BỘ giáo dục và ĐÀo tạO ĐẠi học huế trưỜng đẠi học khoa học phạm thị hà



tải về 2.93 Mb.
trang1/24
Chuyển đổi dữ liệu06.06.2018
Kích2.93 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   24
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

-----------------------------


PHẠM THỊ HÀ

CÂU ĐẢO NGỮ TIẾNG ANH

VÀ TIẾNG VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC


HUẾ - 2017

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

ĐẠI HỌC HUẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC

----------------------------

PHẠM THỊ HÀ

CÂU ĐẢO NGỮ TIẾNG ANH

VÀ TIẾNG VIỆT
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 62 22 02 40

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC


NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1. PGS. TS. TrÇn V¨n Ph­íc

  1. PGS. TS. Tr­¬ng ThÞ Nhµn


HUẾ - 2017

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu trong luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận án chưa được công bố trong bất kì công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Phạm Thị Hà




KÝ HIỆU VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN ÁN
BĐNT = Bị đồng nhất thể

BH = Biểu hiện

BN = Bổ ngữ

CC = Chu cảnh

CN = Chủ ngữ

CT = Cảm thể

CTCT = Cấu trúc Chuyển tác

CTĐT = Cấu trúc Đề thuyết

CTT = Cấu trúc Thức

ĐgT = Đương thể

ĐN = Đề ngữ

ĐNgT = Đích ngôn thể

ĐNT = Đồng nhất thể

ĐT = Đích thể

GT = Giá trị

KhiT = Khiến thể

HHT = Hiện hữu thể

HT = Hành thể

HTg = Hiện tượng

LT = Lợi thể

NT = Ngôn thể

PN = Phụ ngữ

PNT = Phát ngôn thể

QT = Quá trình

QT: hh = Quá trình hiện hữu

QT: hv = Quá trình hành vi

QT: pn = Quá trình phát ngôn

QT: qh = Quá trình quan hệ

QT: tt = Quá trình tinh thần

QT: vc = Quá trình vật chất

tđ = tác động

ttbđ = tiểu từ bị động

ThT = Thuộc tính

ThN = Thuyết ngữ

TN = Tân ngữ

TNT = Tiếp ngôn thể

TrN = Trạng ngữ

TT = Tiếp thể

TTCC = Thuộc tính chu cảnh

ƯT = Ứng thể

VN = Vị ngữ

THUẬT NGỮ ANH – VIỆT
active chủ động

active voice dạng chủ động

actor hành thể

adjunct phụ ngữ

ascriptive qui gán

aspect thể

attribute thuộc tính

attributor tạo thuộc tính thể

behaver ứng thể

behaviour hành vi, ứng xử

behavioural process quá trình hành vi

beneficiary lợi thể

carrier đương thể

causative process quá trình gây khiến

circumstance chu cảnh

circumstantial relation quan hệ chu cảnh

clause cú

complement bổ ngữ

constituency thành tố

constituent structure cấu trúc thành tố

context ngôn cảnh

declarative tuyên bố

declarative mood thức tuyên bố

discourse ngôn bản

effective tác động

exclamative cảm thán

existent hiện hữu thể

existential process quá trình hiện hữu

experiential kinh nghiệm

fact thực tế

finite hữu định

function chức năng

given (thông tin) cũ

goal đích thể

guise (chu cảnh) đội lốt

identified bị đồng nhất thể

identifier đồng nhất thể

imperative mood thức cầu khiến

information focus tiêu điểm thông tin

intensive sâu

interactive process quá trình tương tác

interpersonal liên nhân

interrogative mood thức nghi vấn

location định vị

marked được đánh dấu

material process quá trình vật chất

mental process quá trình tinh thần

modality tình thái

modifier bổ tố

mood thức

mood structure cấu trúc thức

new (thông tin) mới

patient kẻ chịu đựng

possessor sở hữu thể

predicator vị ngữ

process quá trình

projection phóng chiếu

range cương vực

receiver tiếp ngôn thể

recipient tiếp thể

relational process quá trình quan hệ

residue phần dư

rheme thuyết ngữ

sayer phát ngôn thể

sensor cảm thể

target đích ngôn thể

theme đề ngữ

token biểu hiện

transitivity chuyển tác

transitivity system hệ thống chuyển tác

unmarked không đánh dấu

value giá trị

verbal động từ, hữu ngôn, phát ngôn

verbal process quá trình phát ngôn

verbiage ngôn thể

MỤC LỤC


MỞ ĐẦU 1

1. Lý do chọn đề tài 1

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3

4. Ngữ liệu nghiên cứu 3

5. Phương pháp nghiên cứu 3

6. Đóng góp của luận án 4

7. Cấu trúc của luận án 5

CHƯƠNG 1 6

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ CÂU ĐẢO NGỮ TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN 6

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề đảo ngữ tiếng Anh và tiếng Việt 6

1.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 6

1.2. Cơ sở lí thuyết liên quan đến luận án 14

1.2.1. Thành phần câu 15

1.2.2. Trật tự từ 20

1.2.3. Mô hình câu 24

1.2.4. Câu theo quan điểm ngữ pháp chức năng hệ thống 26

1.2.5. Câu đảo ngữ theo quan điểm ngữ pháp chức năng hệ thống 49

CHƯƠNG 2: 55

CÂU ĐẢO NGỮ TIẾNG ANH 55

Dẫn nhập 55

2.1. Kiểu 1: Nhấn mạnh nhằm đối lập tham tố đảo làm phần Đề đánh dấu trong câu có thành phần câu đảo không có yếu tố phụ trợ 55

2.1.1. Khẳng định sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua tham tố đảo trong các quá trình 55

2.1.2. Phủ định sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố trong các quá trình 64

2.1.3. Nghi vấn sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố trong các quá trình 69

2.1.4. Cảm thán sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố trong các quá trình 71

72

2.2. Kiểu 2: Nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo trong câu bị động có yếu tố phụ trợ 73



2.2.1. Khẳng định sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo trong câu bị động có yếu tố phụ trợ 73

2.2.2. Phủ định sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo trong câu bị động có yếu tố phụ trợ 77

2.3. Kiểu 3: Nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua tham tố đảo thuộc quá trình hiện hữu trong câu tồn tại có thành phần đảo về phía sau 79

2.3.1. Khẳng định sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua tham tố đảo thuộc quá trình hiện hữu trong câu tồn tại có thành phần đảo về phía sau 79

2.3.2. Phủ định sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua tham tố đảo thuộc quá trình hiện hữu trong câu tồn tại có thành phần đảo về phía sau 81

2.4. Kiểu 4: Nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua tham tố đảo trong câu có thành phần đảo về phía trước 82

2.4.1. Khẳng định sự nhấn mạnh tham tố đảo trong các quá trình 83

2.4.2. Phủ định sự nhấn mạnh tham tố đảo trong các quá trình 85

2.5. Kiểu 5: Nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo có yếu tố chêm xen phụ trợ (cấu trúc câu) 86

2.5.1. Khẳng định sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo có yếu tố chêm xen phụ trợ 87

2.5.2. Phủ định sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo có yếu tố chêm xen phụ trợ 89

Tiểu kết 90

CHƯƠNG 3: 92

CÂU ĐẢO NGỮ TIẾNG VIỆT 92

Dẫn nhập 92

3.1. Kiểu 1: Nhấn mạnh nhằm đối lập tham tố đảo làm phần Đề đánh dấu trong câu có thành phần câu đảo không có yếu tố phụ trợ 92

3.1.1. Khẳng định sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua tham tố đảo trong các quá trình 92

3.1.2. Phủ định sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo trong các quá trình 102

3.1.3. Nghi vấn sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua tham tố đảo trong các quá trình 105

3.1.4. Cảm thán sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua tham tố đảo 107

3.2. Kiểu 2: Nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo trong câu bị động có yếu tố phụ trợ 108

3.2.1. Khẳng định sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo trong câu bị động có yếu tố phụ trợ 108

3.2.2. Phủ định sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo trong câu bị động có yếu tố phụ trợ 114

3.3. Kiểu 3: Nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo thuộc quá trình hiện hữu trong câu tồn tại có thành phần đảo về phía sau 115

3.3.1. Khẳng định sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua tham tố đảo thuộc quá trình hiện hữu trong câu tồn tại có thành phần đảo về phía sau 116

3.3.2. Phủ định sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua tham tố đảo thuộc quá trình hiện hữu trong câu tồn tại có thành phần đảo về phía sau 118

3.4. Kiểu 4: Nhấn mạnh chủ đề đánh dấu biểu hiện qua tham tố đảo trong cấu trúc câu có thành phần đảo về phía trước 119

3.4.1. Khẳng định sự nhấn mạnh tham tố đảo trong các quá trình 120

3.4.2. Phủ định sự nhấn mạnh tham tố đảo trong quá trình vật chất 121

3.5. Kiểu 5: Nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo có yếu tố chêm xen phụ trợ (cấu trúc câu) 121

3.5.1. Khẳng định sự nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo có yếu tố chêm xen phụ trợ 122

Tiểu kết 124

CHƯƠNG 4: 126

SO SÁNH CÂU ĐẢO NGỮ TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT 126

Dẫn nhập 126

4.1. Bảng thống kê số liệu 126

4.2. Những biểu hiện tương đồng 127

4.2.1. Kiểu 1: Nhấn mạnh nhằm đối lập tham tố đảo làm Đề đánh dấu trong câu có thành phần câu đảo không có yếu tố phụ trợ 127

4.2.2. Kiểu 2: Nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo trong câu bị động có yếu tố phụ trợ 132

4.2.3. Kiểu 3: Nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo thuộc quá trình hiện hữu trong câu tồn tại có thành phần đảo về phía sau 133

4.2.4. Kiểu 4: Nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo trong cấu trúc câu có thành phần đảo về phía trước 134

4.2.5. Kiểu 5: Nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua tham tố đảo có yếu tố chêm xen phụ trợ (cấu trúc câu) 135

4. 3. Biểu hiện những điểm dị biệt 136

4.3.1. Kiểu 1: Nhấn mạnh nhằm đối lập tham tố đảo làm Đề đánh dấu trong câu có thành phần đảo không có yếu tố phụ trợ 136

4.3.2. Kiểu 2: Nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo trong câu bị động có yếu tố phụ trợ 141

4.3.3. Kiểu 3: Nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo thuộc quá trình hiện hữu trong câu tồn tại có thành phần đảo về phía sau 142

4.3.4. Kiểu 4: Nhấn mạnh đề đánh dấu biểu hiện qua các tham tố đảo trong cấu trúc câu có thành phần đảo về phía trước 144

Tiểu kết 148

KẾT LUẬN 150

TÀI LIỆU THAM KHẢO 154




DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU


Bảng 4.1. Bảng tổng hợp các kiểu câu đảo ngữ tổng quát trong tiếng Anh 126

và tiếng Việt. 126



MỞ ĐẦU


1. Lý do chọn đề tài

Đảo ngữ là hiện tượng ngữ pháp khá phức tạp và được nhiều người quan tâm nghiên cứu. Có thể nói, đảo ngữ liên quan đến khả năng di chuyển của các thành tố trong câu. Do đó tất yếu gắn với sự khác biệt nào đó giữa các biến thể trật tự của câu: đó là sự khác biệt giữa một trật tự được cho là “cơ bản”, hay “trật tự chuẩn”, với những trật tự được hình thành dựa vào hiện tượng đảo ngữ. Sự khác biệt về trật tự từ như vậy (với tư cách là “cái biểu đạt”) sẽ thể hiện những khác biệt về nội dung (với tư cách là “cái được biểu đạt”). Tuy vậy, cũng có ý kiến cho rằng ngôn ngữ là một hệ thống các chuỗi âm thanh gồm các từ kết hợp với nhau theo các mẫu cấu trúc ngữ pháp (Noam Chomsky, 1972). Và theo quan điểm này, dạy học ngoại ngữ là giúp người học nắm chắc từ vựng, mẫu cấu trúc ngữ pháp và cách phát âm chuẩn các mẫu câu của một ngôn ngữ.

Tuy nhiên, quan điểm ngôn ngữ học nói trên đã không thể hiện được rằng nghĩa của một phát ngôn còn bị chi phối bởi các yếu tố khác trong một ngữ cảnh giao tiếp nhất định. Năng lực ngôn ngữ của con người không chỉ hình thành nhờ nắm chắc các cấu trúc ngữ pháp mà còn được hình thành qua quá trình giao tiếp. Khắc phục quan điểm ngôn ngữ của Noam Chomsky, nhà ngôn ngữ học chức năng hệ thống M.A.K Halliday quan niệm chính trong lời nói tự nhiên, đang hoạt động mà hệ thống ngữ pháp của một ngôn ngữ được khai thác một cách đầy đủ nhất [23]. Ngữ pháp chức năng hệ thống về cơ bản là ngữ pháp tự nhiên với ý nghĩa là mọi hiện tượng ngôn ngữ cuối cùng đều có thể giải thích được trong mối quan hệ với việc ngôn ngữ được sử dụng như thế nào. Các thành phần cơ bản trong ý nghĩa của ngôn ngữ là các thành phần chức năng. Phương tiện giao tiếp là tất cả những yếu tố mà chúng ta dùng để thể hiện thái độ, tình cảm, mối quan hệ và cả những tâm lí khác của mình. Trong đó, ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người. Bằng ngôn ngữ, con người có thể truyền đi bất cứ một loại thông tin nào. Halliday cho rằng, những đòi hỏi của xã hội đã giúp ngôn ngữ hình thành nên cấu trúc của nó. Ông đã làm sáng tỏ sự phát triển của ngôn ngữ từ quan điểm chức năng: “Ngôn ngữ đã tiến hóa để phát triển các nhu cầu của con người, và liên quan đến các nhu cầu này, cái phương thức mà nó được tổ chức là chức năng – nó không phải là võ đoán.”.

Ở Việt Nam, quan niệm về ngữ pháp chức năng nhìn chung không khác với quan niệm của các nhà ngữ pháp chức năng trên thế giới. Theo Cao Xuân Hạo (1991), ngữ pháp chức năng là “một hệ thống phương pháp được xây dựng trên quan điểm coi ngôn ngữ như là một phương tiện thực hiện sự giao tiếp giữa người và người” [53]. Ông viết: ngữ pháp chức năng tự đặt cho mình cái nhiệm vụ nghiên cứu, miêu tả và giải thích các quy tắc chi phối hoạt động của ngôn ngữ trên các bình diện của mặt hình thức và mặt nội dung trong mối liên hệ có tính chức năng (trong mối liên hệ giữa những phương tiện và những mục đích) thông qua việc quan sát sử dụng ngôn ngữ trong những tình huống giao tiếp hiện thực không phải chỉ để lập những danh sách đơn vị và xác định những hệ thống và tiểu hệ thống đơn vị ngôn ngữ, mà còn để theo dõi cách hành chức của ngôn ngữ qua những biểu hiện sinh động của nó trong khi sử dụng. Cũng chính vì vậy mà Lý Toàn Thắng (2004) đã nhận định: Cùng một sự kiện như nhau diễn ra trước mắt ta nhưng mỗi người có thể cảm thụ sự kiện ấy theo những kiểu chiến lược riêng và do đó khi cần mô tả sự kiện đó bằng câu nói thì sản sinh ra những cấu trúc cú pháp khác nhau [77].

Từ thực tế giảng dạy, chúng tôi luôn nhận thấy người học có nhu cầu được giải thích về bản chất và chức năng của các cấu trúc ngôn ngữ, đặc biệt là những cấu trúc câu nhấn mạnh như câu đảo ngữ… Các loại câu này rất phong phú trong tiếng Anh và được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu với nhiều trường phái khác nhau. Vì vậy, để hiểu được và sử dụng được các biểu thức nhấn mạnh bằng câu đảo ngữ trong dạy học ngoại ngữ, tôi cho rằng cần thiết phải nghiên cứu đề tài này dựa theo quan điểm ngữ pháp chức năng hệ thống của M.A.K. Halliday. Ngoài ra, việc nắm vững và sử dụng hiệu quả các cấu trúc đảo ngữ sẽ giúp người học đa dạng hóa và làm phong phú thêm cách diễn đạt ngôn ngữ nhằm phục vụ cho những mục đích giao tiếp nhất định.

Với những lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài “Câu đảo ngữ tiếng Anh và tiếng Việt” để nghiên cứu.

2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

+ Đối tượng nghiên cứu

Với đề tài này, chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu là câu đảo ngữ tiếng Anh và câu đảo ngữ tiếng Việt.



+ Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu đề tài là: nghiên cứu các kiểu câu đảo ngữ thông qua các bình diện chức năng theo quan điểm ngữ pháp chức năng hệ thống của M.A.K Halliday.

- Chức năng tạo văn bản (trên cơ sở cấu trúc Đề – thuyết)

- Chức năng liên nhân (trên cơ sở cấu trúc Thức)

- Chức năng biểu hiện (trên cơ sở cấu trúc chuyển tác) thông qua sự hiện thực hóa các tham tố tham gia vào các quá trình trong các cấu trúc chuyển tác.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

+ Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu làm sáng tỏ đặc điểm ngôn ngữ của câu đảo ngữ tiếng Anh và tiếng Việt cùng những điểm tương đồng và khác biệt của câu đảo ngữ trong hai ngôn ngữ.



+ Nhiệm vụ nghiên cứu

- Thống kê, phân loại các câu đảo ngữ tiếng Anh và tiếng Việt trong các tác phẩm văn học, truyện ngắn, và tiểu thuyết.

- Hệ thống hóa và mô hình hóa các loại câu đảo ngữ tiếng Anh và tiếng Việt, miêu tả và phân tích cấu tạo về hình thức và các đặc điểm thông qua các cấu trúc: cấu trúc Đề – thuyết, cấu trúc thức và cấu trúc chuyển tác trong diễn ngôn theo quan điểm ngữ pháp chức năng hệ thống của MAK. Halliday.

- Phân tích và làm sáng tỏ các đặc trưng ngôn ngữ về các cấu trúc của các kiểu câu đảo ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt.

- Trình bày những nhận xét tổng quan mang tính lí luận về vấn đề nghiên cứu và những kết luận rút ra từ kết quả nghiên cứu của luận án.

4. Ngữ liệu nghiên cứu

Nguồn ngữ liệu của luận án là gồm khoảng 1000 câu đảo ngữ tiếng Anh và tiếng Việt được chọn lọc và trích dẫn trong các diễn ngôn từ những nguồn tư liệu sau:

- Các tác phẩm văn học Anh- Mỹ

- Các tác phẩm văn học Việt Nam

- Các sách ngữ pháp và các công trình nghiên cứu tiếng Anh và tiếng Việt.

- Hội thoại trong giao tiếp hàng ngày

5. Phương pháp nghiên cứu



Cách tiếp cận

- Luận án lựa chọn hướng tiếp cận đề tài theo quan điểm ngôn ngữ học chức năng hệ thống của M.A.K Halliday để phân tích đặc điểm câu đảo ngữ tiếng Anh và tiếng Việt trên ba bình diện cấu trúc (cấu trúc văn bản, cấu trúc thức và cấu trúc chuyển tác) thông qua các kiểu câu đảo ngữ cơ bản.



Phương pháp nghiên cứu cụ thể

- Phương pháp thu thập cứ liệu thông tin: Được sử dụng nhằm thu thập các câu đảo ngữ được chọn lọc từ các tác phẩm văn học, truyện ngắn và hội thoại giao tiếp hàng ngày, từ đó xác lập nguồn tư liệu làm cơ sở nghiên cứu của luận án.

- Phương pháp miêu tả ngôn ngữ học: Đây là phương pháp truyền thống nhằm làm sáng tỏ bản chất của hiện tượng. Việc miêu tả được tiến hành với các thủ pháp chính yếu như sau:

+ Các thủ pháp giải thích bên trong (phân loại, hệ thống hóa tư liệu: xử lý số liệu, từ đó xác lập nguồn tư liệu làm cơ sở nghiên cứu; thủ pháp đối lập, thủ pháp phân tích thành tố trực tiếp để chỉ ra mối quan hệ giữa các thành tố tham gia cấu tạo…).

+ Các thủ pháp giải thích bên ngoài (thống kê định lượng và định tính để có được số lượng các câu đảo ngữ và xử lí theo định hướng của đề tài; miêu tả các đặc điểm câu đảo ngữ Anh và tiếng Việt dựa trên ba bình diện cấu trúc (cấu trúc văn bản, cấu trúc thức, và cấu trúc chuyển tác) theo quan điểm ngôn ngữ học chức năng hệ thống của M.A.K. Halliday.

- Phương pháp đối chiếu: Được sử dụng để so sánh các loại câu đảo ngữ tiếng Anh và tiếng Việt, tìm ra các dạng thức tương đương ở tiếng Anh có trong tiếng Việt cùng với các dạng thức khác biệt để từ đó nhận xét làm nổi bật đặc trưng về nghĩa: nghĩa văn bản, nghĩa liên nhân và nghĩa biểu hiện giữa hai ngôn ngữ.

- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Được sử dụng để phân tích các đặc điểm của câu đảo ngữ tiếng Anh và tiếng Việt trong những ngữ cảnh, tình huống cụ thể nhằm tìm ra mục đích, ý nghĩa sử dụng các loại câu đảo ngữ.

Ngoài ra, trong từng chương, mục của đề tài, chúng tôi sử dụng các thủ pháp nghiên cứu như đối lập, mô hình hóa… ứng với từng vấn đề được đề cập trong khi miêu tả, phân tích, lý giải những quan điểm, khái niệm… liên quan đến đề tài nghiên cứu.

6. Đóng góp của luận án



Về lí luận:

- Luận án làm sáng tỏ các đặc điểm câu đảo ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt trên các bình diện cấu trúc: cấu trúc văn bản, cấu trúc thức, và cấu trúc chuyển tác.

- Luận án làm sáng tỏ những tương đồng và khác biệt của các hiện tượng đảo ngữ tiếng Anh và tiếng Việt chủ yếu trên các bình diện cấu trúc văn bản, cấu trúc thức, và cấu trúc chuyển tác.

Về thực tiễn:

- Luận án góp phần đề xuất cách phân tích và giảng dạy các kiểu cấu trúc đảo ngữ tiếng Anh có sự đối chiếu với tiếng Việt.

- Luận án góp phần giúp người học nắm vững và sử dụng một cách hiệu quả nhất các loại câu đảo ngữ tiếng Anh và tiếng Việt nhằm đạt được những mục đích giao tiếp nhất định trong giao tiếp bằng ngôn ngữ. Kết quả của quá trình phân tích đối chiếu sẽ góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập các bộ môn ngữ pháp tiếng Anh và tiếng Việt.

7. Cấu trúc của luận án



Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm 4 chương:

- Chương 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề câu đảo ngữ tiếng Anh và tiếng Việt và cơ sở lý thuyết của luận án: Trình bày tổng quan vấn đề nghiên cứu câu đảo ngữ tiếng Anh và tiếng Việt và những vấn đề lý thuyết làm cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài luận án.

- Chương 2. Câu đảo ngtiếng Anh: Miêu tả và phân tích các đặc điểm của câu đảo ngữ tiếng Anh trên ba bình diện cấu trúc: cấu trúc Đề – thuyết, cấu trúc liên nhân và cấu trúc nghĩa biểu hiện thông qua các sơ đồ.

- Chương 3. Câu đảo ngtiếng Việt: Miêu tả và phân tích các đặc điểm của câu đảo ngữ tiếng Việt trên ba bình diện: cấu trúc Đề – thuyết, cấu trúc liên nhân và cấu trúc nghĩa biểu hiện thông qua các sơ đồ.

- Chương 4. So sánh câu đảo ngtiếng Anh và câu đảo ngtiếng Việt: So sánh các đặc điểm câu đảo ngữ tiếng Anh và tiếng Việt nhằm nêu ra những nét tương đồng và dị biệt giữa câu đảo ngữ tiếng Anh và tiếng Việt trên cả ba bình diện cấu trúc thể hiện trong từng kiểu loại.

CHƯƠNG 1

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ CÂU ĐẢO NGỮ TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN
Dẫn nhập

Trong chương này, chúng tôi trình bày các cơ sở lý thuyết của luận án và tổng quan nghiên cứu vấn đề đảo ngữ tiếng Anh và tiếng Việt. Đó là những quan niệm về lý thuyết có liên quan đến câu đảo ngữ bao gồm: những quan niệm về trật tự từ, thành phần câu và câu đảo ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt theo quan điểm ngữ pháp chức năng hệ thống. Chương một cũng tập trung giới thiệu tổng quan nghiên cứu về câu đảo ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt của các tác giả theo trường phái ngôn ngữ học chức năng hệ thống nhằm mục đích làm tiền đề và cơ sở lý thuyết cho việc phân tích ngữ liệu ở những chương tiếp theo của luận án. Trên cơ sở đó, luận án sẽ đặt ra mục tiêu là tìm ra những nét tương đồng và dị biệt của câu đảo ngữ tiếng Anh và tiếng Việt với hướng tiếp cận quan điểm ngữ pháp chức năng hệ thống của M.A.K. Halliday.

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề đảo ngữ tiếng Anh và tiếng Việt

1.1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Với công trình “Inversion in Present – Day English” của Hartvigson và Leif Kvistgaard Jakcobsen (1974), hiện tượng đảo ngữ trong tiếng Anh dường như lần đầu tiên được nghiên cứu và đại diện cho một trong những công trình nghiên cứu đảo ngữ tiếng Anh hiện đại. Tuy nhiên, công trình này của hai tác giả chủ yếu liệt kê các trường hợp đảo ngữ tiếng Anh và chú trọng việc trình bày cấu tạo hình thức câu đảo ngữ. Theo các tác giả, có hai yếu tố tham gia vào quá trình đảo ngữ: thứ nhất là độ phức tạp về mặt cú pháp, số lượng âm tiết hay cấu tạo hình thức của một yếu tố, tức “formal weight”; thứ hai là “nội dung thông báo” (information content) hay “giá trị thông tin” (news value) của các yếu tố, còn gọi là “notional weight”. Hai yếu tố “formal weight” và “notional weight” thường hay kết hợp với nhau trong hầu hết các trường hợp của đảo ngữ toàn phần tiếng Anh. Do vậy, hiện tượng đảo ngữ toàn phần có thể được lí giải là: chủ ngữ được di chuyển xuống vị trí cuối câu vì nó có độ dài vật chất phức tạp và mức tỉ lực thông báo lớn; trong khi đó một yếu tố khác lại được đảo lên vị trí đầu câu do có mức tỉ lực thông báo thấp và yếu tố này chính là “cái đã biết” đối với người nghe/ người đọc.

Nghiên cứu về đảo ngữ tiếng Anh được đề cập đến trong công trình của Green (1982) với định nghĩa đó là “những cấu trúc câu trần thuật mà trong đó chủ ngữ theo sau một phần hoặc toàn bộ các yếu tố của động từ”.

Theo Penhallurick John (1984), với công trình nghiên cứu “Full – Verb Inversion in English”, đảo ngữ toàn phần là một hiện tượng có cơ sở trong diễn ngôn nhằm giới thiệu thông tin mới. Vì vậy, chủ ngữ thường xuất hiện sau động từ và chủ ngữ thường phải mang thông tin mới, tức là thông tin mà người nói cho rằng không xuất hiện trong tiềm thức của người nghe vào thời điểm phát ngôn. Theo ông, yếu tố mở đầu loại câu đảo ngữ toàn phần thường là trạng ngữ chỉ vị trí hay phương hướng, động từ của loại câu này thường là động từ chỉ sự tồn tại hay sự xuất hiện trong bối cảnh. Việc đặt thông tin cũ trước thông tin mới sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lí thông tin của người nghe/người đọc.

Khi bàn về đảo ngữ trợ động từ, trong bài viết “The Semantics of Auxiliary Inversion in English” John Penhallurick (1987) cho rằng động cơ của hiện tượng đảo ngữ trợ động từ nằm ở bình diện ngữ nghĩa hơn là nằm trong cấu trúc, và “tất cả các thông điệp có liên quan đến đảo ngữ trợ động từ đều chia sẻ một đặc điểm ngữ nghĩa” và chứng minh đặc điểm ngữ nghĩa đó chính là “một sự không chắc chắn (uncertainty) gắn liền với sự kiện biểu thị bởi vị ngữ theo một cách thức nào đó”. Tuy nhiên, quan niệm này không có cơ sở ngôn ngữ học vững chắc.

Tuy vậy, quan điểm của Betty Birner (1995) lại cho rằng hiện tượng đảo có thể vẫn xảy ra khi chủ ngữ không mang thông tin mới. Ví dụ:

Yes, this is no ordinary general election. “Evan is a Democrat; Daley is a Democrat. Different Democrats have different points of view about the City of Chicago and its politics,” Jackson noted. “The war between forces within the party continues, and within our coalition.”Standing in the middle of it all is Jesse Jackson. (theo Birner.B.J, 1995)

(Vâng, đây không phải là một tổng tuyển cử bình thường. Evan là thành viên của Đảng dân chủ; Daley cũng là thành viên của Đảng dân chủ. Những người dân chủ khác nhau có những quan điểm khác nhau về thành phố Chicago và tình hình chính trị của nó,” Jackson lưu ý. “Cuộc chiến giữa các thế lực trong Đảng và trong liên minh của chúng ta vẫn tiếp diễn.” Đứng ở vị trí trung tâm trong tất cả chính là Jesse Jackson).

Betty Birner đã xem đảo ngữ toàn phần là một cấu trúc có chức năng sắp xếp thông tin. So với trật tự thuận tương ứng, cấu trúc đảo ngữ có sự khác biệt về cách thức chuyển tải thông tin trong câu. Yếu tố được đảo lên vị trí đầu câu thường mang thông tin cũ trong diễn ngôn, tức thông tin đã được gợi lên trong diễn ngôn, còn yếu tố đặt sau lại mang thông tin mới trong diễn ngôn. Tuy nhiên, không phải lúc nào yếu tố đầu câu đảo ngữ cũng mang thông tin cũ và yếu tố đặt cuối câu cũng mang thông tin mới đến cho người nghe/người đọc. B. Birner đã căn cứ vào trình tự sắp xếp các vị trí thông tin của các yếu tố đầu câu và yếu tố cuối câu khi cho rằng một câu đảo ngữ thích hợp phải thỏa mản một trong ba trình tự sắp xếp thông tin như sau:

- Diễn ngôn cũ , Diễn ngôn mới (Discourse – old, Discourse – new)

- Diễn ngôn mới, Diễn ngôn mới (Discourse – new, Discourse – new)

- Diễn ngôn cũ, Diễn ngôn cũ (Discourse – old, Discourse – old).

Trình tự Diễn ngôn cũ, Diễn ngôn mới (Discourse – old, Discourse – new) xuất hiện phổ biến nhất. Betty Birner đã kết luận: Yếu tố được đảo lên vị trí đầu câu trong câu đảo ngữ thường không mang thông tin mới hơn trong diễn ngôn so với yếu tố được đặt vị trí đứng cuối câu.

Một quan điểm khác về hiện tượng đảo ngữ toàn phần được thể hiện trong công trình “Inversion in Modern English: Form and Function” của Heidrun Dorgeloh (1997) là: cấu trúc thông tin được mã hóa trong câu đảo ngữ bằng phương tiện biến thể trật tự từ. Một câu Đảo ngữ toàn phần không chỉ diễn ra một sự đánh giá của người nói/người viết đối với tính quen thuộc của thông tin trong diễn ngôn mà nó còn thể hiện cách thức người nói/người viết hướng dẫn sự chú ý của người nghe/ người đọc, hoặc báo cho người nghe/người đọc biết rằng các yếu tố nào đó trong diễn ngôn đang được người nói nhấn mạnh. Ngoài ra, tính liên kết của đảo ngữ toàn phần trong diễn ngôn có quan hệ mật thiết với tính quan yếu (relevance) của câu đảo ngữ đối với ngôn cảnh (văn cảnh), tức là phần văn cảnh đi trước và đi sau, và đối với tình huống bên ngoài. Hay thứ nghĩa bổ sung, tức nghĩa phi nội dung mệnh đề của đảo ngữ toàn phần chính là nghĩa liên nhân (interpersonal meaning) và nghĩa văn bản (textual meaning), theo mô hình tam phân của Haliday (1994) về “ba bình diện nghĩa của câu” hay “ba thứ nghĩa được thể hiện trong ngôn ngữ thành một toàn thể, làm thành cái cơ sở cho cách tổ chức nghĩa của tất cả các ngôn ngữ của nhân loại”.

Xem xét về hiện tượng đảo ngữ trợ động từ, Heidrun Dorgeloh (1997) cho rằng đảo ngữ trợ động từ tiếng Anh có liên quan đến sự nhấn mạnh của người nói đối với các thành tố trong câu và diễn ra tính biểu cảm trực tiếp đối với nội dung được biểu đạt. Tuy nhiên, do tác động của quá trình ngữ pháp hóa mà một số cấu trúc đảo trợ động từ đã trở thành những phương tiện thể hiện sự qui chiếu hồi chỉ hoặc khứ chỉ, tức là những phương tiện tạo ra sự liên kết câu. Các cấu trúc đảo trợ động từ cũng không có sự khác biệt về nghĩa miêu tả hay nội dung mệnh đề. Sự thay đổi mà đảo ngữ trợ động từ tạo ra cũng chính là thứ nghĩa bổ sung thuộc các bình diện nghĩa liên nhân và nghĩa văn bản. Cấu trúc đảo trợ đông từ cũng nhằm thể hiện sự tổ chức của người nói/người viết đối với diễn ngôn của mình nhằm thông báo cho người nghe/người đọc về sự nhấn mạnh gắn liền với nội dung mệnh đề, tính liên kết của một số cấu trúc đảo trợ động từ cũng thể hiện tính quan yếu (relevance) của chúng trong văn bản hay trong diễn ngôn.

Dưới góc độ ngôn ngữ học chức năng hệ thống (Halliday, 1994), ngôn ngữ được giải thích như là một mạng lưới các mối quan hệ với các cấu trúc hay ngữ đoạn xuất hiện như là sự hiện thực hóa các mối quan hệ ấy. Ngữ pháp sâu của cú được trình bày bằng các mạng lưới hệ thống với điểm xuất phát là “cú” như Thức, chuyển tác và đề ngữ. Tiếp nối hướng nghiên cứu theo quan điểm này, Fillmore (1999) và Newmeyer (2000) đã nghiên cứu và nêu thêm một số đặc trưng và ngữ nghĩa của các loại câu đảo ngữ.

Cũng dựa trên quan điểm của ngữ pháp chức năng, Downing và Lockke (1995) giải thích hiện tượng đảo ngữ dựa vào yếu tố “đề ngữ” (theme), việc chọn một yếu tố làm “đề ngữ” trong một câu là nguyên nhân tạo ra đảo ngữ toàn phần và đảo ngữ trợ động từ. “Đề ngữ” của một câu là cái mà người nói hay người viết lựa chọn để làm xuất phát điểm của diễn ngôn. Trong tiếng Anh, “đề ngữ” được thể hiện bằng các thành tố đứng đầu câu, phần còn lại trong câu được gọi là “thuyết ngữ” (Rheme). Việc chọn thành tố làm “đề ngữ” có vai trò quan trọng vì nó thể hiện cách thức người nói/người viết phát triển thông điệp. Bất kì yếu tố nào được đưa lên vị trí đầu câu thì yếu tố đó sẽ trở thành “đề ngữ có đánh dấu” (marked theme). Những đề ngữ có mức đánh dấu cao chính là yếu tố tạo ra hiện tượng đảo ngữ. Downing và Lockke (1995) chia những yếu tố này thành 3 loại sau:

- Những từ/ cụm từ chỉ phương hướng: là những trạng từ như: here, there, up, down, in, out, off, away...; những giới từ bắt đầu với như: across..., down to...

Trong tác phẩm “A university Course in English Grammar” (1995) của Downing và Lockke, tác giả đã nêu ra một số ví dụ minh họa sau:

+ There goes my last dollar. (Vậy là hết những đồng đô la cuối cùng của tôi)

+ Down the bottom of the sea plunged the diver. (Người thợ lặn đắm mình xuống đáy biển).

Những câu đảo ngữ này nhằm tạo ra hiệu quả nhấn mạnh (emphatic effect), vì xuất phát điểm của phát ngôn là từ chỉ phương hướng và chủ ngữ (topic) xuất hiện ở vị trí cuối câu và có chức năng thông báo.

- Những từ/ cụm từ có nghĩa phủ định như: never, hardly, seldom, scarcely, nowhere, on no account, under no circumstances, not only, hoặc các cụm danh từ bắt đầu bằng từ phủ định not có chức năng của một bổ ngữ trực tiếp được đảo lên vị trí đầu câu.

Ví dụ:

+ Never had I seen such a sight. (Chưa bao giờ tôi thấy một quang cảnh như thế).

+ Under no circumstances must medicines be left within reach of children. (Trong bất kì hoàn cảnh nào thuốc men phải để xa tầm tay trẻ em)

+ Not a thing could the patient remember. (Người bệnh nhân đã không thể nhớ được điều gì).

- Những yếu tố khác như: so, neither, nor… Ví dụ:

+ Ed didn’t pass the exam and neither / nor did Mary. (Ed đã không vượt qua kì thi và Mary cũng không)

+ So depressed did he feel that nothing would cheer him up. (Anh ấy cảm thấy chán nản đến nỗi không có điều gì làm anh ta vui lên được).




  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   24


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương