BỘ giáo dục và ĐÀo tạo bộ y tế trưỜng đẠi học y hà NỘI



tải về 0.49 Mb.
trang3/4
Chuyển đổi dữ liệu05.08.2016
Kích0.49 Mb.
1   2   3   4

PHẦN 4: BÀN LUẬN



4.1. Về tuổi và giới:

Bệnh nhân trong cả hai nhóm nghiên cứu của chúng tôi có tuổi thấp nhất là 40 và tuổi cao nhất là 80, tuổi trung bình là 60.

Lứa tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất là 60 -> 75: chiếm 46,7% ở nhóm I và 53,2% ở nhóm II.

Kết quả này phù hợp với một số tác giả trong và ngoài nước:

Theo Lê Văn Thính thấy rằng tuổi từ 45 trở lên chiếm tỉ lệ cao 86% [18].

Theo thống kê tình hình TBMMN tại khoa thần kinh bệnh viện Bạch Mai từ 1997 - 2000 cho thấy lứa tuổi từ 46 trở lên chiếm tỉ lệ 68,7%.

Theo các tài liệu nước ngoài, các tác giả đều thấy tuổi là yếu tố quan trọng nhất đối với TBMMN [32],[40],[47]: Tỷ lệ TBMMN tăng lên cùng với tuổi và nói chung ít xẩy ra trước 40 tuổi. Hầu hết TBMMN xẩy ra ở người trên 65 tuổi.

Trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 10% số bệnh nhân trên 75 tuổi ở nhóm I và 9,3% ở nhóm II. Tỷ lệ này thấp hơn ở nhóm tuổi 60->75. Có lẽ do cỡ mẫu của chúng tôi chưa đủ lớn và cũng có thể do quan niệm TBMMN là cách kết thúc cuộc sống của người cao tuổi nên bệnh nhân ít được đưa đến viện.

Về giới: Trong nhóm nghiên cứu (nhóm I) nam giới chiếm 53,3%, nữ giới chiếm 46,7%; tỉ lệ nam/nữ  1,2. Trong nhóm chứng (nhóm II) nam giới chiếm 59,4%, nữ giới chiếm 40.6%; tỉ lệ nam/nữ  1,5.

Theo Nguyễn Văn Đăng [15] tỉ lệ nam/nữ = 1,48.

Như vậy, trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ mắc bệnh ở nam cao hơn ở nữ tuy nhiên vẫn không có ý nghĩa thống kê. Điều này có thể được lý giải phần nào bởi vì nam giới có thói quen hút thuốc lá, uống rượu nhiều hơn nữ giới, mà hút thuốc lá lại làm thúc đẩy nhanh quá trình xơ vữa mạch máu từ đó dẫn đến TBMMN.
4.2. Phân bố bệnh nhân theo định khu tổn thương bên liệt trên lâm sàng:

Trong hai nhóm cùng nghiên cứu với 62 bệnh nhân thì tỉ lệ liệt bên phải và bên trái là tương đương nhau. ở nhóm I tỉ lệ liệt bên phải/bên trái = 16/14 (n=30); ở nhóm II tỉ lệ này là 15/17 (n=32).

Theo Trần Văn Chương thấy rằng tỉ lệ liệt nửa người phải là 53%; liệt nửa người trái là 47% [3].

Theo Nguyễn Thuỳ Hương [20] cho biết liệt nửa người phải chiếm 51,05%; liệt nửa người trái là 48,95%.

Theo Vũ Bích Hạnh [22], tỷ lệ liệt nửa người bên phải cao hơn bên trái với tỷ lệ 2/1.

Như vậy theo nghiên cứu của chúng tôi không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05) đối với định khu tổn thương bên liệt trên lâm sàng.


4.3. Phân bố bệnh nhân theo nguyên nhân liệt nửa người:

Trong nghiên cứu của chúng tôi, số bệnh nhân xuất huyết não chiếm tỉ lệ thấp: 26,7% ở nhóm I và 28,1% ở nhóm II. Kết quả này cũng phù hợp với các kết quả của các nghiên cứu khác.

Theo tiểu ban TBMMN của hiệp hôi thần kinh học của các nước Đông Nam Á nhồi máu não chiếm tỉ lệ 64,5%, chảy máu não chiếm tỉ lệ 21,3%, chảy máu dưới nhện 3,1% và không rõ loại gì là 10% [18].

Theo Orgogozo, 80% tai biến là nhồi máu não và 20% là xuất huyết não[26].

Theo Clarke (1998), có 88% tai biến là nhồi máu não, trong đó 48% thuộc loại nhẹ, 36% thuộc loại trung bình và 16% thuộc loại nặng. [26]

Theo Trần Văn Chương nhồi máu não chiếm 79,1%; chảy máu não chiếm 20,9%.

Nhưng theo kết quả của Nguyễn Văn Đăng (1997), tỉ lệ chảy máu não và nhồi máu não của bệnh nhân nội trú ở bệnh viên Bạch Mai là: 1/2; ở bệnh viên Trung Ương Huế là 1/2,4 [15]. Có sự khác nhau như vậy có lẽ do cỡ mẫu của chúng tôi chưa đủ lớn, hơn nữa trong tiêu chuẩn lựa chọn bệnh nhân của chúng tôi, bệnh nhân phải tỉnh táo hoàn toàn; còn trong chảy máu não diễn biến đột ngột cấp tính, rối loạn ý thức nên không nằm trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu này.

Như vậy, cũng như kết quả của các nghiên cứu khác, nghiên cứu của chúng tôi thấy rằng: nguyên nhân liệt nửa người chủ yếu vẫn là do nhồi máu não.


4.4.Thời gian từ khi đột quỵ đến khi bắt đầu được tập luyện PHCN:

Trong nghiên cứu của chúng tôi: theo bảng 3.12 thì 60% bệnh nhân được PHCN trong 6 tuần đầu sau đột quỵ; 23,3% từ 7 -> 12 tuần và 16,7% sau 12 tuần.

Như ta đã biết rằng, thời gian từ khi bị đột quỵ đến khi được tập luyện PHCN càng sớm thì bệnh nhân càng có nhiều khả năng lấy lại được mẫu vận động tốt và độc lập trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, rút ngắn thời gian điều trị và mang lại lợi ích cho bệnh nhân.

Theo Phạm Khuê [21] : Khả năng PHCN trong vòng một tháng đối với 1/3 bệnh nhân, còn lại đa số chỉ phục hồi ít sau 6 tháng.

Trong một nghiên cứu mới đây của Nguyễn Thị Thanh Bình theo dõi 40 bệnh nhân bị TBMMN thì thời gian trung bình từ khi bị tai biến đến khi được PHCN là 19,33 ngày [12].

Theo Okamusa.T nghiên cứu trên 113 bệnh nhân thì thời gian trung bình là 52 ngày[48].

Theo Trần Quốc Đạt, không có bệnh nhân nào đến muộn quá 20 ngày [12]

Như vậy so với kết quả các nghiên cứu khác, trong nghiên cứu của chúng tôi số bệnh nhân đến viện sau 12 tuần còn cao (16,7%). Đặc biệt có 1 bệnh nhân đến viện sau 1 năm bị đột quỵ. Bởi vì nhiều bệnh nhân chỉ điều trị TBMMN một thời gian ngắn tai bệnh viện sau đó về nhà tự tập luyện. Sau một thời gian dài thấy không có kết quả gia đình mới đưa bệnh nhân đến viện để tập luyện PHCN.


4.5.Thời gian tập luyện PHCN:

Trong nghiên cứu của chúng tôi, số bệnh nhân được tập luyện PHCN tại viện trên 4 tuần chiếm tỉ lệ cao (66,7%).

Kết quả này cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Trần Văn Chương [4], thời gian tập luyện trên 4 tuần là 67,8%.

Theo đánh giá của Trần Quốc Đạt thì đa số bệnh nhân được tập luyện tại viện trong vòng 1 tháng [12] .

Chúng tôi chưa thấy tài liệu nào đề cập đến vấn đề thời gian và mức độ tập luyện PHCN bao nhiêu là đủ. Thời gian tập luyện phụ thuộc vào tiến triển của bệnh nhân, có người cần vài tuần, người khác lại cần vài tháng, có những bệnh nhân thậm chí lại phải tập luyện suốt đời. Có một số bệnh nhân cho dù được tập luyện nhưng có thể khả năng vận động của họ vẫn không được phục hồi, tuy nhiên nếu không được tập luyện thường xuyên thì chắc chắn tình trạng bệnh nhân sẽ nặng lên, từ chỗ giảm khả năng người bệnh có thể vĩnh viễn trở thành người tàn tật.

Mức độ tập luyện đối với mỗi bệnh nhân như thế nào là đủ cũng tuỳ thuộc vào tình trạng cụ thể của họ, nếu tập luyện không đủ thì kết quả phục hồi sẽ kém đi nhưng tập luyện quá mức thì tình trạng bệnh nhân có thể nặng lên.

Nghiên cứu của chúng tôi được tiến hành tại bệnh viện tuyến trung ương, có đầy đủ trang thiết bị và dụng cụ cho bệnh nhân tập luyện, nhưng vì số bệnh nhân quá đông nên chỉ tiến hành tập luyện tại viện cho bệnh nhân trong một thời gian ngắn, còn lại sau đó phải gửi bệnh nhân về tuyến cơ sở hoặc hướng dẫn cho gia đình tự tập ở nhà.


4.6.Sự liên quan giữa tuổi đối với kết quả PHCN sinh hoạt hàng ngày:

Đánh giá ban đầu cho thấy, đa số bệnh nhân ở các nhóm tuổi đều có thiếu sót thần kinh khi mới vào viện. Sau 3 tháng, bệnh nhân ở nhóm tuổi 45 -> 59 ở cả hai nhóm I và II đều có kết quả phục hồi tốt về mức độ thiếu sót thần kinh so với các nhóm tuổi khác (80% và 36,4%). Đặc biệt là nhóm tuổi trên 75 thì khả năng phục hồi là rất kém, có tới 66,7% ở cả hai nhóm là không đạt kết quả.

Về sự liên quan giữa tuổi và kết quả PHCN có nhiều ý kiến khác nhau. Đa số các tác giả đều cho rằng tuổi có ảnh hưởng nhiều đến kết quả PHCN [4] [26] [35], nhưng một số tác giả lại cho rằng tuổi không có ảnh hưởng nhiều đến kết quả PHCN.

Theo nghiên cứu của Trần Văn Chương, khả năng phục hồi vận động của bệnh nhân liệt nửa người do TBMMN phụ thuộc vào tuổi của người bệnh, các bệnh nhân dưới 50 tuổi phục hồi tốt hơn bệnh nhân trên 50 tuổi [4].

Theo Phạm Văn Phú, mức độ độc lập hoàn toàn trong sinh hoạt hàng ngày ở nhóm trẻ tuổi cao hơn nhóm người cao tuổi và ngược lại mức độ phụ thuộc hoàn toàn ở nhóm cao tuổi lớn hơn nhóm trẻ tuổi [26].

Theo Bernspang.B và cộng sự thấy không có sự khác nhau quan trọng giữa các mức độ hồi phục khiếm khuyết vận động trong các lứa tuổi.[35]

Như vậy, trong nghiên cứu của chúng tôi tuổi có ảnh hưởng đến kết quả phục hồi về mức độ thiếu sót thần kinh. Bệnh nhân trẻ tuổi có kết quả phục hồi về mức độ thiếu sót thần kinh tốt hơn so với tuổi già.
4.7.Sự liên quan giữa thời gian và kết qủa PHCN các sinh hoạt hàng ngày

Nhìn vào bảng 3.13 và 3.14 đánh giá tại thời điểm ban đầu và sau 30 ngày, sau 60 ngày ở cả nhóm I và nhóm II thì kết quả về mức độ thiếu sót thần kinh theo chỉ số Barthel là không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05). Nhưng sau 90 ngày thì kết quả về mức độ thiếu sót thần kinh lại có sự khác biệt rõ ở nhóm I (p<0,05) và không có sự khác biệt ở nhóm II (p>0,05).

Về sự liên quan giữa thời gian và kết quả PHCN có nhiều ý kiến khác nhau. Nghiên cứu của Dombovy M.L thấy rằng trong 3 tháng đầu hầu như không có sự phục hồi về thần kinh [26].

Newman theo dõi 39 bệnh nhân thấy rằng 80% chức năng được hồi phục trong vòng 6 tuần và hồi phục tiếp trong vòng 12 tuần sau tai biến [26].

Theo nghiên cứu của Vũ Bích Hạnh thấy rằng có mối tương quan chặt chẽ giữa mức độ liệt và thời gian liệt với kết quả PHCN: Đối với bệnh nhân liệt không hoàn toàn sẽ phục hồi sớm, thời gian tập đi trung bình là 16 ngày. Nếu bị liệt hoàn toàn dưới 10 ngày thì thời gian tập đi trung bình là 40 ngày [12].

Trong nghiên cứu của chúng tôi thời gian tập luyện có ảnh hưởng đến kết quả PHCN trong sinh hoạt hàng ngày, sau 90 ngày kết quả PHCN sinh hoạt hàng ngày mới thể hiện rõ.


4.8.Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng phục hồi

Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng, khả năng phục hồi của bệnh nhân phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, các yếu tố này đều có sự liên quan với nhau. Ngoài những yếu tố như: Thời gian bắt đầu được phục hồi, tuổi thì còn có những yếu tố khác ảnh hưởng đến khả năng phục hồi của bệnh nhân:

Kotila.M[26] thấy rằng rối loạn về tâm lí thần kinh và khiếm khuyết về tri giác, thị giác có ảnh hưởng lớn đến kết quả hồi phục. Nghiên cứu của ông cho thấy vào thời gian 3 tháng có 60% bệnh nhân bị khiếm khuyết về tri giác, thị giác; trong đó có 61% độc lập về sinh hoạt hàng ngày, trong khi đó nhóm không có khiếm khuyết về tri giác, thị giác sau 3 tháng có 92,3% bệnh nhân được độc lập trong sinh hoạt hàng ngày. Rối loạn về tâm lí thần kinh (sự thông minh, trí nhớ) có ảnh hưởng quan trọng lên khả năng hồi phục của TBMMN. Sự cải thiện về tâm lí thần kinh song song với sự cải thiện về khiếm khuyết thần kinh. Tác giả thấy rằng cao huyết áp không có ảnh hưởng đến kết quả hồi phục.

Trong nghiên cứu của Finnish [26] thì tăng huyết áp không có sự tương quan nào với hoạt động sinh hoạt hàng ngày. Tác giả nhận thấy rằng, mặc dù mức độ hôn mê là một yếu tố tiên lượng quan trọng cho sự sống còn của bệnh nhân nhưng không có ảnh hưởng nhiều lên khả năng hồi phục của những bệnh nhân còn sống sau 3 tháng.

Theo Wyller T.B [54], thì sự mất tự chủ về tiểu tiện (rối loạn cơ tròn) kéo dài 7 – 10 ngày sau TBMMN là một yếu tố tiên lượng quan trọng nhất cho sự sống còn và sự hồi phục của bệnh nhân. Đối với bệnh nhân mất tự chủ về tiểu tiện thì tất cả các chức năng khác trong sinh hoạt hàng ngày đều phải phụ thuộc hoàn toàn. Trong nghiên cứu của chúng tôi vào thời điểm lúc vào viện chỉ có 1 bệnh nhân ở nhóm I và 5 bệnh nhân ở nhóm II là có rối loạn tiểu tiện, nhưng sau 1 tháng tất cả các bệnh nhân đều tiểu tiện bình thường.

Theo Paciaroni.M [15], thấy rằng tăng Lipid máu có liên quan rõ rệt với khả năng hồi phục. Ngoài ra môi trường sống của bệnh nhân và sự quan tâm của gia đình cũng có ảnh hưởng quan trọng đến sự phục hồi. Theo những bệnh nhân sống một mình, độc lập trong sinh hoạt cá nhân hơn so với những bệnh nhân sống cùng gia đình. Nhưng hầu hết các nghiên cứu khác đều cho rằng bệnh nhân sống cùng gia đình có kết quả hồi phục tốt hơn [33]

Qua đây chúng tôi thấy rằng, tiên lượng và khả năng phục hồi của bệnh nhân phụ thuộc vào nhiều yếu tố, khó có thể đánh giá được trong lần thăm khám đầu tiên, bệnh nhân cần được theo dõi và tập luyện sớm; khó có thể hi vọng bệnh nhân liệt nửa người sẽ hồi phục hoàn toàn sau khi xuất viện, do đó bệnh nhân cần được hướng dẫn các bài tập ở nhà, tiếp tục được PHCN và theo dõi tiếp trong chương trình PHCN dựa vào cộng đồng.
4.9.So sánh kết quả PHCN vận động ở hai nhóm I và II

Trong bảng 3.15 không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p>0,05) giữa nhóm I (nhóm nghiên cứu) và nhóm II (nhóm chứng) về kết quả PHCN vận động theo chỉ số Barthel. Tuy nhiên các tỷ lệ tốt, khá ở nhóm I vẫn cao hơn nhóm II, trong khi tỷ lệ không kết quả lại thấp hơn.

Qua quan sát trong quá trình nghiên cứu ở nhóm can thiệp, chúng tôi thấy phần lớn bệnh nhân tiến triển khá tốt, mẫu co cứng giảm, các khớp duy trì tầm vận động tốt, tuy nhiên vì thời gian nghiên cứu còn ngắn chúng tôi chưa đi sâu những di chứng có thể có về sau.

Cần phải nói rằng, trong nghiên cứu này bệnh nhân của chúng tôi chỉ nằm viện trong thời gian khá ngắn (trên dưới 4 tuần) sau đó bệnh nhân được hướng dẫn tập luyện tại nhà (nhóm can thiệp) cho kết quả PHCN vận động cao hơn nhóm chứng. Qua đó cũng nói lên phần nào cần phải có một mô hình hoàn chỉnh trong việc nghiên cứu và điều trị PHCN bệnh nhân bị liệt nửa người do TBMMN. Ngay trong và sau giai đoạn cấp cứu cần được PHCN sớm nếu điều kiện bệnh nhân cho phép. Bên cạnh đó phải xây dựng mô hình tập luyện tại cộng đồng cho phù hợp có kiểm soát và được tư vấn về chuyên môn cao. Có như vậy mới nâng cao được kết quả phục hồi và kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân không may bị TBMMN.

Một nghiên cứu của Jorgensen [43] điều tra tại Copenhagen (Đan Mạch) cho nhận xét khi nghiên cứu trên 1241 bệnh nhân đột quỵ chia làm hai nhóm: một nhóm được điều trị và PHCN tại khoa nội thần kinh tổng hợp, một nhóm khác được điều trị độc lập tại đơn vị điều trị TBMMN. Kết quả bước đầu cho thấy sau một năm và năm năm thì tỉ lệ chết giảm xuống còn 40% ở nhóm đơn vị điều trị TBMMN đơn thuần so với nhóm bệnh nhân đột quỵ tại khoa nội thần kinh tổng hợp. Đặc biệt với bệnh nhân dưới 75 tuổi, thời gian ở tại trung tâm điều trị đột quỵ giảm từ 2 đến 3 tuần so với điều trị tại khoa nội thần kinh tổng hợp. Tác giả cho rằng lợi ích rất lớn đối với bệnh nhân đột quỵ cấp tính nếu như họ được điều trị và PHCN tại các đơn vị điều trị TBMMN.

Qua đây chúng tôi liên hệ thấy ở Việt Nam chúng ta chưa có một phương pháp điều trị và PHCN cho bệnh nhân TBMMN một cách hệ thống và toàn diện. Qua quan sát nhóm chứng chúng tôi thấy: Các gia đình bệnh nhân thường rất bối rối khi có người nhà không may đột quỵ. Các gia đình có điều kiện kinh tế thì mời bác sỹ đến điều trị riêng tại nhà hoặc thuê “Osin” về để phục vụ người bệnh không để họ có cơ hội tham gia phục hồi. Còn các gia đình nghèo thuờng uống thuốc nam, thuốc bắc hoặc cầu vái tứ phương ít khi điều trị thuốc hạ áp hoặc các nguyên nhân TBMMN. Vì vậy mà các bệnh nhân ở nhóm này có kết quả phục hồi rất khác nhau.


KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 62 trường hợp ở cả hai nhóm (nhóm nghiên cứu và nhóm chứng) chúng tôi có được những nhận xét sau:


1.Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu :

Tuổi trung bình là 60,5; nhóm tuổi 60->75 chiếm tỉ lệ cao nhất: 46,7%.

Nam giới chiếm 53,3%, nữ giới chiếm 46,7%.

Liệt nửa người bên phải và bên trái có tỉ lệ tương đương nhau.

Nguyên nhân gây tai biết chủ yếu do nhồi máu não: 73,3%.
2.Kết quả PHCN sinh hoạt hàng ngày :

60% bệnh nhân được tập luyện PHCN trong 6 tuần đầu sau TBMMN, 23,3% trong 6 tuần tiếp theo và 16,7% sau 12 tuần.

Tuổi có ảnh hưởng đến kết quả PHCN, tuổi càng trẻ càng phục hồi tốt.

Sau 90 ngày kết quả PHCN sinh hoạt hàng ngày theo chỉ số Barthel mới thể hiện rõ.



Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về kết quả PHCN sinh hoạt hàng ngày giữa nhóm nghiên cứu và nhóm chứng.

KIẾN NGHỊ





  1. Nên có sự kết hợp chặt chẽ giữa khoa hồi sức cấp cứu, khoa thần kinh với khoa PHCN để tạo cơ hội cho bệnh nhân được PHCN sớm.




  1. Nên phổ biến một số kiến thức cơ bản về PHCN trong giai đoạn đầu của TBMMN cho nhân viên các khoa lâm sàng có bệnh nhân TBMMN.




  1. Cần triển khai một kế hoạch nghiên cứu về mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày toàn diện hơn, đánh giá theo thể bệnh, mức độ bị TBMMN, thời gian từng tháng, từng quý để xác định xem ở mốc thời gian nào người bệnh sau TBMMN có mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày tốt nhất và khoảng thời gian bao lâu sau TBMMN mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày sẽ không hồi phục và từ đó xây dựng tiêu chuẩn đánh giá về mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày cho phù hợp với cộng đồng người Việt Nam.


TÀI LIỆU THAM KHẢO


  1. Cao Minh Châu, Nguyễn Xuân Nghiên, Trần Văn Chương (1995), "Dụng cụ trợ giúp đơn giản trong PHCN cho bệnh nhân liệt nửa người do TBMMN"" kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, Hội PHCN Việt Nam, Nhà Xuất bản y học, trang 28 - 31.

  2. Cao Minh Châu, Nguyễn Xuân Nghiên, Trần Văn Chương (1996), "Nghiên cứu sản xuất các dụng cụ PHCN theo kỹ thuật thích nghi tại cộng đồng", kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, Bệnh viện Bạch Mai, Nhà xuất bản y học, trang 28 -31.

  3. Cao Minh Châu, Nguyễn Xuân Nghiên, Trần Văn Chương (1995), "Kết quả bước đầu PHCN người bệnh liệt nửa người tại nhà trong chương trình PHCN dựa vào cộng đồng", kỷ yếu công trình PHCN Việt Nam, Hà Nội, trang 21 - 24.

  4. Cao Minh Châu, Nguyễn Xuân Nghiên, Trần Văn Chương (1996), "Đánh giá kết quả PHCN vận động của bệnh nhân liệt nửa người do TBMMN", kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, Bệnh viện Bạch Mai, Nhà xuất bản y học, trang 219 - 224.

  5. Trần Văn Chương, Nguyễn Xuân Nghiên và cộng sự (1998), "Bước đầu nghiên cứu một số yếu tố tiên lượng phục hồi vận động của bệnh nhân liệt nửa người do TBMMN", kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, hội PHCN, Nhà xuất bản y học số 5, trang 65- 75.

  6. Trần Văn Chương, Nguyễn Xuân Nghiên và cộng sự (1999), Kết quả PHCN tại nhà của người bệnh liệt nửa người trong chương trình PHCN dựa vào cộng đồng", kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, Hội PHCN, Nhà xuất bản y học, số 6, trang 62 - 68.

  7. Trần Văn Chương, Nguyễn Xuân Nghiên và cộng sự (1999), "Kết quả sử dụng các dụng cụ tập luyện trong PHCN vận động cho bệnh nhân liệt nửa người do TBMMN", kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, Hội PHCN Việt Nam, Nhà xuất bản y học số 6, trang 204 - 209.

  8. Trần Văn Chương (1999). "Chương trình tập luyện tại nhà cho Bệnh nhân liệt nửa người", Một số vấn đề cơ bản về vật lý trị liệu - PHCN dành cho các cơ sở điều dưỡng, Nhà xuất bản y học Hà Nội. trang 150 - 169.

  9. Trần Văn Chương (2001), "PHCN người bệnh liệt nửa người do TBMMN", Bệnh lý và PHCN TBMMN, Bệnh viện quân đội 108, trang 1 - 1

  10. Dương Xuân Đạm (1993), "Một số kinh nghiệm PHCN vận động đối với di chứng sau TBMMN", một số vấn đề lý luận và thực tiễn về lão khoa lâm sàng, Viện bảo vệ sức khoẻ người cao tuổi, trang 162 - 163.

  11. Dương Xuân Đạm (2001), "Hướng dẫn và PHCN vận động liệt nửa người do TBMMN tại nhà", Bệnh viện quân y 108.

  12. Trần Quốc Đạt, luận văn thạc sỹ y khoa (2001), " Đánh giá kết quả can thiệp PHCN vận động trên bệnh nhân chảy máu vùng bao trong".

  13. Nguyễn Văn Đăng (1996), "Góp phần nghiên cứu dịch tễ học TBMMN 1991- 1995", Nhà xuất bản y học Hà Nội.

  14. Nguyễn Văn Đăng (1996), "Tình hình TBMMN tại khoa thần kinh Bệnh viện Bạch Mai 1991 - 1993", kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản y học.

  15. Nguyễn Văn Đăng (2000), "Tai biến mạch máu não", Nhà xuất bản y học Hà Nội.

  16. Nguyễn Văn Đính, Đặng Quốc Tuấn, Nguyễn Kim Sơn (1998), "Điều trị tích cực TBMMN tại khoa Hồi sức cấp cứu A9 Bệnh viện Bạch Mai", kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học, Bệnh viện Bạch Mai, trang 60 - 64.

  17. Lê Đức Hinh, Đặng Thế Chân(1996),”Tử vong do TBMMN tại bệnh viện Bạch Mai”, kỷ yếu công trình nghiên cứu công trình nghiên cứu khoa học thần kinh,nhà xuất bản y học,trang 94-100.

  18. Lê Đức Hinh(2001),”Tình hình TBMMN hiện nay tại các nước châu Á”,chẩn đoán và xử trí TBMMN,Hội thảo liên khoa,khoa thần kinh bệnh viện Bạch Mai Hà Nội,trang1-5.

  19. Nguyễn Thuỳ Hương,Trần Đức Thọ,Nguyễn Thị Nhung,Phạm Huyền Nga(1994),”Tổng kết 5 năm điều trị di chứng do TBMMN ở người có tuổi bằng châm cứu và PHCN”,kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học,bệnh viện Bạch Mai,nhà xuất bản y học,trang 320-327.

  20. Nguyễn Thuỳ Hương (1998), ”Tình hình bệnh nhân bị TBMMN nằm tại viện lão khoa trong 4 năm 1994-1997”, kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học,viện lão khoa,nhà xuất bản y học,trang 151-155.

  21. Phạm Khuê (1999), ”Đề phòng TBMMN ở người cao tuổi”, nhà xuất bản y học Hà Nội.

  22. Nguyễn Thị Kim Liên (2001), ”Bán trật khớp vai trên bệnh nhân liệt nửa người do TBMMN:Tần suất,yếu tố nguy cơ và dự phòng”, luận văn tốt nghiệp bác sĩ nội trú bệnh viện.

  23. Nguyễn Xuân Nghiên và cộng sự (1990, ”Huấn luyện ngươi tàn tật tại cộng đồng”,nhà xuất bản y học Hà Nội.

  24. Nguyễn Xuân Nghiên (1995), ”Vật lý trị liệu-Phục hồi chức năng”, nhà xuât bản y học Hà Nội.

  25. Nguyễn Xuân Nghiên và cộng sự (1998), ”Nghiên cứu kết quả bước đầu người tàn tật hội nhập xã hội qua dự án PHCN dựa vào cộng đồng do AIFO tài trợ”, kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học,hội PHCN Việt Nam,nhà xuất bản y họcHà Nội.

  26. Phạm Văn Phú (2001), ”Đánh giá mức độ độc lập trong sinh hoạt hàng ngày sau TBMMN tại cộng đồng”, luận văn thạc sỹ y khoa.

  27. Nguyễn Văn Thông (1997), ”Bệnh mạch máu não và các cơn đột quỵ”, nhà xuất bản y học Hà Nội.

  28. Ngô Đăng Thục (1983), ”Đặc điểm lâm sàng thần kinh tắc mạch não hệ động mạch cảnh trong”, luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú khoá VII.

  29. Bùi Xuân Tuyết và cộng sự (1996), “Tình hình TBMMN tại khoa thần kinh bệnh viện Hai Bà Trưng 1993-1995”, kỷ yếu công trình nghiên cứu khoa học thần kinh, nhà xuất bản y học trang 133-139.

  30. Ngô Thế Vinh (1983), “Y học phục hồi”, nhà xuất bản, trang 305-326.

Tài liệu nước ngoài:

  1. Alfassa.S, Ronen.R, Ring.H, Dynia.A, Tamir.A, Eldar.R (1997), “Quality of life in younger adults (17-49) after first stroke – a two year follow up”, page 249-254.

  2. Arboik.A, Masson.J, Oliveres.M, Garcia.L, Titus.F (1993) “Anaalysis of 1000 consecutive patients with acute cerebrovascular disease”.

  3. Barthel D.W, Mahoney F.I (1965), “Functional evaluation the Barthel index”, Modul state Med.J, page 61-65.

  4. Belanger.L, Bolduc.M, Noel.M (1988), “Relative importance of after effects, environment and social – economic factors on the social integration of stroke victims” page 251-260.

  5. Bernspang.B, fisher A.G (1995), “Differences between person with right or left cerebral vascular accident on the assessment of motor and process skill”, page 144-151.

  6. Colleter E.M, Murphy T.B (1994), “physical and functional assessment of the elderly stroke patient, American family physician”, page 1777-1785.

  7. Gowland.C, Torresin.W (1990), “Therapeutic exercise for stroke patients”, page 220-230.

  8. Grimby.G, Finnstam J, Jette.A (1998), “On the application of the WHO handicap classification in rehabilitation”, page 93-98.

  9. Hurvitz E.A, Beale.L, Ried.S, Nelson V.S (1999), “Functional outcome of paediatric stroke survivors”, page 43-63.

  10. Indredavik.B, Bakke.F, Slordahl S.A (1999), “Stroke unit treatment 10 years followup”, page 1524-1527.

  11. Indredavik.B, Ekeberg.G, Morch.B (2000), “Benefit of an extended stroke unit service early supported discharge adrandomized, controlled trial”, page 2989-2994.

  12. Inshikawa.R, Sakihara.S, Nakazato.S (1996), “Factors related to ADL of stroke patients three months after discharge”, page 354-363.

  13. Jorgensen H.S, Nakayama.H, Stoier.M, Olsen T.S (1995), “Outcome and time course of recovery in stroke, part I : outcome the Copenhagen stroke study” page 399-405.

  14. Jorgensen H.S, Nakayama.H, Olsen T.S (1999), “ Epidermiology of stroke – related disability: The Copenhagen stroke study” page 785-799.

  15. Maehlum.S, Roaldsen.K, Kolsrud.M, Dahl.M (1990), “Rehabilitation after stroke”, page 2657-2659.

  16. Motegi.A, Yasumura.S, Arai.H, Hayashi.H (1998), “Outcome of stroke survivors in yamagata prefecture”, page 846-852.

  17. Nakayama.H, Jorgensen H.S, Olsen T.S (1994), “The influence of age on stroke outcome – the Copenhagen stroke study”, page 808-813.

  18. Okamusa.T, Nakayama.H (1995), “Characteristics of participant in community based rehabilitation programs and their levels of independence in activities of daily living”, page 878-887.

  19. Pederson P.M, Jorgensen H.S, Nakayama.H, Raaschou H.O (1996), “Orientation in the acute and chronic stroke patient impact on ADL and social activities – The Copenhagen stroke study”, page 336-339.

  20. Samuelsson.M, Soderfeldt.B, Olsson G.B (1996), “Functional outcome in patients with launar infarction”, page 842-846.

  21. Schutte.T, Summa J.D, Platt.D (1984), “Rehabilitative treatment of cerebral apoplectic insults in advanced age and evaluating its effectiveness results of a model project”, page 214-222.

  22. Sonde.L (2000), “Low tens treatment on post stroke paretic arm athree year follow up”, clinical rehabilitation, page 14-19.

  23. Sveen.U, Baut.Z, Holter.E, (1999), “Association between impairments, selfcare ability and social activities, 1 year after stroke”, page 272-277.

  24. Wyller T.B, Sodring K.M, Sveen.U (1997), “Are there gender differences in functional outcome after stroke”, page 171-179.

  25. Yamashita.K, Araki.S (1996), “Factor affecting ADL improvement and QOL in stroke patient: Acommunity – base study”, page 427-433.


PHỤ LỤC

BỆNH ÁN

I: PHẦN HÀNH CHÍNH :


1> Họ và tên bệnh nhân : ……………………………..tuổi:……giới:……

2> Địa chỉ:



  • Số nhà :………………….………………………………

  • Phường (xã) :……………………………………………

  • Quận (huyện) :…………………………………………..

  • Thành phố (tỉnh) :……….……………………………….

  • Điện thoại liên lạc :.……………………………………..

3> Nghề nghiệp :……………….…………………………………….

4> Ngày bị tai biến mạch máu não :.…………………………………

5> Ngày vào viện :………………….………………………………..

6> Ngày ra viện :……………………..………………………………


II: LÝ DO VÀO VIỆN :………..……………………………...
III: TIỀN SỬ :

      • Tiền sử bản thân :………………………………...

      • Tiền sử gia đình :...……………………….……...

IV: BỆNH SỬ :

1> Thời gian bị bệnh :...……………….……………………………..

2> Khởi phát bệnh :

Đột ngột  Từ từ 

3> Diễn biến bệnh :

Nặng dần lên  Như lúc vào  Giảm triệu chứng 
V: KHÁM BỆNH :

1>Toàn trạng :



    • Tinh thần :……………………

    • Thể trạng :……………………

    • Mạch :…………………….….

    • Nhiệt độ :………………….….

    • Huyết áp :………………….…

    • Nhịp thở :…………………..…

2> Thần kinh :

    • Vận động : + Không liệt 

+ Liệt 

                • Bên phải 

                • Bên trái 

    • Cảm giác : + Bình thường 

+ Giảm hoặc mất 

    • Phản xạ gân xương: + Tăng 

+ Giảm 

    • Trương lực cơ: + Tăng 

+ Giảm 

3> Cơ_Xương_Khớp : …………………………………….. ……….. …… …………………………………………………………… ………………. ……………………………………………………………………. ………

4> Các bộ phận khác : ……………………………………. ……………... ………………………………………………………………………. ……
VI: CẬN LÂM SÀNG :

1> Các xét nghiệm :…………………………………… …………….. …. …………………………………………. ……………………………. …..

2> CT scanner sọ não :………………………………………………… …
VII: CHẨN ĐOÁN :

……………………………………………………………………….. …... ………………………………………………………………………….. ...


VIII: ĐIỀU TRỊ :

1> Dùng thuốc : ………………………………………………………. …. ……………………………………………………………………………..

2>Phục hồi chức năng :……………………………………………….. …. ……………………………………………………………………………..

……………………………………………………………………………..


IX: KẾT QUẢ SAU ĐIỀU TRỊ:

1> Sau 1 tháng điều trị (Theo chỉ số Barthel) : …………. Điểm .

2> Sau 2 tháng điều trị (Theo chỉ số Barthel) : …………. Điểm .

3> Sau 3 tháng điều trị (Theo chỉ số Barthel) : …………. Điểm .

ĐÁNH GIÁ THEO CHỈ SỐ BARTHEL


Thời gian đánh giá

Thang điểm



Sau 30 ngày

Sau 60 ngày

Sau 90 ngày

1./ Ăn uống :

  • Không phụ thuộc

  • Cần sự giúp đỡ

  • Phụ thuộc

10 

5  0 


10 

5  0 


10 

5  0 


2./ Di chuyển từ xe đẩy tới giường và ngược lại :

  • Không phụ thuộc

  • Cần sự giúp đỡ

  • Có khả năng ngồi nhưng cần sự giúp đỡ nhiều

  • Không thể di chuyển được

15  10  5 


0 

15  10  5 

0 


15  10  5 

0 


3./ Tự làm vệ sinh cá nhân (chải tóc, cạo râu, đánh răng) :

  • Không phụ thuộc

  • Cần giúp đỡ

5  0 

5  0 

5  0 

4./ Đi vệ sinh (cởi quần áo, lau chùi, dội nước..):

  • Không phụ thuộc

  • Cần sự giúp đỡ

  • Phụ thuộc

10  5  0 

10  5  0 

10  5  0 

5./ Tự tắm :

  • Không phụ thuộc

  • Phụ thuộc

5  0 

5  0 

5  0 

6./ Tự đi trên mặt phẳng (hoặc bằng xe lăn nếu Không đi bộ được) :

  • Không phụ thuộc khi đi 50m

  • Có sự giúp đỡ khi đi 50m

  • Xe lăn khi đi 50m

  • Không thể đi

15  10  5  0 

15  10  5  0 

15  10  5  0 

7./ Lên xuống cầu thang :

  • Không phụ thuộc

  • Cần sự giúp đỡ

  • Không thể lên xuống

10  5  0 

10  5  0 

10  5  0 

8./ Mặc và cởi quần áo, giầy dép :



  • Không phụ thuộc

  • Cần sự giúp đỡ

  • Không thể

10  5  0 

10  5  0 

10  5  0 

9./ Kiểm soát ruột :

  • Kiểm soát được

  • Thỉnh thoảng không kiểm soát đựơc

  • Không thể kiểm soát được

10  5  0 

10  5  0 

10  5  0 

10./ Kiểm soát bàng quang :

  • Kiểm soát được

  • Thỉnh thoảng không kiểm soát được

  • Không kiểm soát được

10  5  0 

10  5  0 

10  5  0 

TỔNG SỐ ĐIỂM


………

………

………

: nonghocbucket -> UploadDocument server07 id50526 114188
UploadDocument server07 id50526 114188 -> Trường Đại Học Mỏ Địa Chất Khoa Dầu Khí Lời mở đầu
UploadDocument server07 id50526 114188 -> MỤc lục mở ĐẦU 10 Xuất xứ của dự án 10
UploadDocument server07 id50526 114188 -> Thiết kế MÔn học nhà MÁY ĐIỆn lời nóI ĐẦU
UploadDocument server07 id50526 114188 -> ĐỀ TÀi ngân hàng trung ưƠng trưỜng trung cấp kt-cn đÔng nam
UploadDocument server07 id50526 114188 -> Seminar staphylococcus aureus và những đIỀu cần biếT
UploadDocument server07 id50526 114188 -> Bài thảo luận Đánh giá chất lượng sản phẩm dầu thực vật Môn Phân Tích Thực Phẩm Nhóm 2 : Hoàng – Hùng Hiếu Hồng
UploadDocument server07 id50526 114188 -> Luận văn tốt nghiệp gvhd: pgs. Ts nguyền Ngọc Huyền MỤc lục danh mục các chữ viết tắT
UploadDocument server07 id50526 114188 -> Mục lục Tổng quan về thịt
UploadDocument server07 id50526 114188 -> Gvhd: Nguyễn Minh Hùng Đề tài: Tìm Hiểu & Nghiên Cứu cpu


1   2   3   4


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương