BỘ CÔng nghiệP


Mục 4. VẬN TẢI BẰNG GOÒNG ĐẨY TAY



tải về 1.15 Mb.
trang5/8
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích1.15 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8

Mục 4. VẬN TẢI BẰNG GOÒNG ĐẨY TAY


Điều 267.

Trường hợp cung độ vận chuyển ngắn hơn 300m, khối lượng vận chuyển không lớn và không thuận tiện sử dụng những phương pháp vận tải khác, cho phép sử dụng phương pháp vận chuyển bằng goòng đẩy tay có dung tích nhỏ hơn 1000 lít, nhưng phải thực hiện theo các quy định tại "Quy phạm an toàn trong các hầm lò than và diệp thạch".



Điều 268.

Độ dốc đường goòng đẩy tay không được vượt quá 0,005.



Điều 269.

Khoảng cách giữa 2 goòng đẩy tay phải lớn hơn 10m. Tốc độ goòng đẩy tay không quá 6km/h. Người đẩy goòng phải đặt tay vào vị trí quy định (tay quai goòng) và không đứng trên tăm pông. Mỗi goòng phải có đủ chèn để hãm khi cần thiết.



Mục 5. VẬN TẢI BẰNG DÂY CÁP

Điều 270.

Chỉ được phép sử dụng vận tải bằng tời dây ở những nơi có điều kiện và phải có thiết kế được cơ quan quản lý có thẩm quyền phê duyệt.



Mục 6. HỆ THỐNG ĐƯỜNG RAY VÀ CÁC TRẠM CHẤT TẢI

Điều 271.

Khổ đường ray trong mỏ được chọn phải phù hợp với thiết bị vận tải trên đường ray, năng suất vận tải và công suất mỏ.



Điều 272.

Đối với hệ thống đường ray trong những đường lò có tuổi thọ trên 5 năm, phải sử dụng tà vẹt bêtông cốt thép chiều dài 1,7m cho đường 900mm hoặc tà vẹt gỗ được ngâm tẩm kỹ chiều dài 1,2m cho đường 600mm.



Điều 273.

Ở những đoạn lò có độ dốc lớn hơn 100 và có nước, tà vẹt phải đặt sâu trong rãnh không nhỏ hơn 2/3 chiều dầy của nó.



Điều 274.

1. Ở những đường lò có thời hạn sử dụng lớn hơn 2 năm và có hiện tượng bùng nền, phải rải đá balát với chiều dày không nhỏ hơn 90mm.

2. Cỡ hạt đá balát: 20 x 40mm nếu là đá dăm, 20 x 30mm nếu là đá sỏi. Ở những đoạn lò khô, cho phép sử dụng đá tại gương lò có độ cứng không nhỏ hơn 5 và cỡ hạt không lớn hơn 70 x 80mm để làm đá balát.

Điều 275.

Trên những đường lò vận chuyển chính dùng tà vẹt gỗ, ray đặt trên tà vẹt phải có tấm lót điều chỉnh, liên kết ray bằng bu lông và lắc lít. Đối với tà vẹt bê tông, tấm lót được chọn tuỳ thuộc loại tà vẹt.



Điều 276.

Giữa hai đầu ray tại mối nối, phải để khe hở không lớn hơn 5mm; Khoảng cách từ đầu ray đến thanh tà vẹt đầu tiên không quá 200mm; Khoảng cách giữa hai tà vẹt không lớn hơn 700 mm.



Điều 277.

Trên những đoạn thẳng, hai thanh ray phải có cùng độ cao với sai số cho phép không lớn hơn 4mm, khổ rộng của đường ray không được lớn hơn 4mm và nhỏ hơn 2mm so với cương cự quy định. Trên những đoạn đường cong phải bố trí siêu cao theo thiết kế (đỉnh ray ngoài phải cao hơn đỉnh ray trong) nhưng không được nhỏ hơn 15mm đối với đường 900mm và 10mm đối với đường 600mm.



Điều 278.

Những đoạn đường cong trên đường lò chính và trên sân ga, nếu góc quay bằng hoặc nhỏ hơn 900 phải có thanh giằng giữa hai ray, khoảng cách giữa hai thanh giằng không nhỏ hơn 3m.



Điều 279.

Khi vận tải bằng cáp theo lò nghiêng, ở đoạn đường cong phải đặt ray bảo vệ ở phía trong cho ray ngoài và phía ngoài cho ray trong. Ray bảo vệ phải cao hơn ray chính 40mm. Liên kết giữa ray chính và ray bảo vệ bằng tấm lót và bulông.



Điều 280.

1. Khi chở người trong lò nghiêng bằng toa xe, ray phải đặt trên tà vẹt gỗ và phải phù hợp với cơ cấu hãm của toa xe.

2. Nếu toa xe trang bị cơ cấu hãm tác động lên đường ray, thì không được dùng tấm lót ray bằng kim loại.

Điều 281.

Dung tích các loại goòng phải được chọn theo thiết kế phù hợp với năng suất vận tải và công suất mỏ. Khi tính toán số lượng goòng lấy hệ số dự phòng là 1,1.



Điều 282.

1. Goòng dùng trong mỏ hầm lò phải được đánh số và phải sửa chữa định kỳ ít nhất hai lần trong 1 năm. Nội dung sửa chữa phải ghi vào sổ theo dõi.

2. Mỏ phải có 1 trạm làm sạch goòng bố trí ở trong lò hoặc ở ngoài mặt bằng. Tại vị trí kiểm tra và tra dầu mỡ, phải trang bị khung dưỡng có kích thước chuẩn để kiểm tra kích thước goòng.

Điều 283.

1. Các trạm chất tải phải được cơ giới hoá. Công tác dồn goòng ở trạm chất tải phải thực hiện bằng máy đẩy goòng.

2. Các trạm chất tải phải có biện pháp chống bụi.

Điều 284.

Trạm chất tải phải có phương tiện liên lạc, thiết bị tín hiệu liên lạc giữa người lái tầu và người vận hành trạm.

Chương XIV

THIẾT BỊ TRỤC TẢI MỎ

Mục 1. QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 285.

Khi thiết kế trục tải giếng đứng, nên chọn máy trục một cáp. Trường hợp sức căng cực đại của cáp và độ chênh lệch sức căng máy trục một cáp lớn thì phải sử dụng máy trục nhiều cáp.



Điều 286.

Điều khiển trục tải được thực hiện theo các phương pháp sau:

1. Điều khiển tự động đối với thiết bị trục tải skip;

2. Điều khiển từ xa, tự động có phát tín hiệu từ vị trí chất, dỡ tải đối với thiết bị thùng cũi chở vật liệu;

3. Điều khiển bằng tay hoặc từ xa tại phòng đặt máy đối với thiết bị thùng cũi chở người.

Điều 287.

1. Phải sử dụng kiểu skip, thùng cũi và goòng đã được tiêu chuẩn hoá.

2. Đối với máy trục kiểu tang quấn 1 cáp, thùng trục phải nhẹ và được chế tạo bằng thép chất lượng cao có lớp phủ chống gỉ.

Điều 288.

1. Khi sử dụng thiết bị trục tải skip để vận chuyển than, để giảm mức độ vỡ của than, phải:

a) Bố trí phanh hãm tự động chuyên dụng trong bộ phận chất tải để rót than vào skip đều đặn, than ít va đập vào skip;

b) Có biện pháp làm giảm vỡ than;

c) Tại bunke chất tải than, phải có máng rót than lên cấp liệu và băng tải để tránh than bị va đập mạnh.

2. Thiết bị trục tải skip phải có cơ cấu rót tự động vào skip và loại trừ khả năng than vương vãi xuống đáy giếng.Cơ cấu rót than phải được chế tạo bằng thép chịu mòn và không gỉ.



Điều 289.

Thời gian chở người lên hoặc xuống trong một ca không được vượt quá 60 phút.



Điều 290.

1. Hệ số làm việc không đồng đều của thiết bị trục tải chính và phụ lấy bằng 1,5 đối với tầng thiết kế cuối cùng.

2. Khi tính biểu đồ thời gian hoạt động trong ngày của trục tải phụ, lấy hệ số không đồng đều bằng 1,0. Trường hợp đưa vật liệu có kích thước dài vào trong thùng cũi cũng như khi chở người lên và xuống không đồng thời, phải tính riêng thời gian nâng hoặc hạ sau đó cộng lại.

Điều 291.

Phải tính thời gian dừng để chất và dỡ tải của thùng trục, cũng như để người ra và vào thùng cũi sao cho phù hợp với yêu cầu thông tải qua giếng.



Điều 292.

Khi thiết kế trục tải phải tính đến cơ giới hoá việc đưa vào và ra khỏi thùng cũi những vật liệu có kích thước dài (ống, ray).



Điều 293.

Các biện pháp tăng khả năng thông qua của thiết bị trục tải đang hoạt động mà không cần thay thế máy trục được thực hiện như sau:

1. Tăng tải trọng nâng có ích trong giới hạn cho phép;

2. Tăng tốc độ trục tải lên đến giá trị cho phép theo thiết kế của máy trục và kết cấu khung giếng;

3. Tự động hoá điều khiển trục tải skip và điều khiển từ xa trục tải thùng cũi chở vật liệu, người;

4. Tổ chức chất, dỡ tải đồng thời ở các tầng khi trục tải có nhiều tầng;

5. Cơ giới hoá và tự động hoá việc trao đổi goòng trong thùng cũi, trên mặt giếng cũng như trong sân ga;

6. Không dùng trục tải thùng cũi để vận chuyển đất, đá;

7. Nâng cao khả năng thông tải qua các khâu trung gian;

8. Loại trừ tình trạng đưa than không theo sơ đồ điều vận từ các khu khai thác tới giếng.



Điều 294.

Mỗi thiết bị trục tải phải có dự phòng:

1. Một sợi cáp nâng hoặc một bộ cáp đối với trục nhiều cáp đã được thử nghiệm có kết quả tốt;

2. Một thùng trục có đủ cơ cấu móc nối;

3. Một động cơ điện, một nguồn điện một chiều;

4. Một máy nén khí với động cơ điện trong trường hợp không được cung cấp từ lưới khí nén chung toàn mỏ;

5. Trọn bộ má phanh;

6. Trọn bộ má lót đối với trục tải skip kiểu ma sát;

7. Các chi tiết mau mòn, chóng hỏng theo quy định của nhà chế tạo.

Điều 295.

1. Góc lệch của cáp đối với thiết bị trục tải giếng đứng và nghiêng khi lắp đặt lại (không phụ thuộc vào góc nghiêng của đường lò) ở trên puli định hướng và tang của máy trục một cáp không được vượt quá 1030'. Đối với tang kép hình trụ, cho phép tăng góc lệch đến 20 về phía trục nhỏ khi trên bề mặt tang có rãnh.

2. Góc lệch của cáp tại puli định hướng và tang của thiết bị trục tải lò nghiêng dưới 300 đang hoạt động không được lớn hơn 2030'.

3. Khi lắp đặt lại trục tải một cáp có puli ma sát, các puli định hướng trên tháp phải được đặt trong cùng một mặt phẳng đứng với các puli ma sát.

4. Đối với thiết bị trục tải giếng đứng, góc nghiêng của cáp so với mặt phẳng nằm ngang không được nhỏ hơn 300 khi chiều dài của cáp trên 45m. Trường hợp đặc biệt, có thể giảm bớt góc đó nếu có luận chứng khi thiết kế.

5. Chiều dài của cáp khi không có con lăn đỡ không được lớn hơn 65m. Khi góc nghiêng của cáp so với mặt phẳng nằm ngang lớn hơn 450, cho phép tăng chiều dài cáp đến 75m.



Điều 296.

1. Đối với thiết bị trục tải nhiều cáp có đường dẫn hướng cứng, độ lệch tới hạn của các cáp đầu (trên cả hai nhánh) so với đường thẳng đứng không được vượt quá:

a) 1030'- Khi đường dẫn hướng bằng gỗ hình hộp có bạc dẫn hướng dạng hình hộp trên thùng trục, hoặc khi đường dẫn hướng bằng ray (nếu lực nằm ngang phát sinh do cáp bị lệch làm cho áp lực của thùng trục tác động vào mặt chính của đường dẫn hướng);

b) 10- Đối với đường dẫn hướng bằng ray, nếu lực nằm ngang phát sinh do cáp bị lệch làm cho áp lực của thùng trục tác động vào sườn đường dẫn hướng;

2. Tại vị trí làm việc phía trên của thùng trục, góc lệch tới hạn của các cáp đầu từ mặt các rãnh của puli nghiêng và của puli dẫn hướng không được vượt quá 1030'.

Điều 297.

1. Đối với thiết bị trục tải một cáp trong giếng đứng và giếng nghiêng (góc nghiêng trên 300), chiều cao quá nâng không được nhỏ hơn:

a) 6m đối với thiết bị trục tải có tốc độ nâng lớn hơn 3m/s;

b) 4m đối với thiết bị trục tải có tốc độ nâng nhỏ hơn 3m/s;

c) 2,5m đối với thiết bị trục tải vật liệu bằng skip và thùng cũi lật;

d) 4m khi nâng, hạ người lên xuống bằng thùng trục (trong thời gian đào giếng);

đ) 6m đối với thiết bị trục tải skip, thùng cũi không phụ thuộc vào hành trình đều.

2. Hành trình chiều cao quá nâng được quy định như sau :

a) Đối với thùng cũi không lật: là chiều cao có thể nâng tự do thùng cũi lên từ vị trí dỡ tải bình thường ở sàn tiếp nhận trên cùng đến vị trí kẹp cáp trên cùng chạm vào vành puli định hướng hoặc phần riêng biệt nào đó của thùng cũi chạm vào kết cấu tháp;

b) Đối với trường hợp nâng tải vật liệu trong skip và thùng cũi lật: là chiều cao có thể nâng tự do skip hoặc thùng cũi lật lên từ vị trí dỡ tải bình thường đến vị trí kẹp cáp trên cùng chạm vào vành puli định hướng hoặc phần riêng biệt nào đó của skip hoặc thùng cũi lật chạm vào kết cấu tháp;

c) Đối với thùng trục để nâng và hạ người (trong quá trình đào): là chiều cao có thể nâng tự do thùng đào lò lên từ mức không của mặt bằng (sân giếng) đến vị trí kẹp cáp trên cùng hoặc cạnh trên của khung dẫn hướng chạm vào vành puli định hướng hoặc chạm vào phần lồi ra sàn kim loại phía dưới puli, nhưng không được nhỏ hơn 2,5m.

Điều 298.

Chiều cao quá nâng đối với các loại trục tải nhiều cáp và trục tải một cáp có puli ma sát không được nhỏ hơn 7m, bao gồm: chiều cao nâng tự do không nhỏ hơn 3m và chiều cao cần thiết để đặt các cơ cấu bảo hiểm.



Điều 299.

1. Đối với thiết bị trục tải giếng nghiêng (góc dốc nhỏ hơn 300), chiều cao quá nâng không được nhỏ hơn:

a) 6m đối với thiết bị trục tải hai đầu;

b) 2,5m đối với thiết bị trục tải một đầu chở vật liệu đang hoạt động và 4m khi thiết kế mới;

c) 4m đối với thiết bị trục tải một đầu chở vật liệu, chở người.

2. Đoạn đường quá nâng khi vận chuyển vật liệu và người bằng goòng là khoảng cách mà goòng có thể đi qua tính từ mặt bằng trên tới vị trí kẹp cáp trên chạm vào puli hoặc vào tang, goòng đầu tiên chạm vào các bộ phận của vì chống, cửa gió, bộ quay đường goòng rẽ ngang làm tăng góc lệch của cáp đến giá trị goòng có thể trật bánh.



Điều 300.

Kiểm tra độ thẳng đứng, độ chính xác lắp đặt các puli định hướng đối với tâm giếng và tâm trục tải, cũng như độ thẳng đứng bề mặt puli so với tâm giếng và độ nằm ngang tâm quay của puli được thực hiện bằng các dụng cụ đo chuyên dụng dưới sự chỉ đạo của Trắc địa trưởng mỏ. Kết quả kiểm tra phải được ghi vào sổ theo dõi.



Điều 301.

Việc kiểm tra và sửa chữa nhỏ thiết bị trục tải phải được tiến hành theo đúng biểu đồ được Giám đốc mỏ duyệt:

1. Kiểm tra từ 15 đến 20 phút đầu hàng ca do người vận hành, người trực tín hiệu và thợ trực cơ điện thực hiện;

2. Kiểm tra hàng ngày do tổ kiểm tra và sửa chữa thiết bị trục tải (dưới sự chỉ đạo của Quản đốc phân xưởng quản lý trục tải) tiến hành trong 2h 30 phút (có thể lâu hơn tuỳ theo độ sâu của giếng trên cơ sở quan sát bấm giờ);

3. Sửa chữa nhỏ do tổ kiểm tra và sửa chữa trục tải (dưới sự chỉ đạo của Quản đốc phân xưởng quản lý trục tải) thực hiện 2 giờ trong tuần và 3 giờ trong tháng, thời gian này chưa tính tới thời gian kiểm tra hàng ngày.

Điều 302.

1. Đối với giếng có độ sâu nhỏ hơn 100m, cho phép sử dụng tời quay tay, còn với độ sâu lớn hơn phải sử dụng tời có truyền động điện để phục vụ công tác sửa chữa và xử lý sự cố trang thiết bị trục tải trong giếng.

2. Trong giếng có thể sử dụng các ngăn hiện có của trục chính hoặc dự tính trước các ngăn riêng phục vụ sửa chữa và xử lý sự cố tại. Khi đó, cho phép sử dụng các đường dẫn hướng của trục chính.

3. Tời dùng cho sửa chữa, xử lý sự cố phải có:

a) Chiều dài cáp phù hợp với độ sâu của giếng;

b) Thùng trục chứa được ít nhất hai người;

c) Các puli định hướng;

d) Các thiết bị phát tín hiệu (cơ khí hoặc điện) cho phép phát tín hiệu từ trong thùng trục;

đ) Phanh công tác và phanh bảo hiểm.

4. Cho phép nâng hạ người trong các thùng trục của tời dùng cho sửa chữa, xử lý sự cố không có phanh dù và quấn nhiều lớp cáp trên tang. Trong trường hợp này, chiều cao mép tang phải cao hơn lớp cáp quấn trên cùng không nhỏ hơn 2,5 lần đường kính cáp.



Điều 303.

1. Trong thiết kế xây dựng và cải tạo các mỏ đang hoạt động sâu trên 100m, phải dự tính trang bị trục tải cho một trong các giếng thông gió và được sử dụng là lối thoát dự phòng khi mỏ có sự cố. Tại trục tải này phải luôn có người vận hành.

2. Không được phép sử dụng trục tải trên để đưa người lên xuống thường xuyên, trừ các trường hợp sự cố hoặc kiểm tra, sửa chữa giếng.

3. Khi trang bị trục tải này, cho phép:

a) Quấn 3 lớp trên tang;

b) Tời không có phanh dù;

c) Trang bị tín hiệu (cơ khí hoặc điện) phát đi từ thùng trục giếng như từ các mức có người ra vào;

d) Hệ số an toàn (dự trữ độ bền) của cáp không được nhỏ hơn 9 lần. Ngoài ra trục tải phải thoả mãn những yêu cầu như đối với trục tải chở người.

4. Việc xem xét và kiểm tra các thiết bị trục tải tại giếng kể trên phải do:

a) Quản đốc phân xưởng quản lý trục tải hoặc người được uỷ quyền tiến hành ít nhất 1 lần trong tuần;

b) Người phụ trách cơ điện mỏ hoặc người được uỷ quyền tiến hành ít nhất 1 lần trong tháng.

Điều 304.

1. Phải trang bị tời trục di động cho đội cấp cứu mỏ chuyên trách để cấp cứu và xử lý sự cố trong các trường hợp đặc biệt khó khăn (khi có sự cố trong giếng chỉ được trang bị một trục tải, hoặc hỏng đồng thời cả hai trục tải).

2. Thiết bị tời trục di động có thể làm việc trong các ngăn hiện có của trục tải chính hoặc ngăn riêng. Khi đó, được phép sử dụng các đường dẫn hướng của trục tải chính.

3. Thiết bị trục tải di động phải có:

a) Cáp có chiều dài phù hợp với chiều sâu của giếng;

b) Thùng trục chứa ít nhất hai người;

c) Puli định hướng;

d) Thiết bị phát tín hiệu;

đ) Phanh công tác và phanh bảo hiểm.

4. Cho phép tiến hành nâng hạ người trong thùng cũi của tời trục di động với xích treo đơn không cần phanh dù và quấn nhiều lớp cáp trên tang, khi đó mép tang phải cao hơn lớp cáp quấn trên cùng không ít hơn 2,5 lần đường kính cáp.



Điều 305.

1. Trong các nhà máy trục tang hình trụ một cáp đang xây dựng hoặc cải tạo, phải bố trí:

a) Dầm cầu trục khi đường kính tang hình trụ đến 4m;

b) Cẩu trục khi đường kính tang hình trụ lớn hơn 4m.

2. Cẩu trục trên tháp giếng của máy trục nhiều cáp phải có khả năng nâng được trọn bộ cụm nặng nhất từ dưới đất đến vị trí lắp đặt.

Điều 306.

1. Đối với trục tải giếng đứng và nghiêng (trên 300) dùng để nâng hạ người, giá trị gia tốc tính toán không được quá 1m/s2, còn đối với trục tải giếng nghiêng đến 300 không được vượt quá 0,7m/s2 giá trị gia tốc đối với trục tải vật liệu được xác định qua thiết kế.

2. Giá trị gia tốc tính toán đối với tất cả các loại trục tải không được lớn hơn 0,5m/s2 khi đặt trong lò nghiêng đến 300, và không lớn hơn 0,75m/s2 khi góc nghiêng trên 300. Cho phép tăng giá trị giảm tốc tính toán (làm việc) với điều kiện: Giá trị giảm tốc trung bình khi thực hiện phanh bảo hiểm trong chế độ hạ vật liệu lớn hơn giá trị giảm tốc tính toán ít nhất hai lần.

3. Khi đào giếng, tại những đoạn không có dẫn hướng và khi dỡ tải thùng trục, giá trị gia tốc và giảm tốc chuyển động thùng trục không được quá 0,3m/s2 còn khi nâng và hạ thùng trục trên gương không được quá 0,1m/s2.



Mục 2. MÁY TRỤC VÀ TỜI

Điều 307.

Cáp phải được bắt chặt vào tang bằng cơ cấu chuyên dụng sao cho khi chạy trong rãnh trên tang trụ, cáp không bị biến dạng bởi các mép sắc của rãnh.



Điều 308.

1. Các tấm lót puli dẫn động của trục tải có puli ma sát và của puli tháp giếng phải được bắt chặt sao cho, tại mép ngoài của rãnh tấm lót không có các phần nối, đề phòng trường hợp các phần nối hư hỏng có thể rơi vào rãnh puli bị cáp quấn lên. Các tấm lót phải được kiểm tra siết chặt hàng tuần.

2. Gờ của puli dẫn động và puli ma sát phải được chế tạo cao hơn phần trên của cáp và không nhỏ hơn 1,5 đường kính cáp.

3. Các tấm lót phải được thay mới khi bị mòn sâu xuống bằng đường kính cáp (không tính chiều sâu ban đầu) và mòn về một bên bằng 0,5 đường kính cáp cũng như trong trường hợp nếu chiều dày còn lại của tấm lót sau khi bị mòn bằng 0,75 đường kính cáp.



Điều 309.

1. Phanh bảo hiểm máy nâng phải được thực hiện bằng lực của tải trọng hoặc lò xo. Số lượng lò xo phải đảm bảo sao cho khi gãy một lò xo nhưng lực hãm tạo nên bởi bộ truyền động này bị giảm đi không quá 15%.

2. Đối với trục tải chở người hoặc vật liệu, nhất thiết phải có 2 bộ truyền động phanh lò xo.

3. Phanh của tất cả các máy trục và tời trục phải có hai bộ truyền động độc lập.

4. Bộ phận thừa hành của phanh bảo hiểm phải là kiểu guốc. Chỉ cho phép đặt puli hãm trên trục động cơ hoặc trên trục trung gian đối với phanh công tác. Trường hợp bộ phận thừa hành kiểu băng, thì bộ phận thừa hành phải tác động lên các puli hãm hoặc lên các đĩa hãm được bắt chặt với vành của tang quấn.

5. Phanh bảo hiểm được thực hiện bằng tay hoặc tự động. Khi đóng phanh bảo hiểm phải đồng thời cắt điện động cơ máy trục. Không phụ thuộc vào thời gian mỗi lần cắt mạch bảo vệ, người vận hành hoặc sửa chữa, bảo dưỡng kỹ thuật máy trục phải tác động phanh bảo hiểm.



Điều 310.

Phanh công tác phải được điều chỉnh được bằng truyền động cơ khí, tải trọng hãm của phanh công tác phải đảm bảo mômen hãm lớn hơn 1,5 lần mômen tĩnh cực đại.



Điều 311.

1. Để điều chỉnh vị trí tang hoặc sửa chữa hệ thống phanh, ngoài hệ thống phanh, máy trục phải có chốt hãm tang quấn cáp.

2. Để điều khiển từ xa việc tách tang ra khỏi trục tang khi điều chỉnh vị trí của các thùng trục, phải có khoá liên động để đảm bảo tang được tách ra không quay tự do.

Điều 312.

1. Giá trị giảm tốc trung bình của trục tải không được nhỏ hơn 0,75m/s2 trong quá trình phanh bảo hiểm khi hạ tải trọng tính toán với góc nghiêng của đường lò đến 300 và không nhỏ hơn 1,5m/s2 với góc nghiêng trên 300.

2. Đối với trục tải trong đường lò có góc nghiêng thay đổi, giá trị giảm tốc đối với từng đoạn có tiết diện cố định không được lớn hơn các giá trị cho trong Bảng XIV-1.
Bảng XIV-1


Góc nghiêng, độ

5

10

15

20

25

30

40

50 và trên 50

Giá trị giảm tốc, m/s2

0,8

1,2

1,8

2,5

3,0

3,5

4,5

5,0

3. Các giá trị giảm tốc đối với những góc nghiêng trung gian của đường lò không nêu trong Bảng XIV-1, được xác định bằng phép nội suy tuyến tính.

4. Thiết bị trục tải có puli ma sát, sự giảm tốc khi phanh công tác cũng như khi phanh bảo hiểm không được vượt quá giá trị có thể gây nên trượt cáp trên puli. Chỉ được phép của nhà chế tạo thiết bị đó mới được thay đổi những giá trị giảm tốc trên.

Điều 313.

1. Khi máy trục (tời) trong trạng thái hãm, mômen hãm không được nhỏ hơn 3 lần mômen tải trọng tĩnh. Trường hợp cần thiết, phanh công tác cũng phải đạt được mômen hãm có giá trị như trên.

2. Hệ số k giữa mômen hãm và mômen cản tĩnh của phanh bảo hiểm trong trạng thái hãm không được nhỏ hơn các giá trị cho trong Bảng XIV-2.

3. Hệ số k đối với các độ dốc trung gian không cho trong Bảng XIV-2 được xác định theo phép nội suy tuyến tính.


Bảng XIV-2.


Góc nghiêng, độ

Đến 15

20

25

30 và lớn hơn

K = Mhãm/Mtĩnh

1,8

2,0

2,6

3,0

4. Đối với các đường lò có độ dốc thay đổi, giá trị mômen hãm được xác định theo đoạn lò có độ dốc lớn nhất.

5. Khi tách tang, phanh phải tạo ra trên puli mômen hãm ít nhất bằng 1,2 lần mômen tĩnh do trọng lượng của thùng trục và một nhánh cáp gây ra.

6. Mômen hãm của tời chạy chậm có tốc độ đến 1m/s không được nhỏ hơn 2 lần mômen tải trọng tĩnh cực đại của loại tời đã cho.

7. Đối với các tời đào lò dùng để treo sàn, thiết bị, mômen hãm không được nhỏ hơn 3 lần mômen tĩnh tương ứng với tải trọng lớn nhất khi tời làm việc.

Điều 314.

Khi tính chọn phanh, hệ số ma sát của má phanh lên puli phanh trong quá trình hãm phải lấy bằng 0,35 đối với má phanh bằng gỗ và 0,30 đối với má phanh bằng vật liệu ép.



Điều 315.

Sau khi nghỉ làm việc dài hạn (ốm, đau) cũng như chuyển sang trục tải khác, người vận hành phải được hướng dẫn và thực hành lại và chỉ được phép điều khiển máy trục sau khi sát hạch đạt yêu cầu và có quyết định của Giám đốc mỏ.



Mục 3. CÁP MÁY TRỤC VÀ TỜI

Điều 316.

Khi chọn cáp cho các trục tải thiết kế mới hoặc đang hoạt động, phải sử dụng cáp trục bện tròn có các sợi tiếp xúc theo đường thẳng và điểm-đường thẳng, hoặc cáp bện ba cạnh kết cấu kín. Trong môi trường ăn mòn phải sử dụng cáp tráng kẽm.



Điều 317.

Trong thời gian bảo quản, ít nhất 1 lần trong năm phải xem xét và bôi mỡ cho cáp. Mỡ phải là loại chống mòn và chống han gỉ cho cáp.



Điều 318.

Trước khi sử dụng phải thử nghiệm cáp hãm phanh dù, cáp cân bằng dưới, cáp treo bơm, cáp treo máy xúc bốc chạy bằng khí nén hoặc các thiết bị khác. Hệ số dự trữ độ bền của các loại cáp trên được tính theo số liệu chứng chỉ của nhà máy chế tạo.



Điều 319.

Để thử nghiệm cáp, phải cắt phần cuối một đoạn không ngắn hơn 1,5m. Đối với những lần thử nghiệm lặp lại, cũng cắt một đoạn cáp dài như vậy trên kẹp cáp cuối cùng hoặc vòng cốt điều chỉnh.



Điều 320.

1. Trước khi sử dụng, cáp phải được thử nghiệm kéo đứt và uốn theo đúng yêu cầu của tiêu chuẩn hiện hành. Các thép hình của cáp xoắn ốc kiểu kín không phải thử nghiệm về uốn.

2. Đoạn cáp gửi đi thử nghiệm phải có lý lịch bao gồm: đơn vị sử dụng cáp, thông số kỹ thuật của cáp, bản sao chứng chỉ thử nghiệm trước đó, bản nhận xét tình trạng của cáp bằng mắt thường. Phải đánh số thứ tự đoạn cáp thử nghiệm, cả hai đầu của đoạn cáp phải được buộc chắc chắn bằng dây thép.

Điều 321.

1. Tải trọng tĩnh tính toán của cáp trục giếng đứng là tổng trọng lượng thùng cũi hoặc thùng skip kể cả cơ cấu móc nối; tải trọng cực đại là trọng lượng cáp có chiều dài từ điểm ra khỏi puli đến điểm bắt chặt vào thùng cũi hoặc thùng skip tại mặt bằng chất tải dưới cùng.

2. Khi trục theo lò nghiêng, tải trọng tĩnh tính toán cũng được tính như trên, nhưng phải tính đến góc nghiêng đường lò và sức cản chuyển động của goòng.

3. Trường hợp thiết bị có cáp cân bằng dưới nặng (trọng lượng trên đơn vị chiều dài lớn hơn cáp trục), khi tính tải trọng tĩnh không lấy trọng lượng cáp trục mà phải lấy trọng lượng cáp cân bằng dưới tại vị trí thùng trục ở mặt bằng chất tải trên cùng.



Điều 322.

1. Đối với trục tải nhiều cáp bện định hình và cáp khép kín, cho phép sử dụng cáp bện tròn có các sợi tiếp xúc theo đường thẳng.

2. Đối với trục tải nhiều cáp dùng để treo, cho phép sử dụng loại cáp cùng một kiểu, cùng một đường kính và cùng một kết cấu, được chế tạo cùng ở một nhà máy, có quy cách sợi và độ dẻo giống nhau.

3. Tại mỗi trục tải nhiều cáp, số lượng cáp xoắn phải và trái phải bằng nhau. Sai lệch giá trị của lực kéo đứt từng cáp riêng biệt không được vượt quá 5% so với lực kéo đứt lớn nhất.

4. Khi một trong các cáp đầu bị hỏng, phải thay mới tất cả các cáp đầu. Trường hợp 1 đến 2 cáp bị hỏng do phá huỷ tính nguyên vẹn về kết cấu khi treo hoặc trong thời kỳ bắt đầu làm việc, cho phép chỉ thay các cáp bị hỏng đó.

Điều 323.

1. Cáp dẫn hướng, cáp truyền động cũng như kéo phải là loại cáp một lớp bện chéo dảnh tròn không bị xổ, có lõi kim loại và đường kính các sợi bên ngoài không nhỏ hơn 2mm hoặc là cáp tráng kẽm có tính năng tương tự.

2. Cáp dẫn hướng của trục tải đào lò phải là loại cáp một lớp dảnh tròn có lõi bằng kim loại hoặc cáp nhiều dảnh với những sợi bên ngoài có đường kính không nhỏ hơn 1,5mm.

Điều 324.

1. Cáp giảm sóc và cáp hãm phanh dù phải là loại cáp dảnh tròn không bị xổ, bện chéo có lõi hữu cơ.

2. Đường kính các sợi bên ngoài của cáp hãm không được nhỏ hơn 2mm.

Điều 325.

Đối với tời máy cào, tời dồn goòng và tời vận chuyển, phải sử dụng cáp một lớp kiểu dảnh có lõi hữu cơ hoặc kim loại.



Điều 326.

Cho phép sử dụng lại cáp thép khi thực hiện đúng yêu cầu của “Quy phạm an toàn trong các hầm lò than và diệp thạch”.



Điều 327.

1. Chậm nhất là 6 tháng kể từ ngày sử dụng và sau đó định kỳ hai tháng một lần, phải kiểm tra bằng dụng cụ đo sự hao mòn tiết diện kim loại của cáp một lớp có lõi hữu cơ, chế tạo bằng sợi sáng (không tráng kẽm). Ngoài ra, công tác kiểm tra phải được thực hiện một lần trong tháng khi khi tiết diện cáp hao mòn đến 12% và 2 tuần một lần khi tiết diện cáp hao mòn đến 15%.

2. Cáp phải được loại và thay mới khi tiết diện hao mòn:

a) Theo thang hệ số an toàn cố định:

- 19% khi đường kính đến 45mm;

- 20% khi đường kính trên 45mm với trục tải chở người;

- 22% khi đường kính trên 45mm đối với trục tải chở vật liệu.

b) Theo thang hệ số an toàn biển đổi:

- 15% khi chiều sâu của giếng đến 900m;

- 10% khi chiều sâu của giếng trên 900m.

3. Các giá trị hao mòn tiết diện kim loại trên được đo bằng dụng cụ đo chuyên dụng. Kết quả đo phải ghi vào "Sổ kiểm tra sử dụng cáp trục".

Điều 328.

Đối với trục tải nhiều cáp, hàng tuần phải kiểm tra sự phân bố tải trọng giữa các cáp đầu khi thùng trục ở vị trí dưới. Việc kiểm tra sự phân bố tải trọng tại vị trí trên của thùng trục phải được tiến hành đồng thời với việc đo hao mòn tiết diện cáp.



Điều 329.

Cáp đầu của trục tải có puli ma sát phải được bôi trơn bằng mỡ chống gỉ (ăn mòn) và ma sát. Tất cả các cáp còn lại đều phải được bôi trơn bằng mỡ cáp chuyên dùng.



Điều 330.

1. Giữa các nhánh của cáp cân bằng dưới ở đáy giếng phải có cơ cấu không cho phép xoắn cáp và loại trừ được khả năng làm đứt cáp dưới khi quá nâng.

2. Vòng treo của cáp cân bằng dưới phải lớn hơn chiều cao quá nâng của thùng trục phía trên.

3. Vòng treo, cũng như cơ cấu căng của cáp cân bằng dưới và cáp hãm không được ngập trong nước.



Điều 331.

Để kiểm tra cáp tải và cáp cân bằng dưới, phải trang bị sàn đặc biệt đảm bảo an toàn khi xem xét và cho phép kiểm tra cáp trên suốt chiều dài trục tải.



Mục 4. TRANG BỊ GIẾNG, THÙNG TRỤC, CƠ CẤU TREO

Điều 332.

1. Để dẫn hướng chuyển động của các thùng trục trong giếng đứng, phải đặt cáp dẫn hướng hoặc đường dẫn hướng cứng (bằng ray, các thanh dẫn).

2. Việc lắp đặt và vận hành cáp dẫn hướng phải theo đúng thiết kế và hướng dẫn về vận hành trục tải mỏ có cáp dẫn hướng.

Điều 333.

Trước khi đưa vào vận hành, các trang bị của giếng (sau khi xây dựng mới, xây dựng lại hoặc thay mới thùng trục), phải thử nghiệm chế độ làm việc với tải trọng tối đa của cáp theo quy định trong suốt 240 giờ.



Điều 334.

1. Để chất liệu vào thùng trục, phải sử dụng đầu đấm chất tải và sàn chất tải chuyên dụng tại các mức trung gian. Trường hợp đặc biệt, khi điều khiển bằng tay cũng như tự động, cho phép sử dụng đầu đấm ở các mức trung gian nếu có tín hiệu và cơ cấu khóa liên động với vị trí của các đầu đấm hoặc sàn chất tải chuyên dụng.

2. Khi nâng và hạ người, các đầu đấm chất tải ở sân giếng dưới phải được loại ra nếu không có phương tiện tự động hạn chế tốc độ (không quá 1,5m/s) thùng cũi lúc đến gần sân giếng.

Điều 335.

1. Đưa goòng vào thùng cũi bằng máy đẩy hoặc bằng độ dốc tự lăn.

2. Chốt chặn, máy đẩy, phanh hành trình và lưới bảo hiểm phải được làm việc liên động với thùng cũi sao cho chúng chỉ đóng điện sau khi thùng cũi được đặt vào đúng bộ phận cam đỡ.

Điều 336.

Xích và cơ cấu treo khi chế tạo mới phải được thử nghiệm tại nhà máy với 3 lần tải cực đại. Kết quả thử nghiệm phải được ghi vào hồ sơ xuất xưởng kèm theo sản phẩm. Treo bảo hiểm có thể bằng xích, kết cấu của xích phải loại trừ được khả năng phát sinh "xoắn nút". Cấm sử dụng xích được chế tạo bằng cách hàn rèn hoặc hàn điện bằng tay.



Điều 337.

Việc nối cáp tải với xích treo sàn, bơm, ống dẫn, bộ phận căng và thiết bị khác phải loại trừ được khả năng tự tháo mối nối.



Điều 338.

Không cho phép thay đổi kết cấu của thùng trục và của đối trọng nếu không có sự thoả thuận với cơ quan thiết kế và nhà máy chế tạo.



Mục 5. TỰ ĐỘNG HOÁ TRỤC TẢI

Điều 339.

Tín hiệu tiêu chuẩn được sử dụng trong trục tải mỏ được quy định như sau:

1. Để báo hiệu chế độ làm việc của trục tải: "người", "vật liệu", "công việc khác", "kiểm tra" - sử dụng tín hiệu bằng ánh sáng;

2. Để khởi động và dừng máy trục sử dụng tín hiệu bằng âm thanh: hai tiếng liên tục - "lên trên", hai tiếng thưa - "từ từ lên", ba tiếng liên tục - "xuống dưới", ba tiếng thưa - "từ từ xuống", một tiếng - "dừng". Bảng chỉ dẫn tín hiệu phải được treo ở tất cả các nơi nhận và phát tín hiệu.



Điều 340.

Hệ thống tự động hoá phải đảm bảo độ tin cậy cho trục tải làm việc không cần sự có mặt thường xuyên của nhân viên phục vụ:

1. Thực hiện liên tục những thao tác nâng vật liệu và thực hiện theo biểu đồ tốc độ đã lập;

2. Ngắt tự động và phanh bảo hiểm máy trục khi vi phạm chế độ làm việc bình thường;

3. Tự kiểm tra hệ thống điều khiển để phòng ngừa tình trạng nguy hiểm của thiết bị.

Điều 341.

1. Trục tải phải điều khiển được ở các chế độ: Tự động, từ xa hoặc bằng tay từ bàn điều khiển trong các trường hợp:

a) Đảm bảo trục vật liệu khi có xung khởi động tự động từ bộ phận chất tải;

b) Người vận hành phát xung khởi động từ một trong ba vị trí: từ bộ phận chất hoặc dỡ tải và từ phòng máy;

c) Điều khiển bằng tay để kiểm tra cáp và giếng, cũng như để sửa chữa.

2. Việc chuyển từ điều khiển bằng tay sang tự động hoặc từ xa chỉ có thể thực hiện sau khi kết thúc các thao tác chất tải vào thùng skip hoặc trao đổi goòng trong thùng cũi, việc chuyển sang chế độ điều khiển bằng tay được tiến hành không phụ thuộc vào các vị trí của thùng trục.



Điều 342.

1. Không cho phép trục tải làm việc trong các trường hợp sau:

a) Má phanh bị mòn quá mức, khe hở giữa vành tang và má phanh lớn hơn 2mm;

b) Tốc độ chuyển động của thùng trục đạt đến 1m/s thì máy chạy ngược;

c) Giá trị giảm tốc tăng gấp đôi so với giá trị tính toán trong quá trình khởi động;

d) Các ổ trục máy và động cơ điện tăng nhiệt độ quá giới hạn cho phép;

đ) Hư hỏng mạch điện hoặc truyền động cơ khí của bộ giới hạn tốc độ;

e) Chạm đất trong các mạch điều khiển và bảo vệ.

2. Phải có nút bấm hoặc bộ ngắt sự cố cho phép tác động phanh bảo hiểm dừng máy trục từ các địa điểm chất tải, dỡ tải.

3. Đối với trục tải truyền động bằng hệ thống máy phát-động cơ, phải bổ sung thêm các hình thức bảo vệ sau đây: bảo vệ cực đại động cơ nâng và máy phát, bảo vệ "không" cho động cơ bộ biến đổi điện lưới khi sự cố, bảo vệ đứt cuộn kích thích của động cơ trục tải, kiểm tra chạm đất trong mạch chính của máy phát và động cơ trục tải.



Điều 343.

Máy trục tải phải được trang bị những thiết bị kiểm tra cho phép kết thúc chu kỳ trục tải và liền sau đó không cho bắt đầu chu kỳ mới đối với các trường hợp chạm đất trong mạch bảo vệ và máy nén khí của hệ thống phanh bị quá nóng.



Điều 344.

1. Sơ đồ điều khiển tự động trục tải phải có các hình thức khoá liên động tin cậy sau đây:

a) Không cho phép máy trục tải làm việc theo chiều tiếp tục quá nâng, nhả hoặc kéo căng cáp sau khi dừng sự cố;

b) Không cho phép máy trục tải làm việc khi thiếu dầu mỡ (chỉ trong trường hợp bôi trơn cưỡng bức);

c) Không cho phép chuyển từ điều khiển bằng tay sang tự động và ngược lại nếu không hãm máy bằng phanh bảo hiểm;

d) Kiểm tra được việc chất tải, dỡ tải bình thường của các thùng trục và ngăn ngừa khởi động máy khi các thùng trục bị hư hỏng;

đ) Kiểm tra được các vị trí cuối của cơ cấu chất tải.

2. Bộ hạn chế tốc độ phải có cấu tạo kép, một trong số đó có thể có truyền động chung với thiết bị điều khiển theo chương trình, bộ phận thứ hai phải có truyền động độc lập. Yêu cầu này không áp dụng đối với các trục tải nhỏ có tốc độ trục 4,5 m/s.



Điều 345.

Thiết bị trục tải được tự động hoá phải có:

1. Tại Bộ phận chỉ huy điều hành sản xuất mỏ: tín hiệu ánh sáng về sự làm việc của trục tải và sự tác động của phanh bảo hiểm, cũng như máy đếm số thùng trục lên;

2. Tại bàn điều khiển của người vận hành: tín hiệu ánh sáng về phanh bảo hiểm, tình trạng thiết bị chất tải và mức tải trong bunke của thiết bị dỡ tải, máy đếm số thùng trục lên, các đồng hồ đo lường điện phù hợp với sơ đồ điều khiển, thiết bị chỉ báo hư hỏng mạch bảo vệ hoặc thiết bị chỉ loại bảo vệ nào đã tác động.



Điều 346.

1. Đối với trục tải chở vật liệu hoặc người, nên sử dụng điều khiển từ xa máy trục từ mặt bằng chất tải, dỡ tải trên.

2. Sơ đồ điều khiển từ xa phải có khả năng điều khiển bằng tay thiết bị từ nhà máy đặt máy trục và điều khiển từ xa từ mặt bằng nhận trên.

3. Việc chọn chế độ làm việc do người vận hành thực hiện bằng bộ chuyển mạch trên bảng điều khiển từ xa của máy trục.

4. Bộ chuyển chế độ làm việc của thiết bị phải được khoá liên động với bộ chuyển mạch của hệ thống tín hiệu "vật liệu-người" sao cho, các thiết bị bảo vệ không cho phép nâng thùng cao hơn mức để người ra vào.

Điều 347.

Trong hệ thống điều khiển từ xa, trục tải chở vật liệu hoặc người phải có khoá liên động loại trừ khả năng điều khiển đồng thời máy trục từ bảng điều khiển từ xa và từ nhà đặt máy trục.

Chương XV

CUNG CẤP ĐIỆN VÀ KHÍ NÉN

Mục 1. CUNG CẤP ĐIỆN

1.1 Quy định chung

Điều 348.

Thông thường, cung cấp điện trong khai thác than hầm lò theo hướng:

1. Đưa nguồn cung cấp 20kV, 35kV, 110kV, 220kV đến gần các trung tâm phụ tải;

2. Sử dụng điện áp 660V, 1140V hoặc cao hơn cung cấp cho các hộ tiêu thụ;

3. Sử dụng các trạm biến áp trọn bộ và biến áp tự động điều chỉnh điện áp.

Điều 349.

Phải lựa chọn các thiết bị điện mỏ có cấp phòng nổ theo thiết kế đúng quy định tại "Quy phạm an toàn trong các hầm lò than và diệp thạch".



Điều 350.

1. Thiết kế và vận hành các thiết bị điện mỏ phải theo tính liên tục cung cấp điện cho các đối tượng đã được xếp hạng (Bảng XV-1).


Bảng XV-1. Xếp hạng các thiết bị mỏ theo tính liên tục cung cấp điện.


STT

Phụ tải

Hạng

Ghi chú




A- Trên mặt bằng mỏ







1

Trục tải thùng cũi của mỏ có hạng bất kỳ về khí và bụi.

I

Từ hai nguồn cung cấp độc lập, không cần tự động đóng dự phòng.

2

Trục tải thùng cũi phụ trợ ở các giếng thông gió.

III




3

Trục tải thùng cũi sự cố trên mặt bằng công nghiệp chính.

I

Từ hai nguồn cung cấp độc lập, không cần tự động đóng dự phòng.

4


Quạt gió chính của mỏ hạng II, III và siêu hạng.

I

Từ hai nguồn cung cấp độc lập, có tự động đóng dự phòng không phụ thuộc vào nơi đặt.

5


Quạt gió chính của mỏ không có khí và hạng I (tất cả hai quạt: một làm việc, một dự phòng.

I

Cho phép cung cấp dự trữ từ trạm phân phối của các thiết bị khác (không cần tự động đóng dự phòng).

6

Quạt gió chính của các khối khai thác riêng biệt

I

Cho phép cung cấp dự trữ từ trạm phân phối của các thiết bị khác (không cần tự động đóng dự phòng).

7

Trục tải thùng skip vận tải than.

II




9

Trục tải thùng skíp vận tải đất đá.

III




10

Trạm khí nén.

II

Đối với các mỏ mà khí nén là dạng năng lượng chính thì xếp vào hạng I.

11

Thiết bị trao đổi goòng trong giếng đặt thùng cũi.

III




12

Băng tải.

III

Không phụ thuộc vào công dụng và nơi đặt.

13

Trạm bơm cao áp của mỏ khai thác bằng sức nước

III

Cung cấp cho vòi phun nước.

14

Trạm bơm chuyển than đường trục chính (vận tải bằng sức nước)

I

Có tự động đóng dự phòng

15


Trạm bơm chân không hút khí:

- đối với mỏ hạng III và siêu hạng.

- đối với mỏ hạng I và II.

I

III






16

Vận tảI bằng dây cáp treo.

III




17

Tổ hợp công nghệ trên mặt bằng hoặc thiết bị tuyển than

III



18


B- Trong hầm lò.

Trạm biến áp ngầm trung tâm


I


Khi có hoặc không có thiết bị bơm. Cho phép không có tự động đóng dự phòng.

19

Trạm biến áp ngầm trung tâm của khối và khu vực khai thác

I




20

Trạm bơm thoát nước:

- Chính;


  • Đặt ở rốn giếng;

  • Khu vực:

+ với lưu lượng chảy vào đến 50m3/h

+ với lưu lượng chảy vào trên 50m3/h


I

II


III
II

Có nguồn dự phòng độc lập.



21

Vận tải bằng đầu tàu điện, TTK (tín hiện hoá, tập trung hoá, khoá liên động và phân xưởng đầu tàu.

III




22

Trục vận chuyển người trong lò nghiêng.

III




23

Thiết bị nâng ở lò nghiêng.

III




24

Thiết bị nâng khu vực.

III




25

Công tác khấu than.

III




26

Công tác chuẩn bị mỏ.

III




27

Trạm bơm vận tải than trung tâm (nâng thuỷ lực).

I

Đặt ở sàn giếng, có tự động đóng dự phòng.

28

Trạm bơm chuyển than.

I

Đặt ở mức khai thác

29

Vận tải trong lò thượng và lò ngầm.

III







C- Các đối tượng có công dụng chung của mỏ







30

Nồi hơi:

- Bơm cấp nước và bơm mạng lưới.

- Các thiết bị còn lại.

III


III




31

Trạm bơm:

- Chống cháy.

- Đường ống dẫn nước sinh hoạt.

- Bơm nước kỹ thuật.


I

III



III

Có tự động đóng dự phòng.




32

Rót than xuống toa đường sắt.

III




33

Nhà hành chính sinh hoạt.

III




34

Gara ôtô.

III




35

Xưởng cơ điện.

III




36

Các kho than, gỗ và vật liệu.

III




37

Chiếu sàng mặt bằng công nghiệp.

III




38

Chiếu sáng trong nhà.

III





D- Các đối tượng xây dựng mỏ

Các thiết bị phục vụ mở vỉa.









39

Trục tải.

II




40

Quạt gió.

II




41

Trạm bơm.

III




42

Nồi hơi.

III





Điều 351.

Phải có đường dây dự phòng cấp điện an toàn và ổn định cho các phụ tải hạng I kê trong Bảng XV-1.



Điều 352.

1. Mỏ hầm lò phải được cung cấp điện ít nhất bằng hai đường dây truyền tải, không phụ thuộc vào giá trị điện áp.

2. Mỗi đường dây truyền tải phải được tính sao cho, một trong chúng không làm việc thì đường dây còn lại vẫn đảm bảo cho tất cả các hộ tiêu thụ làm việc bình thường (với tổn thất điện áp nhỏ hơn mức tối đa cho phép).

3. Trong chế độ định mức, các đường dây cung cấp phải làm việc độc lập và đều phải mang tải.



Điều 353.

1. Đường dây tải điện kép (hai hệ thống đường dây cùng trên cùng một hệ cột) trên không đặt trên các cột được tính với sức gió tăng cường (lớn hơn tốc độ gió cực đại quy định cho vùng) được coi như hai đường dây cung cấp, trừ những trường hợp cung cấp điện cho những mỏ sau:

a) Xếp loại III và siêu hạng theo khí Mêtan và nguy hiểm về phụt khí bất ngờ;

b) Có lưu lượng nước cần thoát bình thường lớn hơn 300m3/h.

2. Những đường dây tải điện kép cung cấp cho các mỏ kể trên chỉ được coi như là một đường dây.

3. Các yêu cầu của Điều này bắt buộc đối với thiết kế cung cấp điện cho các mỏ xây dựng mới và cải tạo.



Điều 354.

Các máy biến áp đặt trong trạm biến áp chính trên mặt bằng công nghiệp mỏ phải làm việc với hệ số tối ưu có tính đến đương lượng kinh tế của công suất phản kháng tại điểm đầu vào.



Điều 355.

Cho phép máy biến áp làm việc ở chế độ quá tải dài hạn theo nguyên tắc 3%, có nghĩa là cứ giảm 10% hệ số điền đầy biểu đồ phụ tải ngày so với 100% được phép tăng 3% tải trên công suất định mức (với điều kiện nhiệt độ cực đại của môi trường xung quanh không quá 350C).



Điều 356.

Thời gian quá tải ngắn hạn sự cố cho phép như sau:

1. Đối với các máy biến áp thông dụng công nghiệp đặt trên mặt bằng công nghiệp mỏ quy định trong Bảng XV-2;

2. Đối với các máy biến áp hầm lò loại khô cho trong Bảng XV-3;

3. Đối với các máy biến áp hầm lò đổ đầy cát thạch anh quy định trong Bảng XV-4.

Điều 357.

Độ lệch điện áp cho phép trên cọc đầu dây của các phụ tải khi làm việc bình thường phải nằm trong giới hạn quy định trong Bảng XV-5.



: data -> documents
documents -> Số: /2010/NĐ-cp cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam
documents -> BỘ KẾ hoạch và ĐẦu tư Số: 10/2015/tt-bkhđt cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
documents -> Ủy ban nhân dân tỉnh phú YÊn cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam
documents -> Ủy ban nhân dân tỉnh phú YÊn cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam
documents -> BỘ CÔng thưƠng giao thông vận tải tài chính cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
documents -> BỘ KẾ hoạch và ĐẦu tư
documents -> Căn cứ Luật Thương mại ngày 14 tháng 6 năm 2005
documents -> BỘ CÔng nghiệp số: 47/2006/QĐ-bcn
documents -> BỘ CÔng nghiệp số: 35/2006/QĐ-bcn
documents -> THÔng tư Quy định thực hiện một số nội dung của Quy chế quản lý cụm công nghiệp ban hành kèm theo Quyết định số 105/2009/QĐ-ttg ngày 19 tháng 8 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ


1   2   3   4   5   6   7   8


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương