) tạo thành Đề đánh dấu vì mục đích nhấn mạnh. Phần còn lại là Thuyết được xác định từ the liar was the hottest to defend his veracity, the coward his courage, the ill-bred his gentlemanliness, and the cad his honor chứa tham tố ĐNT xuất hiện trong diễn ngôn.

2.5.2. Phủ định sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo có yếu tố chêm xen phụ trợ

2.5.2.1. Phủ định sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua tham tố đảo có yếu tố chêm xen phụ trợ trong quá trình vật chất

Để phủ định một tham tố nào đó trong quá trình vật chất có yếu tố chêm xen phụ trợ là một cụm chủ vị mang tính nhấn mạnh (it was) người ta thường thêm các yếu tố phủ định ngay sau cụm chủ - vị mang tính nhấn mạnh (it + be + not/no + tham tố nhấn mạnh + that + chủ + vị...). Như vậy, một cấu trúc mang tính “tiền đảo” được hình thành với Đề đánh dấu được xác định là: it + be + not/no + tham tố nhấn mạnh. Phần còn lại được xác định là Thuyết nhằm thuyết giải cho Đề.

Ví dụ {2: 74}... It was a fateful day for the Yeehats. They scattered far and wide over the country, and it was not till a week later that the last of the survivors gathered together in a lower valley and counted their losses... [4]

Ví dụ trên cho thấy, vì muốn nhấn mạnh tính phủ định của tham tố a week later mà tác giả đã đảo nó lên phía trước và làm cho nó xuất hiện trong phần Đề cùng với yếu tố chêm xen phủ định (it was not till a week later). Phần còn lại là Thuyết được thể hiện qua cấu trúc chuyển tác của quá trình vật chất: the last of the survivors gathered together in a lower valley and counted their losses.

2.5.2.2. Phủ định sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua tham tố đảo có yếu tố chêm xen phụ trợ trong quá trình tinh thần

Cũng giống như sự phủ định về nội dung thông tin được nhấn mạnh ở chủ đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo có yếu tố chêm xen phụ trợ trong quá trình vật chất, sự phủ định về nội dung thông tin được nhấn mạnh ở chủ đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo có yếu tố chêm xen phụ trợ trong quá trình tinh thần cũng có mô hình tương tự. Điểm khác biệt đáng chú ý là phần Thuyết của kiểu đảo này sẽ được thể hiện qua cấu trúc chuyển tác của quá trình tinh thần.

Ví dụ {2:75}... It was not food that Buck and the huskies needed, but rest. And though they were making poor time, the heavy load they dragged sapped their strength severely...[4].

Xét câu: It was not food that Buck and the huskies needed, but rest. Tham tố nhấn mạnh là food xuất hiện ở phía trước kết hợp với yếu tố chêm xen phủ định It was not được xác định là thông tin được nhấn mạnh và làm Đề đánh dấu. Phần còn lại là Thuyết chứa Cảm thể (Buck and the huskies), quá trình tinh thần (needed, but rest) nhằm thuyết giải cho Đề.

Tiểu kết

Dựa trên hướng tiếp cận của ngữ pháp chức năng hệ thống của M.A.K Halliday, chúng tôi tán thành quan điểm cho rằng chức năng của câu có thể được phân tích dựa trên cả ba bình diện. Đó là câu có chức năng cấu trúc đề – thuyết, câu có cấu trúc Thức, cấu trúc nghĩa biểu hiện. Qua phân tích nguồn ngữ liệu thu thập được, chúng tôi nhận thấy trong tiếng Anh, các loại câu đảo ngữ đều có phần Đề là Đề đánh dấu, bởi vì Đề ngữ không trùng khớp với Chủ ngữ. Tuy nhiên, khi giao tiếp vì mục đích nhấn mạnh một yếu tố ngôn ngữ nào đó mà chúng ta đảo yếu tố ngôn ngữ đó lên phía trước hoặc về phía sau và làm cho nó trở thành thông tin được nhấn mạnh.

Từ kết quả khảo sát và việc phân tích các ví dụ minh họa, có thể thấy rằng đảo ngữ tiếng Anh vẫn luôn có sự đa dạng về cấu trúc và linh hoạt trong quá trình vận dụng bởi nó đề cập đến hiện tượng không theo qui tắc trong câu. Dựa vào nguồn ngữ liệu thu thập được là 500 câu đảo ngữ tiếng Anh, chúng tôi đã tổng hợp được năm kiểu đảo ngữ, chứng minh sự đa dạng về cấu trúc cũng như sự thể hiện chức năng của chúng trong diễn ngôn.

CHƯƠNG 3:

CÂU ĐẢO NGỮ TIẾNG VIỆT


Dẫn nhập

Trong chương này, chúng tôi sẽ trình bày và phân tích các đặc điểm của câu đảo ngữ tiếng Việt dưới góc nhìn của ngữ pháp chức năng. Trên cơ sở của sự phân loại nguồn dữ liệu thu thập được về câu đảo ngữ tiếng Việt dựa trên ba bình diện chức năng là cấu trúc Đề – thuyết, cấu trúc Thức và cấu trúc chuyển tác, chúng tôi nhận thấy câu đảo ngữ tiếng Việt có năm kiểu loại cơ bản sau:

3.1. Kiểu 1: Nhấn mạnh nhằm đối lập tham tố đảo làm phần Đề đánh dấu trong câu có thành phần câu đảo không có yếu tố phụ trợ

Sơ đồ tổng quát:



Số lượng: 221/500 (Tỷ lệ: 44.2 %)

CTĐT

Đề đánh dấu

Thuyết

CTT

Thức khẳng định/ Phủ định/ Nghi vấn/ Cảm thán

Thành phần đảo

Các thành phần câu khác

CTCT

Tham tố (Tham tố) + Quá trình Tham tố

(Yếu tố đảo)



Trong sơ đồ này, Đề đánh dấu được xác định là các tham tố đảo (Đích thể, Hiện tượng, Ngôn thể, Đồng nhất thể/ Giá trị, Chu tố/ Chu cảnh và có khi chính cả các quá trình) xảy ra trong các quá trình chuyển tác (quá trình vật chất, tinh thần, hành vi, phát ngôn, quan hệ... ) tương ứng với các thành phần câu (Tân ngữ, Bổ ngữ, Trạng ngữ, Vị ngữ...) trong cấu trúc cú pháp được cụ thể hóa từ Cấu trúc Thức. Đối với sơ đồ này, chúng tôi tiến hành khảo sát nguồn ngữ liệu trên bốn Thức (Thức khẳng định, Phủ định, Nghi vấn, Cảm thán). Kết quả khảo sát cho thấy đây là sơ đồ chiếm tỷ lệ lớn nhất (44.2%) câu đảo ngữ trong tổng số nguồn ngữ liệu được khảo sát.

3.1.1. Khẳng định sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua tham tố đảo trong các quá trình



3.1.1.1. Khẳng định sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua tham tố đảo trong quá trình vật chất

Theo Halliday (1994), quá trình vật chất là một quá trình thể hiện điển hình một kiểu hành động vật chất hay một sự kiện nào đó trong thế giới bên ngoài. Ý nghĩa cơ bản của nó là một thực thể nào đó hành động một cái gì đó có thể cảm nhận được, hay thực hiện một hành động nào đó có thể được mở rộng (hay không được mở rộng) sang một thực thể khác. Các động từ biểu hiện cho quá trình vật chất như: đi, chạy, bồng, gửi, ém, vác, đến, xông, đánh, đập, mở, đóng, đẩy, đặt, rộ,...



a. Đảo tham tố Đích thể

Các sơ đồ tương ứng:



CTĐT

Đề đánh dấu

Thuyết

CTT

Thức khẳng định

TN

(cụm) danh/đại từ



CN + VN

(cụm)danh/đại từ + (cụm) động từ



CTCT

ĐT

HT + QT:vc

Trong sơ đồ này, tác giả muốn khẳng định sự nhấn mạnh về thông tin liên quan đến chủ đề là phần Đề đánh dấu trong cấu trúc Đề - Thuyết và cũng là phần Đích thể trong cấu trúc chuyển tác khi mô tả quá trình vật chất của Hành thể đối với Đích thể.

Ví dụ {3: 1}:.. - Mày điên rồi, Can! Một là mày không có quyền làm thế, hai là tút làm sao nổi. Sẽ bị tóm. Rồi tòa án binh, ăn đạn, càng vô phúc hơn. Nghe tao, bình tâm đi. Tao sẽ kín miệng, sẽ không ai biết. - Ba lô tôi ém sẵn trong rừng rồi. - Tao không để mày đi đâu... [17]

Trong câu đảo ngữ: ...- Ba lô tôi ém sẵn trong rừng rồi của ví dụ trên, tác giả nhấn mạnh tham tố Đích thể “Ba lô” trong quá trình chuyển tác vật chất hành động (ém) và đưa nó lên vị trí đầu câu làm cho nó trở thành Đề đánh dấu với một thái độ khẳng định. Phải chăng, trong chiến tranh, hình ảnh chiếc “ba lô” luôn đóng vai trò quan trọng đối với người lính, là vật thể gắn bó với người lính khi ra trận. Vì vậy, khi giao tiếp nó được tác giả đề cập trước thể hiện sự nhấn mạnh và khẳng định thông tin được truyền đạt đến người nghe.

Qua khảo sát nguồn ngữ liệu thu thập được, chúng tôi cũng tìm thấy quá trình đảo tham tố Đích thể còn xảy ra trong Quá trình vật chất chuyển giao

Ví dụ {3: 2}: ... cậu, những thư trước tôi gửi về, chắc cậu tiếp được cả rồị lá thư thứ nhất và thứ ba, có lẽ cậu xem lấy làm buồn lắm thì phảị sự đó tôi cũng biết lỗi, đáng lẽ người đi phải yên ủi kẻ ở bằng những câu vui vẻ, chứ tôi lại kể nỗi lòng thương nhớ chồng con, cho cậu phải phiền, thật bây giờ tôi lấy làm hối hận quá... [14]

Xét cú: những thư trước tôi gửi về. Trong hoàn cảnh vợ chồng đang xa nhau mỗi người một nơi thì những lá thư luôn là cầu nối giúp cho mối quan hệ của họ được duy trì vì vậy mà người vợ đã đề cập đến thông tin thể hiện qua tham tố “những thư trước” ngay khi mở đầu quá trình giao tiếp và chính điều này làm cho nó trở thành Đề đánh dấu trong cấu trúc Đề – thuyết với thái độ khẳng định. Đồng thời với sự xuất hiện ở vị trí đầu câu, “những thư trước” trở thành Đích thể trong cấu trúc chuyển tác thông qua quá trình vật chất chuyển giao “gửi về”.

Trong tiếng Việt, cấu trúc đảo thành phần câu còn xảy ra khi người nói muốn nhấn mạnh thông tin là một tham tố trong quá trình vật chất tạo vật. Tham tố này sẽ đóng vai Đích thể trong cấu trúc chuyển tác đồng thời làm phần Đề có đánh dấu trong cấu trúc Đề - Thuyết.

Ví dụ {3: 3}... Người thứ ba, tức là ông quản lộ. Chức này, chỉ có tỉnh này mới đặt ra. Nhiệm vụ của ông quản lộ là phải coi đường làng, từ ngày xây gạch... [14]

Xét câu: Chức này, chỉ có tỉnh này mới đặt ra. HT (chỉ có tỉnh này) và ĐT (Chức này) hoán đổi vị trí cho nhau khi QT:vc tạo vật (mới đặt ra) xảy ra. Trong trường hợp này, tác giả nhấn mạnh sự khẳng định chính thành phần này (ĐT) sẽ làm thành phần Đề. Đích thể (Chức này) xuất hiện ở vị trí đầu câu, xác định thành phần Đề đánh dấu. HT (chỉ có tỉnh này) – thực hiện QT:vc tạo vật – vị từ (đặt ra) chính là phần Thuyết thuyết giải cho phần Đề trong văn bản.

b. Đảo tham tố thuộc tính chu cảnh

Các sơ đồ tương ứng:



CTĐT

Đề đánh dấu

Thuyết

CTT

Thức khẳng định

BN (chỉ địa điểm)

(cụm) giới/trạng từ



CN + VN

(cụm)danh/đại từ + (cụm) động từ



CTCT

TTCC

HT + QT:vc

Đó chính là hiện tượng đảo ngữ mà trong đó thành phần bị đảo ra đầu câu là một thuộc tính chu cảnh bắt buộc trở thành khung đề không gian chỉ địa điểm, lối đi, hướng, hoặc đích. Hoặc là chu cảnh bắt buộc là khung đề thời gian thường đứng trước quá trình vật chất chỉ hành động nhằm giới thiệu một sự kiện mới. Nhờ sự xuất hiện của nó ở vị trí đầu câu mà thuộc tính Chu cảnh trở thành phần Đề đánh dấu trong cấu trúc Đề - Thuyết.

Ví dụ {3: 4} ... Tân thấy tâm hồn khoan khoái như không bận một ý nghĩ gì. Từ bờ ruộng đằng xa đi lại, một người đàn bà gánh hai gánh đầy... [15]

Từ khung tham chiếu, có thể thấy rằng tiêu điểm thứ nhất của thông tin được câu truyền tải là một thuộc tính chu cảnh bắt buộc và làm khung đề của câu. Thuộc tính chu cảnh bắt buộc này được thể hiện bằng một kết cấu mang trạng tính, thậm chí là một trạng từ trong cấu trúc ngữ pháp. Tiêu điểm thứ hai thường xuất hiện cuối câu chính là Hành thể – chủ thể của hành động, thường được thể hiện bằng một danh ngữ đếm được, và không xác định. Phần Thuyết theo sau khung đề không gian/thời gian là một kết cấu gồm ngữ đoạn vị từ mà vị từ trung tâm của nó biểu thị quá trình chuyển vị – một cách thể hiện của quá trình vật chất.

Căn cứ vào khung tham chiếu và câu đảo ngữ: Từ bờ ruộng đằng xa đi lại, một người đàn bà gánh hai gánh đầy của ví dụ tương ứng, có thể thấy rằng thành phần xuất hiện đầu câu là thuộc tính chu cảnh bắt buộc làm khung đề không gian được mã hóa bằng các trạng ngữ hay cụm trạng ngữ như: Từ bờ ruộng đằng xa. Đây cũng chính là phần Đề đánh dấu được nhấn mạnh trong cấu trúc Đề thuyết. Các thành phần này làm điều kiện để giới thiệu các Hành thể - tiêu điểm thứ hai (một người đàn bà) thông qua quá trình vật chất hành động: đi lại và biểu thị một sự chuyển động có cách thức. Có thể thấy rằng, vì muốn nhấn mạnh thuộc tính chu cảnh (Từ bờ ruộng đằng xa) mà tác giả đã đưa nó lên trước quá trình hành động và Hành thể với thái độ khẳng định. Đối với cuộc sống nơi làng quê, hình ảnh cánh đồng, ruộng lúa luôn là một phần không thể thiếu trong sinh hoạt thường ngày. Vì vậy, khi giao tiếp nó luôn là vấn đề quan trọng hàng đầu mà người nói đề cập đến.



c. Đảo tham tố vị thể (quá trình vật chất hành động)

Các sơ đồ tương ứng:



CTĐT

Đề đánh dấu

Thuyết

CTT

Thức khẳng định

VN

(cụm) động từ



CN + TrN

(cụm) danh từ + (cụm) trạng/ giới từ



CTCT

QT: vc

HT + CC

Cấu trúc đảo ngữ với Hành thể là chủ ngữ nhưng không kiêm chủ đề, thường được thể hiện bằng một danh ngữ không xác định, theo sau vị từ tác động. Hành thể và Quá trình vật chất tác động đổi vị trí cho nhau theo trật tự cú pháp V-C (Vị ngữ – Chủ ngữ), một trật tự không theo quy tắc trong ngữ pháp tiếng Việt. Vị từ chuyển động là một động từ mang tính chất tác động xuất hiện đầu câu làm thành Đề đánh dấu trong cấu trúc Đề – Thuyết. Chiếm vị trí cuối câu thường là Chu cảnh bắt buộc hay chu cảnh tùy chọn được mã hóa bằng một danh ngữ/ cụm danh ngữ hoặc trạng ngữ/cụm trạng ngữ để làm bổ ngữ cho Hành thể và để bảo toàn nguyên tắc trọng hậu và nguyên tắc thông tin.

Ví dụ {3: 5} ... Ngửa mặt nhìn trời, lâng lâng trong cảm xúc hồn nhiên thơ trẻ, giây phút hiếm hoi nọ với Lồ, tiếc thay, chấm dứt quá nhanh.




1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   ...   24


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương