BỘ giáo dục và ĐÀo tạo bộ y tế viện dinh dưỠng nguyễn tú anh hiệu quả SỬ DỤng mỳ Ăn liền từ BỘt mỳ TĂng cưỜng VI chấT Ở NỮ CÔng nhân bị thiếu máu tại khu công nghiệp nhẹ CỦa tỉnh vĩnh phúc luậN Án tiến sỹ dinh dưỠNG


Bảng 3.14: Nguy cơ phối hợp giữa thiếu máu và thiếu năng lượng



tải về 0.98 Mb.
trang7/9
Chuyển đổi dữ liệu17.08.2016
Kích0.98 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9

Bảng 3.14: Nguy cơ phối hợp giữa thiếu máu và thiếu năng lượng

trường diễn

Tình trạng

dinh dưỡng

Thiếu máu

n (%)

Không TM

n (%)

OR

(CI. 95%)

CED


145 (9%)

494 (29%)

1,129


(0,89-1,43)

p>0,05


Bình thường

217 (13%)

835 (49%)

Tổng số

362 (21%)

1329 (79%)

Bảng 3.14 cho thấy chưa có mối liên quan ý nghĩa (p>0,05) về nguy cơ thiếu máu và thiếu năng lượng trường diễn trong quần thể nghiên cứu (OR=1,129 (0,89-1,43).



Bảng 3.15: Nguy cơ phối hợp giữa thiếu năng lượng trường diễn và tuổi của đối tượng

Tình trạng

dinh dưỡng

Tuổi ≥ 25

n (%)

Tuổi < 25

n (%)

OR

(CI. 95%)

CED

415 (24%)

224 (13%)

3,84


(3,12-4,73)

P<0,0001


Bình thường

344 (20%)

713 (42%)

Tổng số

759 (45%)

937 (55%)

Bảng 3.15 cho thấy thiếu năng lượng trường diễn có liên quan tới tuổi đời của đối tượng. Nhóm đối tượng có tuổi đời 25 có nguy cơ thiếu năng lượng trường diễn cao gấp 3,84 lần (3,12-4,73) những đối tượng có tuổi < 25 (<0,0001). Hoặc nói cách khác tuổi đời càng cao, nguy cơ bị thiếu năng lượng trường diễn càng lớn.



Bảng 3.16: Tương quan hồi quy tuyến tính giữa thiếu máu và thiếu

năng lượng trường diễn với một số chất dinh dưỡng trong khẩu phần

Giá trị dinh dưỡng khẩu phần

(Đơn vị/ngày)

Thiếu máu

CED

Năng lượng <1500Kcal

2,1 (1,1-3,8)*

2,9 (1,5-5,4)a

Protein đv <10g

2,5 (1,0-4,1)*

0.8 (0,2-1,8)c

Fe <5mg

3,6 (1,8-7,3)b

2,2 (1,2-3,9)*

Acid folic <200µg

2,7 (1,5-4,6)a

1,1 (0,3-2,0)c

Zn <5mg

1,3(0,7-1,9)

(NS)


0,9(0,5-1,4)

(NS)


Số liệu biểu thị bằng OR (CI- 95%); * p<0,05; ap<0,01; bp<0.001; c NS (không có ý nghĩa)

Bảng 3.16 cho thấy thiếu máu có tương quan ý nghĩa với một số giá trị dinh dưỡng thấp trong khẩu phần thực tế như tiêu thụ năng lượng <1500Kcal, protein động vật < 10g, sắt khẩu phần <5mg và acid folic < 200mcg.

Không thấy mối tương quan ý nghĩa giữa thiếu máu với kẽm khẩu phần thấp và tuổi đối tượng.

Thiếu năng lượng trường diễn cũng có tương quan ý nghĩa với tuổi của đối tượng, năng lượng tiêu thụ thấp <1500Kcal, sắt khẩu phần <5mg. Không thấy tương quan ý nghĩa giữa TNLTD và kẽm, folate khẩu phần.




    1. HIỆU QUẢ CẢI THIỆN TÌNH TRẠNG THIẾU MÁU THIẾU SẮT, THIẾU KẼM VÀ ACID FOLIC Ở NỮ CÔNG NHÂN LỨA TUỔI SINH ĐẺ SAU KHI SỬ DỤNG MỲ ĂN LIỀN SẢN XUẤT TỪ BỘT MỲ TĂNG CƯỜNG VI CHẤT.

      1. Đặc điểm của các đối tượng tại thời điểm điều tra ban đầu

Bắt đầu nghiên cứu có 148 đối tượng được chọn. Chia ra làm 3 nhóm: Nhóm chứng FOLIC có 49 đối tượng, nhóm ăn mỳ ăn liền bổ sung vi chất chứa sắt ELEC 49 đối tượng và nhóm ăn mỳ ăn liền bổ sung vi chất chứa sắt FUMARATE 50 đối tượng. Kết thúc 6 tháng can thiệp, 16 đối tượng (10,8%) không được đưa vào thống kê với các lý do: 5 đối tượng có thai khi đang can thiệp, 7 đối tượng bỏ bữa trên 15 ngày, 4 đối tượng không đồng ý cho lấy máu lần 2, còn lại 132 đối tượng được phân tích. Số đối tượng còn lại của từng nhóm như sau: FOLIC (n=45), ELEC (n=43), FUMA (n=44). Các đối tượng bị loại không ảnh hưởng đến kết quả của phân tích.

Bảng 3.17: Đặc điểm về tuổi, chỉ số nhân trắc của tại thời điểm

điều tra ban đầu

Đặc điểm

FOLIC (n=45)

ELEC (n=43)

FUMA (n=44)

Tuổi (năm)

24,7 4,2

23,34,3

23,2 4,3

Cân nặng (kg)

43,54,1

44,44,7

44,94,7

Chiều cao (cm)

152,65,1

151,44,7

152,54,4

BMI

18,72,1

19,31,6

19,41,9

Số liệu biểu thị bằng X ± SD

p>0,05 giữa các nhóm, ANOVA test cho các số liệu trung bình.

Bảng 3.17 cho thấy độ tuổi trung bình ở các nhóm chứng FOLIC, nhóm ELEC và nhóm FUMA tại thời điểm can thiệp lần lượt là 24,7 4,2; 23,34,3 và 23,2 4,3. Không có sự khác biệt có ý nghĩa về tuổi giữa 3 nhóm tại thời điểm bắt đầu can thiệp (p > 0,05).

Tương tự, số liệu về cân nặng, chiều cao và chỉ số khối cơ thể BMI tại thời điểm bắt đầu can thiệp, so sánh giữa 3 nhóm tại thời điểm T0, không có sự khác biệt về cân nặng trung bình, chiều cao trung bình và chỉ số khối cơ thể trung bình giữa các nhóm nghiên cứu (p>0,05).

Bảng 3.18: Đặc điểm một số chỉ số sinh hóa tại thời điểm T0


Chỉ số

FOLIC (n=45)

ELEC (n=43)

FUMA (n=44)

Hemoglobin (g/L)

108,27,6

108,011,0

108,78,0

Ferritin (ng/mL)

34,023,4

33,723,0

33,925,0

Homocystein (mol/L)

7,41,1

7,70,9

7,51,2

Zn (g/dL)

77,719,6

78,317,3

77,818,8

Số liệu biểu thị bằng X ± SD

p>0,05 giữa các nhóm, ANOVA test

Kết quả bảng 3.18 cho thấy chỉ số sinh hóa ở cả 3 nhóm cũng khá tương đồng. Không có sự khác biệt về nồng độ Hb, Ferritin huyết thanh, Homocystein huyết tương và kẽm huyết thanh trung bình ở các nhóm can thiệp.



      1. Hiệu quả của 6 tháng can thiệp (T0 - T6)

        1. Hiệu quả can thiệp đến các chỉ số nhân trắc.

Bảng 3.19: Hiệu quả của can thiệp đến các chỉ số nhân trắc




FOLIC

(n=45)

ELEC

(n=43)

FUMA (n=44)

Cân nặng T6 (kg)

44,54,3

46,14,4

47,25,2

Tăng cân (T6-T0)

1,042,19

1,721,98

2,32,5*a

BMI T6

19,22,1

20,01,6

20,01,9

Tăng BMI(T6-T0)

0,440,93

0,660,73a

0,700,87

Số liệu biểu thị bằng X ± SD

*p<0,05 vs. nhóm CTR; ap<0,05 vs T0 cùng nhóm

Bảng 3.19 cho thấy nhóm FUMA có sự tăng cân ý nghĩa so với trước can thiệp (+2,3kg; p<0,05) và tăng nhiều hơn so với nhóm FOLIC (p<0,05); cả hai nhóm FOLIC và ELEC không thấy có sự thay đổi rõ rệt. Tuy nhiên sự thay đổi về cân nặng ở nhóm FUMA chưa đủ làm thay đổi về chỉ số BMI của nhóm này. Ở cả 3 nhóm đều không có đối tượng nào bị thừa cân, béo phì sau can thiệp.



        1. Hiệu quả can thiệp đến các chỉ số sinh hóa.

Bảng 3.20 cho thấy có sự khác biệt ý nghĩa giữa các nhóm khi kết thúc nghiên cứu:

Về tình trạng thiếu máu: nồng độ Hb của cả 3 nhóm đều tăng lên có ý nghĩa sau 6 tháng can thiệp, tuy nhiên nhóm FOLIC uống viên sắt/folic hàng tuần tăng nhiều nhất (+18,2g/L, p<0,001), sau đó đến nhóm FUMA- sắt Fumarate (+11,7g/L; p<0,001) và cuối cùng là nhóm ELEC- sắt Electrolytic (+6,4g/L; p<0,05).

Bảng 3.20. Hiệu quả của can thiệp đến các chỉ số sinh hóa







FOLIC(n=45)

ELEC (n=43)

FUMA(n=44)

T6

Hemoglobin (g/L)

125,27,9

115,611,3

120,16,5

Ferritin (ng/mL)

51,227,7

38,121,4

45,126,6

Homocystein(mol/L)

6,51,04

8,21,2

8,31,5

Zn(g/dL)

77,218,3

92,517,3

95,820,1

Tăng

T6 – T0

Tăng Hb

18,29,0c

6,49,4***,a

11,710,5**#c

Tăng Ferritin

17,220,1b

4,311,4**

11,225,4a

Tăng Homocystein

-0,91,2b

0,51,2***

0,81,8***

Tăng Zn

-0,514,9

14,214,4***c

18,016,8***c

Số liệu biểu thị bằng XSD

*p<0,05, **p<0,01, ***p<0,001 so với nhóm FOLIC; #p<0,05 so với nhóm ELEC; ap<0,05; bp<0,01; cp<0,001 giữa T0 so với T6 cùng nhóm

Thay đổi về Ferritin huyết thanh so với trước can thiệp cũng được quan sát thấy: nhóm FOLIC tăng nhiều nhất (+17,2ng/mL; p<0,01), FUMA (+11,2ng/mL; p<0,05), và không khác biệt cho nhóm ELEC (+4,3ng/mL; p>0,05).

Về tình trạng Folate thông qua chỉ số Homocystein: chỉ nhóm FOLIC uống viên sắt Folate hàng tuần có sự cải thiện tốt hơn ý nghĩa so với trước can thiệp (p<0,01) và so với 2 nhóm ăn mỳ ăn liền (p<0,001); Hai nhóm ăn mỳ ăn liền không thấy có sự cải thiện ý nghĩa về nồng độ Homocystein.

Tình trạng kẽm qua chỉ số kẽm huyết thanh: nồng độ kẽm của hai nhóm ăn mỳ ăn liền đều tăng lên có ý nghĩa (p<0,001) so với khi bắt đầu can thiệp; tăng nhiều nhất là nhóm FUMA (+18(g/dL), sau đó đến nhóm ELEC(+14,2g/dL); trong khi nhóm FOLIC uống viên sắt/acid folic hàng tuần không có sự gia tăng về nồng độ kẽm huyết thanh.


Biểu đồ 3.4. Thay đổi Hb (g/L), tăng FeR (ng/ml) sau 6 tháng can thiệp.

Biểu đồ 3.4 cho thấy tình trạng tăng nồng độ Hemoglobin huyết thanh và ferritin huyết thanh ở nhóm FOLIC tăng nhiều nhất, sau đó là nhóm FUMA rồi mới đến nhóm ELEC.



Biểu đồ 3.5 Thay đổi Homocystein (mcmol/L) sau 6 tháng can thiệp

Biểu đồ 3.6. Thay đổi Zn (mcg/dL) sau 6 tháng can thiệp

Biểu đồ 3.5 cho thấy sau 6 tháng can thiệp chỉ số Homocystein chỉ ở nhóm FOLIC uống viên sắt Acid folic hàng tuần có sự cải thiện tốt hơn ý nghĩa so với trước can thiệp (p<0,01) và so với 2 nhóm ăn mỳ ăn liền (p<0,001); Hai nhóm ăn mỳ ăn liền không thấy có sự cải thiện ý nghĩa về nồng độ Homocystein. Trong khi đó, nồng độ kẽm của hai nhóm ăn mỳ ăn liền đều tăng lên có ý nghĩa (p<0,001) so với khi bắt đầu can thiệp; tăng nhiều nhất là nhóm FUMA (+18mcg/dL), sau đó đến nhóm ELEC(+14,2mcg/dL), còn nhóm FOLIC uống viên sắt/acid folic hàng tuần không có sự gia tăng về nồng độ kẽm huyết thanh.



Bảng 3.21: Hiệu quả can thiệp đến thay đổi tỷ lệ CED của các nhóm nghiên cứu.




FOLIC (n=45)

ELEC (n=43)

FUMA (n=44)

BMI<18,5(T0)

17 (37,8)

18 (41,9)

18 (40,9)

BMI<18,5(T6)

18 (40,0)

17 (39,5)

17 (38,6)

Chỉ số hiệu quả (%)

-2,2

2,4

2,3

Số liệu biểu thị bằng n (%);

Bảng 3.21 cho thấy chỉ số hiệu quả (%) của 3 nhóm FOLIC, ELEC và FUMA lần lượt là -2,2 %; 2,4% và 2,3 %. Không có sự thay đổi ý nghĩa về tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn (BMI<18,5) giữa trước và sau nghiên cứu của cả 3 nhóm.

Không có đối tượng nào có BMI ở mức thừa cân béo phì ( BMI≥25) khi kết thúc nghiên cứu.

Bảng 3.22: Hiệu quả can thiệp đến thay đổi tỷ lệ thiếu máu của

các nhóm nghiên cứu.





FOLIC (n=45)

ELEC (n=43)

FUMA (n=44)

Hb<120g/L(T0)

45 (100)

43 (100)

44(100)

Hb<120g/L(T6)

12 (26,7)

17(39,5)

15(34,1)

Chỉ số hiệu quả (%)

73,3

60,5

65,9

Số liệu biểu thị bằng n(%)

Bảng 3.22 cho thấy hiệu quả giảm tỷ lệ thiếu máu cao nhất ở nhóm uống viên sắt/acid folic hàng tuần (73,3%), sau đó đến nhóm ăn mỳ ăn liền có sắt Fumarate (65,9%), và cuối cùng là nhóm mỳ ăn liền có sắt Electrolytic (60,5%).



Biểu đồ 3.7. Chỉ số hiệu quả của can thiệp đến tỷ lệ thiếu máu, thiếu kẽm.

Biểu đồ 3.7 cho thấy giảm tỷ lệ thiếu máu cao nhất ở nhóm uống viên sắt/ acid folic hàng tuần (73,3%), sau đó đến nhóm ăn mỳ ăn liền có sắt Fumarate (65,9%), và cuối cùng là nhóm mỳ ăn liền có sắt Electrolytic (60,5%). Trong khi đó, hiệu quả của kẽm bổ sung vào bột mỳ thấy rõ nhất ở nhóm FUMA (25%), nhóm ELEC 23,3% và hầu như không hiệu quả ở nhóm FOLIC (2,2%).



Bảng 3.23: Hiệu quả can thiệp đến thay đổi tỷ lệ thiếu vi chất của

các nhóm nghiên cứu.




FOLIC

(n=45)

ELEC (n=43)

FUMA (n=44)

Dự trữ sắt cạn kiệt (T0)

19 (42,2)

19 (44,2)

20(45,5)

Dự trữ sắt cạn kiệt (T6)

5 (11,1)

12 (27,9)

9(20,5)

Chỉ số hiệu quả (%)

31,1

13,3

25,0

Thiếu kẽm (T0)

14(31,1)

15(34,9)

15(34,1)

Thiếu kẽm (T6)

13(28,9)

5(11,6)

4(9,1)

Chỉ số hiệu quả (%)

2,2

23,3

25,0

Số liệu biểu thị bằng n(%);

T0: khi bắt đầu nghiên cứu; T6: kết thúc 6 tháng can thiệp

Bảng 3.23 cho thấy có sự khác biệt giữa 3 nhóm nghiên cứu về khuynh hướng thay đổi các tỷ lệ thiếu vi chất dinh dưỡng:

Hiệu quả về dự trữ sắt của cơ thế, tỷ lệ dự trữ sắt cạn kiệt giảm được 31,1% ở nhóm FOLIC, 25% ở nhóm FUMA và 13,3% ở nhóm ELEC.

Hiệu quả của kẽm bổ sung vào bột mỳ thấy rõ nhất ở nhóm FUMA (25%), nhóm ELEC (23,3%) và hầu như không hiệu quả ở nhóm FOLIC (2,2%).



CHƯƠNG 4

BÀN LUẬN

    1. VỀ GIÁ TRỊ DINH DƯỠNG, ĐẶC TÍNH CẢM QUAN CỦA MỲ ĂN LIỀN ĐƯỢC SẢN XUẤT TỪ BỘT MỲ TĂNG CƯỜNG VI CHẤT.

Mỳ ăn liền là sản phẩm quan trọng được chế biến từ bột mỳ, được mọi tầng lớp nhân dân tiêu thụ, nhất là các vùng nông thôn nghèo, do vậy đề tài đã tiến hành đánh giá sự thay đổi các vi chất này ở mỳ ăn liền chế biến từ bột mỳ tăng cường vi chất.

Nghiên cứu cho thấy bổ sung vi chất vào bột mỳ đã nâng cao rõ rệt giá trị dinh dưỡng các vitamin và chất khoáng đang bị thiếu hiện nay (Fe, Zn, Folic). Kiểm tra hàm lượng sau bổ sung cho thấy hàm lượng Fe và Zn đạt mức mong muốn, tuy nhiên hàm lượng acid folic có xu hướng thấp hơn. Một số báo cáo của Chile, Trung Quốc cũng thấy xu hướng giảm nhanh của acid folic sau khi được tăng cường vào bột mỳ, tỷ lệ này giảm 5-10% trong tháng đầu tiên, giảm 40-50% sau khi được chế biến thành bánh mỳ, mỳ sợi… chính vì lý do này mà gần đây WHO/FAO có khuyến nghị nâng cao gấp đôi mức acid folic khuyến nghị so với trước đây để bù lại những hao hụt này [78].

Kết quả đánh giá cho thấy ngay sau sản xuất, các hàm lượng vi chất đã giảm ý nghĩa 30% so với hàm lượng trong bột mỳ. Tỷ lệ giảm này trước hết là trong quy trình phối trộn bột làm mỳ ăn liền, khoảng 25% bột và gia vị khác đã được thêm vào làm tăng giá trị cảm quan, mặt khác tỷ lệ trương nở của mỳ sợi khoảng 1,2 -1,4 lần so với bột mỳ cũng làm giảm hàm lượng vi chất tăng cường theo khối lượng. Tuy vậy nếu ước tính một ngày tiêu thụ 1-2 gói mỳ ăn liền, tức 50-100 g mỳ ăn liền cũng đã cung cấp thêm một lượng đáng kể (30-50% nhu cầu) sắt, kẽm, folic cho cơ thể [3], [58].

Khi theo dõi theo thời gian bảo quản 3 tháng, 6 tháng thì thấy hàm lượng Fe/Zn khá ổn định - ít thay đổi, tuy nhiên hàm lượng acid folic giảm nhiều: sau 3 tháng chỉ còn khoảng 21% so với ngay sau sản xuất và hầu như mất toàn bộ sau 6 tháng sản xuất. Quan sát này rất quan trọng khi dùng mỳ ăn liền để làm tăng lượng Fe/Zn trong khẩu phần ăn, tuy nhiên tình trạng Folate sẽ không cải thiện tốt nếu lượng acid folic thấp. Về các chỉ số vi sinh vật: 6 loại được Bộ Y Tế quy định cho thực phẩm dạng ngũ cốc chế biến đều đạt yêu cầu trong thời gian bảo quản 3 tháng, 6 tháng từ ngày sản xuất [1].

Kết quả phân tích của chúng tôi còn cho thấy, hàm lượng lipid trong mỳ ăn liền tăng cao hơn gấp khoảng 20 lần so với bột mỳ, sự gia tăng này là do đặc điểm của qui trình sản xuất mỳ ăn liền, với bề mặt tiếp xúc lớn, công đoạn chiên dầu đã đưa thêm 20% trọng lượng là dầu. Tăng lipid cũng có mặt lợi nhưng cũng có mặt hại: điểm lợi là đã tăng thêm một giá trị năng lượng đáng kể (20g/100g, tương đương 180 Kcal/2 gói mỳ ăn liền), quan trọng cho đa số người dân sống ở vùng nghèo; điểm không tốt là lượng dầu cao dễ gây hiện tượng oxy hóa, ôi khét... khó bảo quản. Các loại mỳ ăn liền thông thường hiện nay trên thị trường có ghi thời hạn bảo quản 3 tháng hoặc 6 tháng kể từ ngày sản xuất; theo kết quả của chúng tôi, nếu là mỳ ăn liền tăng cường vi chất, nên chọn thời hạn sử dụng tốt nhất trong thời gian 3 tháng kể từ ngày sản xuất.

Đánh giá đặc tính cảm quan cũng như chấp nhận sản phẩm trên cộng đồng cho thấy mỳ ăn liền tăng cường vi chất đều có số điểm khá cao, thuộc mức khá (17,8-17,9 điểm/điểm tối đa 20), cũng như không gây rối loại tiêu hóa trong thời gian tiêu thụ. Hầu hết các đối tượng cho rằng mỳ ăn liền dễ ăn, ngon miệng, 90% ăn hết xuất (2 gói/bữa), một số ăn hết 2/3 xuất hoặc ½ xuất (1gói 50g) vì lý do không quen ăn nhiều hoặc thói quen ăn ít hàng ngày.

Quy định năm 2008 của Bộ Y Tế chưa đưa ra tiêu chuẩn peroxyd cho mỳ ăn liền, một chỉ tiêu mà chúng tôi cho là rất quan trọng, do có công đoạn chiên dầu đã thêm 15-20% lượng lipid, vừa có tác dụng bảo quản, tăng giá trị cảm quan, nhưng cũng dễ bị peoxyd hóa gây độc cho người sử dụng. Ngoài chỉ số peoxyd, Bộ Y Tế cũng cần quy định về việc dùng loại dầu nào, hạn chế loại Trans Fat là loại dầu không tốt cho sức khỏe, cũng như quy định ghi nhãn, nêu rõ hàm lượng chất béo bão hòa, Trans Fat trên nhãn của mỳ ăn liền.

Trong số các vi chất tăng cường vào bột mỳ, sử dụng sắt từ hợp chất nào, liều lượng bao nhiêu là vấn đề phức tạp và gây thảo luận nhiều nhất trong các hội nghị khoa học. Một số loại sắt được khuyến nghị như sau: [138]

Ferrous sulffate và ferrous fumarate dạng khô: khi lượng bột mỳ tiêu thụ >200g/người/ngày thì hàm lượng tăng cường là 30ppm (Fe nguyên tố); khi lượng bột mỳ tiêu thụ <200g/người/ngày thì hàm lượng tăng cường là 40ppm (Fe nguyên tố).

Sắt Electroytic (điện phân) cũng được khuyến nghị, với ưu điểm tốt hơn về cảm quan: khi lượng bột mỳ tiêu thụ >200g/người/ngày thì hàm lượng tăng cường là 60ppm (Fe nguyên tố); khi lượng bột mỳ tiêu thụ <200g/người/ngày thì hàm lượng tăng cường là 90ppm (Fe nguyên tố).

Sắt EDTA (NaFeEDTA) cũng được khuyến nghị sử dụng cho các loại sản phẩm bột mỳ không lên men, với liều lượng 30ppm Fe nguyên tố. [74], [94], [96]

Lý do khuyến nghị liều như trên là căn cứ vào mức độ hấp thu và nhu cầu Fe của quần thể, nhằm đạt được khoảng 6mg Fe/ngày từ các hợp chất sắt kể trên, với lượng tiêu thụ bột mỳ khoảng 200g/ngày.

Tại Việt Nam, một số điều tra cho thấy lượng tiêu thụ bột mỳ trung bình vào khoảng 75-150g/ngày, với tỷ lệ tiêu thụ sản phẩm bột mỳ khoảng 30% dân số/ngày [14]. Do vậy liều khuyến nghị của bộ Y tế về tăng cường 5 vi chất đã dựa vào các bằng chứng khoa học trên đây.


    1. : FileUpload -> Documents
      Documents -> BỘ khoa học và CÔng nghệ
      Documents -> HÀ NỘI – 2013 BỘ giáo dụC ĐÀo tạo bộ y tế viện dinh dưỠNG
      Documents -> Phụ lục về cấp hạng khách quốc tế
      Documents -> CỘng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam qcvn 01 78: 2011/bnnptnt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia thứC Ăn chăn nuôi các chỉ tiêu vệ sinh an toàn và MỨc giới hạn tốI Đa cho phép trong thứC Ăn chăn nuôI
      Documents -> TỔng cục dạy nghề
      Documents -> BỘ giáo dụC ĐÀo tạo bộ y tế viện dinh dưỠng nguyễn thị thanh hưƠng thực trạng và giải pháP
      Documents -> Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o bé y tÕ ViÖn dinh d­ìng Ph¹m hoµng h­ng HiÖu qu¶ cña truyÒn th ng tÝch cùc ®Õn ®a d¹ng ho¸ b÷a ¨n vµ
      Documents -> TỜ khai xác nhận viện trợ HÀng hóA, DỊch vụ trong nưỚC
      Documents -> Phụ lục I mẫU ĐƠN ĐỀ nghị ĐĂng ký LƯu hàNH


1   2   3   4   5   6   7   8   9


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương