An ban/ Edition: unicode fonts



tải về 1.45 Mb.
trang16/17
Chuyển đổi dữ liệu11.06.2018
Kích1.45 Mb.
1   ...   9   10   11   12   13   14   15   16   17

ĐỪNG ĐỂ LẤY CỚ CHỐNG TẦU

MÀ GIỮ LẠI CƠ CHẾ CSVN HIỆN HÀNH
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Geneva, 01.06.2011

Web: http://VietTUDAN.net

Thời sự tuần này được ghi nhận như sau:
3 tàu hải giám của Trung Quốc xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, hôm 26 tháng 5 vừa qua, đã tiến sâu vào phạm vi thềm lục địa ở miền Trung Việt Nam. Tàu 84 và 17, trong số 3 tàu hải giám của Trung Quốc, đã tiến sâu vào phạm vi thềm lục địa ở miền Trung VN và cắt giây cáp thăm dò dầu khí tàu Bình Minh hôm 26.05.2011.”
Hành động này của TQ tạo phẫn nộ trong dân chúng buộc Nhà nước CSVN phải lên tiếng mạnh hơn để phản đối. Trong khi ấy Kinh tế CSVN đang tụt dốc trầm trọng. Lạm phát tăng vọt, Vật gia leo thang phi mã tất nhiên cũng làm dân chúng phẫn nộ, đang nổi dậy đẩy Cơ chế CSVN xuống hố cho rồi.
Lòng dân mang hai cái phẫn nộ: (i) Phẫn nộ đối với TQ có hành động xâm lăng tỏ tường; (ii) Phẫn nộ đối với CSVN vì tham nhũng lãng phí mà tàn phá Kinh tế.
Giữa hai cái Phẫn nộ này, CSVN có thể tráo trở đánh lận con đen để hướng dẫn quần chúng đổ dồn lực vào Phẫn nộ thứ nhất đối với TQ mà quên đi cái Phẫn nộ thứ hai đối với chính đảng CSVN về Kinh tế.
Thực ra hai cái Phẫn nộ có cùng một nguồn tội phạm, đó là chính đảng CSVN. Phải truy về cái nguồn tội phạm ấy để CSVN không thể tráo trở đánh lận con đen chạy tội cho mình về biển thủ, cướp bóc Kinh tế.
Đảng CSVN đã bán đứng Lãnh hải

từ thời Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng
Ngày 14 tháng 09 1958, Phạm Văn Đồng, được lệnh của Hồ Chí Minh, ký công hàm nhìn nhận chủ quyền lãnh hải của Trung Cộng dựa theo bản tuyên bố ngày 4 tháng 09, 1958 của Trung Cộng.
BẢN TỰ TUYÊN BỐ CỦA TRUNG CỘNG

NGÀY 04.09.1958 VỀ HẢI PHẬN
Trang Luật-học http://law.hku.hk/clsourcebook/10033.htm

Dịch ra Việt-ngữ:
Tuyên Bố của Chính Phủ Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc về Lãnh Hải

(Được thông qua trong kỳ họp thứ 100 của Ban Thường Trực Quốc Hội Nhân Dân ngày 4 tháng 9 năm 1958)
Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc nay tuyên bố:
(1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Điều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.
(2) Các đường thẳng nối liền mỗi điểm căn bản của bờ biển trên đất liền và các đảo ngoại biên ngoài khơi được xem là các đường căn bản của lãnh hải dọc theo đất liền Trung Quốc và các đảo ngoài khơi. Phần biển 12 hải lý tính ra từ các đường căn bản là hải phận của Trung Quốc. Phần biển bên trong các đường căn bản, kể cả vịnh Bohai và eo biển Giongzhou, là vùng nội hải của Trung Quốc. Các đảo bên trong các đường căn bản, kể cả đảo Dongyin, đảo Gaodeng, đảo Mazu, đảo Baiquan, đảo Niaoqin, đảo Đại và Tiểu Jinmen, đảo Dadam, đảo Erdan, và đảo Dongdinh, là các đảo thuộc nội hải Trung Quốc.
(3) Nếu không có sự cho phép của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, tất cả máy bay ngoại quốc và tàu bè quân sự không được xâm nhập hải phận Trung Quốc và vùng trời bao trên hải phận này. Bất cứ tàu bè ngoại quốc nào di chuyển trong hải phận Trung Quốc đều phải tuyên thủ các luật lệ liên hệ của Chính Phủ Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc
(4) Điều (2) và (3) bên trên cũng áp dụng cho Đài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc.
Đài Loan và Penghu hiện còn bị cưỡng chiếm bởi Hoa Kỳ. Đây là hành động bất hợp pháp vi phạm sự toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc. Đài Loan và Penghu đang chờ được chiếm lại. Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc có quyền dùng mọi biện pháp thích ứng để lấy lại các phần đất này trong tương lai. Các nước ngoại quốc không nên xen vào các vấn đề nội bộ của Trung Quốc
http://www.trungtamdukien.org/article.php?id_article=1028

Chú thích:

Quần đảo Tây Sa (tên tiếng Tàu) = Quần đảo Hoàng Sa = Paracel Islands

Quần đảo Nam Sa (tên tiếng Tàu) = Quần đảo Trường Sa = Spratly Islands

CÔNG HÀM KÝ BỞI PHẠM VĂN ĐỒNG

THEO LỆNH CỦA HỒ CHÍ MINH

Thủ Tướng Phủ

Nước Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hoà
Thưa Đồng chí Tổng lý,
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ:

Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.
Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc, trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa trên mặt bể.
Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng./.
Kính gửi: Hà-nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958.

Đồng chí Chu An Lai (Ấn ký)

Tổng lý Quốc vụ viện PHẠM VĂN ĐỒNG

Nước Cộng hoà Nhân dân Trung-hoa Thủ tướng Chính Phủ

tại BẮC KINH Nước Việt-nam Dân chủ Cộng Hòa

Với Công Hàm chấp nhận chủ quyền của TQ như vậy, thì :


=> TQ tước đoạt quyền sinh sống của dân Việt Nam về ngư nghiệp. Họ bắn giết ngư dân VN vào đánh cá ở lãnh hải mà Hồ Chí Minh/Phạm Văn Đồng đã bán đứng cho họ.
=> Bao nhiêu tài nguyên, như dầu lửa…, dưới biển thuộc lãnh hải đã bán bởi Công Hàm cũng thuộc về TQ và Việt Nam không có quyền khai thác nữa. TQ bắn tầu Bình Minh và cắt đường dây thăm dò dầu khí vì họ coi tài nguyên đã được chính Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng ký giấy bán cho họ.
Không những chỉ có Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng ký giấy bán Lãnh hải thời ấy, mà sau này, đảng CSVN tiếp tục còn bán Biên giới, nhường những tài nguyên trong nội địa để Trung quốc khai thác, như Bauxite Tây Nguyên chẳng hạn. Đồng thời đảng CSVN còn để hàng hóa TQ thả cửa tràn vào Việt Nam để giết Kinh tế.
Cái tội bán Đất, bán Biển của đảng CSVN là quá tỏ tường vậy.
Đảng CSVN hiện nay có thể tráo trở

hai cái Phẫn nộ để vẫn giữ lại Cơ chế
Oâng ĐỖ HIẾU, phóng viên RFA, ngày 29.05.2011, đã trích dẫn ra một số những tuyên bố Phẫn nộ từ người dân nhân vụ tầu Trung quốc bắn tầu Bình Minh.
Từ Hà Nội, đại tá Hải Quân Quách Hải Lượng, nguyên tùy viên quân sự sứ quán Cộng Hòa Xã Hội Chủ nghĩa Việt Nam tại Trung Quốc. xem đây là một hành động bá quyền nước lớn của nước láng giềng khổng lổ, đáng bị công luận thế giới và toàn dân Việt Nam lên án:
Chúng tôi là những người đã tham gia chỉ huy, thuộc về chính quyền, bây giờ tôi là thường dân, tôi có quyền phát biểu ý kiến của một thường dân.
Tôi xin phép được phản ánh cái tình hình, tinh thần của nhân dân Việt Nam đối với sự kiện này, đã từ lâu và bây giờ ngày càng tăng lên. Nhân dân Việt Nam vô cùng phẩn nộ trước hành động ấy của Trung Quốc.”
Một người dân Saigon, ông Trần Huỳnh Duy Tân, nguyên Tổng giám đốc công ty Internet “Một Kết Nối” nhấn mạnh, là người Việt Nam, ai ai cũng thấy rõ cách khiêu khích đó của tàu giám hải Trung Quốc là không thể chấp nhận được và cần phải có biện pháp chống trả quyết liệt:
Cũng giống như những người Việt Nam khác về thông tin trên báo chí trong cũng như ngoài nước, thời gian vừa qua, tôi thấy rõ ràng là Trung Quốc đã vi phạm chủ quyền lãnh thổ biển của Việt Nam. Tôi mong muốn là nhà nước và nhân dân cả nước đều có biện pháp, có hành động quyết liệt để gìn giữ, lãnh thổ, bờ cõi của đất nước, cần có biện pháp thật sự hữu hiệu trong thời gian tới. Qua báo chí tôi thấy Trung Quốc đang có những biện pháp rất quyết liệt để tranh dành lãnh thổ của Việt Nam.
Tôi mong muốn là nhà nước và nhân dân cả nước đều có biện pháp, có hành động quyết liệt để gìn giữ, lãnh thổ, bờ cõi của đất nước.”
Theo chiều Phẫn nộ của dân chúng đối với TQ và nhất là trong lúc đang gặp việc phá sản Kinh tế làm dân Phẫn nộ với chính mình, CSVN có thể làm mạnh với TQ, đẩy sự Phẫn nộ của dân lên cao đối với TQ trong thâm ý tính toán làm giảm sự Phẫn nộ của dân đối với chính mình về mặt phá sản Kinh tế.
Đảng có thể cho một bộ phận quân đội đứng ra hướng dẫn Phẫn nộ của dân chúng chống TQ. Bộ phận quân đội ấy kêu gọi “chống ngoại xâm “, nhưng dưới quyền điều hành của đảng.
Đảng vẫn còn đó và kêu gọi dân chúng hay chịu khổ cực, nghèo đói, hy sinh để “chống ngoại xâm“. Đây là việc gian trá đánh lận hai cái Phẫn nộ nhằm cứu Cơ chế CSVN đang tụt xuống dốc vỡ tan tành.
Dân phải ý thức: hai cái Phẫn nộ

đều do chính đảng CSVN gây ra
Như đã trình bầy trong đoạn đầu với Công Hàm bán Lãnh hải của Phạm Văn Đồng/Hồ Chí Minh, cái Phẫn nộ đối với TQ cũng là cái Phẫn nộ đối với đảng CSVN đã ký giấy bán nước. Hai cái Phẫn nộ lúc này đều quy về một mối: đảng CSVN tội phạm.
Dân ý thức như vậy, thì đảng CSVN không thể gian giảo đánh lận con đen giữa hai Phẫn nộ. Cả hai Phẫn nộ đều đi đến một quyết định: dân NỔI DẬY dứt bỏ cái Cơ chế CSVN tội phạm.
Câu KẾT LUẬN dứt khoát của Dân tộc Việt Nam như sau:
Người (đảng CSVN) đã mời kẻ cướp (TQ) vào nhà, thì người đó (đảng CSVN) không có quyền lãnh đạo việc chống kẻ cướp (TQ) vậy.”
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Geneva, 01.06.2011

Web: http://VietTUDAN.net


VietTUDAN ------------------------------------------------------- NHAN QUYEN/DAN CHU
LUẬT BIỂU TÌNH NHÌN TỪ… ĐÌNH CÔNG
Phạm Xuân Cần

Nếu chỉ quan tâm đến nhu cầu quản lý xã hội của chính quyền, không xuất phát từ nhu cầu đảm bảo quyền công dân để nghiên cứu, xây dựng và áp dụng, thực thi, thì luật biểu tình vẫn có nguy cơ trở thành luật…cấm biểu tình!
Gần đây dư luận trong và ngoài nước hết sức quan tâm đến việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng giao cho Bộ Công an dự thảo Luật biểu tình. Có thể đây là cơ hội đầu tiên cho một quyền cơ bản của công dân được luật hóa sau sáu mươi sáu năm được trịnh trọng ghi trong Hiến pháp. Không thể không liên hệ động thái này của Thủ tướng với những gì diễn ra ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh trong những ngày tháng 7, tháng 8 vừa qua. Rõ ràng đã chín muồi, nếu không nói là đã muộn cho sự ra đời của bộ luật hết sức quan trọng này. Nhưng, muộn còn hơn không, quyền công dân và nhu cầu quản lý của nhà nước đều trông đợi và kỳ vọng vào luật này. Thế nhưng, nội dung luật biểu tình như thế nào để vừa đảm bảo thực thi quyền dân chủ của dân, vừa đảm bảo yêu cầu quản lý của nhà nước thì luôn là câu hỏi khó cho tất cả các quốc gia. Trong lúc việc xây dựng luật thậm chí còn chưa được khởi động, thì mọi bình luận thực ra cũng chưa có căn cứ. Tuy nhiên, nếu nhìn vào những gì đã xẩy ra với các quy định pháp luật về đình công chúng ta cũng có thể dự báo, dự đoán về số phận luật biểu tình, nếu cách tiếp cận để xây dựng và thực thi luật không có gì thay đổi.
Đứng từ góc độ quyền công dân, thì biểu tình và kể cả đình công là những quyền cơ bản của công dân. Còn nếu đứng về góc độ quản lý xã hội thì biểu tình, đình công và một số dạng phản ứng tập thể khác là xung đột xã hội. Trong lúc đó, theo lý thuyết xung đột, thì xung đột tồn tại khắp mọi nơi, ở mọi mức độ, có nhiều hình thức khác nhau. Và, điều quan trọng là chỉ có thừa nhận sự tồn tại khách quan của xung đột thì mới quản lý và xử lý được xung đột. Tất cả các nước dân chủ pháp quyền trên thế giới đều coi xung đột xã hội là tồn tại tất yếu, thế nhưng nhà nước dù ở chế độ chính trị nào cũng có nhu cầu phải giữ ổn định cho xã hội. Nếu nhà nước độc tài tìm cách đàn áp, thủ tiêu xung đột để giữ ổn định, thì ngược lại các nhà nước dân chủ pháp quyền lại tìm cách thể chế hoá xung đột, nghĩa là đưa xung đột vào khuôn khổ các quy định của pháp luật để quản lý. Từ đó biến xung đột từ chỗ là các hoạt động vô chính phủ, trái luật, trở thành những hoạt động mà nhà nước có thể quản lý được bằng pháp luật.
Những quy định về đình công trong luật lao động, luật công đoàn và việc xây dựng luật biểu tình hiện nay là những cố gắng của nhà nước ta theo hướng thể chế hoá xung đột. Trên thực tế dù quy trình làm luật như thế nào thì nhà nước vẫn giữ quyền chủ động trong xây dựng luật. Điều đó cũng có nghĩa luôn có nguy cơ luật về xung đột thường đặt mục tiêu quản lý xã hội lên trước, lên cao hơn mục tiêu đảm bảo quyền công dân. Mức độ cân bằng, hài hòa giữa hai mục tiêu này phụ thuộc vào trình độ phát triển về dân chủ, pháp quyền của mỗi quốc gia.
Đã có những thống kê chính thức và không chính thức về con số các cuộc đình công từ năm 1995 đến nay. Theo đó, đã có trên dưới 2800 cuộc đình công nếu theo các con số công bố chính thức. Nhưng, một số nhà nghiên cứu lại đưa ra con số lớn hơn, đó là 5400 cuộc, tính trung bình một ngày có 1,1 cuộc đình công. Tuy nhiên, có một kết luận mà người ta dễ thống nhất với nhau, đó là tuyệt đại bộ phận các cuộc đình công ở nước ta từ năm 1995 đến nay đều không do tổ chức công đoàn đứng ra tổ chức và đều không đảm bảo nội dung và trình tự theo quy định của pháp luật. Điều đó cũng có nghĩa là tất cả các cuộc đình công đã xẩy ra đều không phù hợp pháp luật, nếu không nói là trái luật. Hàng nghìn cuộc đình công đã là một vấn đề, nhưng tất cả hàng nghìn cuộc đình công đó đều vi phạm pháp luật, lại là một vấn đề nghiêm trọng hơn. Bản thân các vụ đình công có vấn đề, hay pháp luật về đình công có vấn đề, đã đặt chúng ra ngoài vòng pháp luật? Đây thực sự đang là vấn đề khoa học pháp lý hết sức nghiêm túc và nghiêm trọng, mà các nhà nghiên cứu, các nhà hoạt động công đoàn và các nhà quản lý đang không ngớt tranh luận. Gần đây trong quá trình bàn thảo để bổ sung sửa đổi luật lao động, vấn đề đình công và các quy định pháp luật về đình công một lần nữa lại được tranh luận sôi nổi. Qua những thông tin đã được nêu trên báo chí có thể thấy các nhà nghiên cứu và quản lý đã chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến tất cả các cuộc đình công đều không hợp pháp là vì:
1/ Quy định về quy trình, thủ tục đình công quá nhiêu khê. Trên lý thuyết, muốn đình công hợp pháp thì trước khi đình công phải qua khâu hòa giải. Tuy nhiên, hiện nay chưa một cuộc đình công nào thành công trong quá trình hòa giải, bởi hội đồng hòa giải cơ sở lại là đại diện của người sử dụng lao động. Sau khâu hòa giải này mới thực hiện các thủ tục của quy trình đình công. Theo quy định tại Điều 173 khoản 2 Bộ luật Lao động và Điều 81, 82 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động (1996), quá trình chuẩn bị đình công được tiến hành thông qua các bước cơ bản sau đây: i) Khởi xướng đình công (người khởi xướng có thể là Ban chấp hành công đoàn, hoặc 1/3 số người lao động trong tập thể của doanh nghiệp, hoặc quá nửa số người lao động trong một bộ phận cơ cấu của doanh nghiệp đề nghị). ii) Tổ chức lấy ý kiến của tập thể lao động để xác định số người tán thành đình công bằng cách bỏ phiếu kín hoặc lấy chữ ký (nếu được quá nửa tập thể lao động tán thành đình công thì những người lao động mới được đình công). iii) Trao bản yêu cầu cho người sử dụng lao động, gửi bản thông báo cho cơ quan lao động cấp tỉnh và liên đoàn lao động cấp tỉnh chậm nhất là 3 ngày trước ngày dự kiến đình công. Cũng vì quy định về thủ tục như vậy nên 100% các cuộc đình công đã xảy ra đều vi phạm quy định này. Điều này cho thấy chỉ riêng các quy định hiện hành về thủ tục đình công đã không khả thi.
2/ Tổ chức công đoàn đứng ngoài cuộc. Theo quy định pháp luật đình công phải do BCH công đoàn cơ sở hoặc do BCH công đoàn lâm thời tổ chức và lãnh đạo. Đối với doanh nghiệp chưa có BCH công đoàn cơ sở thì việc tổ chức lãnh đạo đình công phải do đại diện được tập thể lao động cử và việc cử này đã được thông báo với công đoàn cấp trên.
Trên thực tế tổ chức công đoàn cơ sở hiện nay trong các doanh nghiệp dân doanh, liên doanh phần lớn đều là người của giới chủ, ăn lương của chủ, vì vậy dễ hiểu là họ không mặn mà với đình công. Ở các doanh nghiệp nhà nước, hoặc chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước tổ chức công đoàn hầu như vẫn hoạt động theo lối cũ, chủ yếu là “cờ đèn kèn trống”, tổ chức thăm ốm, du lịch bằng tiền của…doanh ngiệp, do giám đốc “cho”. Thậm chí nhiều nơi chủ tịch công đoàn còn do phó giám đốc doanh nghiệp “kiêm nhiệm”. Ở những nơi này nói chuyện công đoàn đứng ra tổ chức đình công khác gì kể chuyện tiếu lâm. Tóm lại, một khi lợi ích của thủ lĩnh công đoàn và lợi ích người lao động không đồng quy, thì việc buộc họ vượt qua một rừng thủ tục để tổ chức đình công chỉ là ảo tưởng.
3/ Ngoài hai nguyên nhân chính trên đây, theo tôi còn có nguyên nhân về nhận thức và tâm lý. Theo thói quen xưa nay chúng ta vẫn hay nhìn các phản ứng tập thể dưới góc nhìn đạo lý. Theo đó, dưới chế độ cũ đình công, biểu tình được coi như là phản ứng chính đáng. Nhưng dưới “chế độ mới”, đình công nói riêng, xung đột nói chung được nhìn như hành vi quá khích, “lệch chuẩn”, “xa lạ với bản chất chế độ” vốn được coi là “phi xung đột”. Mặc dù đình công đã được luật hóa, nhưng hầu như trong tâm lý từ thủ lĩnh công đoàn cho đến người lao động cũng chỉ coi đình công như là thứ gươm thiêng, chỉ thờ, chứ không sử dụng đến, hoặc chỉ cùng bất đắc dĩ mới rút gươm ra khỏi vỏ.
Rõ ràng những quy định không thực tế, quá nhiêu khê, cùng với những nguyên nhân khác về lợi ích, về nhận thức vô hình chung đã vô hiệu hóa, đã đặt gần như 100% các cuộc đình công ra ngoài vòng pháp luật. Các quy định pháp luật về đình công những tưởng là công cụ để thực thi quyền công dân, quyền của người lao động, vô hình chung lại trở thành một cái bẫy để đặt người đình công trước nguy cơ vi phạm pháp luật.
Luật biểu tình hiện nay mới được khởi động để xây dựng, tuy nhiên điều chỉnh hành vi biểu tình (vẫn thường được gọi là “tụ tập đông người”) thì lâu nay chính quyền vẫn sử dụng Nghị định 38/2005/CP ngày 18-3-2005 của Chính phủ về việc quy định một số biện pháp bảo vệ trật tự công cộng như một công cụ chủ yếu. Theo đó, “Việc tụ tập đông người tại nơi công cộng phải đăng ký với UBND có thẩm quyền trước 7 ngày và phải thực hiện đúng nội dung đăng ký. Bản đăng ký phải có nội dung cơ bản: nội dung, mục đích của việc tập trung đông người, địa điểm tập trung, đường đi, sơ đồ lộ trình sẽ đi qua, số người dự kiến tham gia, phương tiện mang theo, nội dung biểu ngữ, khẩu hiệu nếu có. Sau 7 ngày kể từ khi nhận được bản đăng ký, UBND cùng cấp có thẩm quyền và có trách nhiệm xem xét giải quyết việc đăng ký tập trung đông người. Nghị định 38/2005/CP cũng quy định: Chủ tịch UBND cấp cho phép và cấp trên trực tiếp có quyền đình chỉ hoặc hủy bỏ việc tập trung đông người khi xét thấy các hoạt động đó gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự công cộng hoặc vi phạm nội dung đã cho phép. Cũng theo Nghị định 38/2005/CP, khi tập trung đông người mà xảy ra tình trạng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự công cộng hoặc vi phạm nội dung cho phép tùy theo tình hình cụ thể cơ quan chức năng có trách nhiệm thực hiện các biện pháp sau để ổn định tình hình, bảo đảm trật tự và xử lý người vi phạm: thuyết phục, yêu cầu mọi người chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về đảm bảo trật tự công cộng và chấm dứt ngay hành vi vi phạm, cưỡng chế người có hành vi vi phạm rời khỏi địa điểm tập trung đông người trái pháp luật, sử dụng công cụ hỗ trợ và các công cụ, phương tiện khác để đảm bảo trật tự công cộng.” (Trích An ninh Thủ đô “Cần thể hiện lòng yêu nước đúng cách”)
Về tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản pháp quy này nhiều người đã và đang bàn luận. Thực ra, nếu săm soi chữ nghĩa thì Nghị định 38/2005/CP cũng không phải là không tiến bộ như một số người nói. Vấn đề chủ yếu nằm ở cách hiểu và vận dụng. Tôi chỉ muốn đặt ra một câu hỏi: Từ sau khi có Nghị định 38/2005/CP đã có bao nhiêu trường hợp đăng ký với chính quyền để “tụ tập đông người”? Trong số đó bao nhiêu phần trăm được chấp nhận? Nếu từ trước đến nay chưa có ai đăng ký “tụ tập đông người” là lỗi của họ, hoặc đơn giản là họ không biết có quy định này. Nhưng câu hỏi chính đặt ra ở đây là: liệu khi có ai đó “đăng ký tụ tập đông người” thì chính quyền có “cho phép” không? Với cách hiểu và “vận dụng” pháp luật như hiện nay có lẽ không khó để tìm ra câu trả lời.
Như vậy, Nghị định 38 rút cục cũng mới chỉ là công cụ cho chính quyền “quản lý” (ngăn cấm, giải tán, xử lý…) “tụ tập đông người”, chứ chưa thực hiện được chức năng làm hành lang pháp lý cho dân thực hiện một quyền dân chủ cơ bản. Điều này cũng tương tự như những quy định về đình công đã nói ở trên. Rõ ràng từ thực tế thực hiện các quy định về đình công, từ thực tế “vận dụng” Nghị định 38/2005/CP của chính quyền những năm qua, có cơ sở để lo ngại cho luật biểu tình trong tương lai.
Nếu chỉ quan tâm đến nhu cầu quản lý xã hội của chính quyền, không xuất phát từ nhu cầu đảm bảo quyền công dân để nghiên cứu, xây dựng và áp dụng, thực thi, thì luật biểu tình vẫn có nguy cơ trở thành luật…cấm biểu tình!

VietTUDAN -------------------------------------------------------- LUC LUONG TON GIAO

CUỘC ĐỒNG HÀNH VỚI DÂN TỘC

CỦA CÔNG GIÁO VIỆT NAM
Gioan NGUYỄN PHÚC LIÊN,

Cựu Tu sĩ, Địa phận Thanh Hóa

Geneva, 01.11.2011, Lễ Các Thánh

Web: http://VietTUDAN.net

Hôm nay, sau khi thảo luận với một số cựu Tu sĩ Công Giáo, chúng tôi quyết định sẽ xuất bản cuốn sách với đầu đề


CUỘC ĐỒNG HÀNH VỚI DÂN TỘC CỦA CÔNG GIÁO VIỆT NAM“.
Người chủ trương xuất bản và chịu mọi chi chí là NGUYỄN PHÚC LIÊN, cựu Tu sĩ của Địa phận Thanh Hóa, không hề xin hỗ trợ tài chánh của bất cứ ai.
Cuốn sách này, dự trù 600 trang, không có tính cách biện minh cho Công Giáo Việt Nam trước bất cứ những công kích nào thuộc quá khứ hay hiện tại. Mục đích của cuốn sách là trình bầy khách quan những đóng góp của người Công Giáo Việt Nam qua Lịch sử của Công Giáo tại Việt Nam từ thời NGUYỄN TƯỜNG TỘ cho đến nay mà điển hình lúc này là TGM NGÔ QUANG KIỆT.
Cuốn sách được chia làm ba thời kỳ:
1) Từ thời NGUYỄN TƯỠNG TỘ qua TRƯƠNG VĨNH KÝ đến năm 1954.
2) Thời Đệ Nhất Cộng Hoà và Thời Đệ Nhị Cộng Hòa từ 1954 đến 1975
3) Thời Cộng sản Việt Nam chiếm trọn Miền Nam Việt Nam 1975 cho đến nay 2011 mà điển hình lúc này là TGM NGÔ QUANG KIỆT, người can đảm đứng ở đầu sóng ngọn gió cho 1 triệu Giáo dân Miền Bắc và 500 ngàn Giáo dân Thanh Nghệ Tĩnh.
Cuốn sách này cũng không chấp nhận những can thiệp của Vatican, từ Giáo Hoàng đến những Hồng y Ý-tà-lồ mà Cộng sản Việt Nam hay tay sai muốn dùng Ngoại giao để dàn xếp nhử mồi. Người Công Giáo Việt đủ trưởng thành để đối đầu với Cộng sản Việt Nam về những vấn đề nội bộ của Việt Nam mà không cần bất cứ quyền lực nào từ Tôn giáo đến Chính trị từ ngoài can thiệp vào.

Chúng tôi viết những điều trên đây để kêu gọi sự đóng góp Tài liệu và Bài viết cho cuốn sách chứ không có tính cách kêu gọi sự đóng góp tài chánh cho xuất bản hay kêu gọi mua sách vì chúng tôi hoàn toàn dành tài chánh cho việc xuất bản rồi.


Gioan NGUYỄN PHÚC LIÊN,

Cựu Tu sĩ Công giáo, Địa phận Thanh Hóa,

Geneva, 01.11.2011, Lễ Các Thánh,

Web: http://VietTUDAN.net

GIÁO DÂN PHẢI THAM GIA VÀO CHÍNH TRỊ
Đăng Bởi cheoreo Lúc 28/09/11 7:50 Sáng

VRNs (28.09.2011) – Trong thánh lễ cầu nguyện cho Công lý và Hòa bình tại DCCT Sài Gòn tối Chúa Nhật 25/09/2011 vừa qua, bài giảng của linh mục Giuse Nguyễn Thể Hiện, C.Ss.R đã gây ra nơi giáo dân và tất cả những ai tham dự thánh lễ ấy một ý thức mà lâu nay các vị chủ chăn trong GHVN không dám đề cập đến, đó là cần khuyến khích giáo dân tham gia vào chính trị để xây dựng đất nước và đóng góp cho Giáo hội.


Linh mục giảng thuyết không đưa ra tư tưởng hay đường hướng nào mới mẻ của Hội Thánh, nhưng ngài trích lại các văn kiện rất “cũ” nói đến việc khuyến khích giáo dân về quyền được tham dự vào sinh hoạt công cộng và chính trị.
Ngài Trích số 5 của Tông huấn Christifideles Laici (Kitô hữu giáo dân, ngày 31/12/1988 của Chân phúc Gioan Phaolô II): “Chúng ta hãy nghĩ đến vô số xúc phạm đến phẩm giá của con người ngày nay. Một khi không được nhìn nhận và yêu mến theo phẩm giá là hình ảnh sống động của Thiên Chúa (x. St 1,26), thì con người bị biến thành công cụ, thành nô lệ, cho bạo quyền dưới muôn vàn hình thức sai lạc và bỉ ổi. “Thế lực bạo quyền” ấy có thể mang nhiều bộ mặt khác nhau: những ý thức hệ, những quyền lực kinh tế, những hệ thống chính trị phi nhân, những hình thức kỹ trị khoa học, những sự bá chủ tai quái của các phương tiện truyền thông – xã hội một chiều. Một lần nữa, chúng ta đang đối diện với một quần chúng là những anh chị em của chúng ta, bị xúc phạm trong những quyền căn bản, đôi khi là hậu quả của thái độ dung túng quá đáng, thậm chí của sự bất công rành rành của một số luật dân sự: quyền được sống và toàn vẹn thân thể, quyền có nhà ở và việc làm, quyền có gia đình và sinh sản có trách nhiệm, quyền được tham dự vào sinh hoạt công cộng và chính trị, quyền được tự do lương tâm và tuyên xưng niềm tin tôn giáo của mình…
Thế nhưng, bên cạnh những sự khinh miệt và xúc phạm nhân quyền, trong thế giới chúng ta đang sống đây ý thức về nhân phẩm của mọi người vẫn đang ngày càng được phổ biến rộng rãi và được khẳng định mạnh mẽ. Ngày nay, một trào lựu tốt đẹp đang đi đến và tràn ngập hết mọi dân tộc trên trái đất; họ đã ý thức hơn về phẩm giá con người: con người hoàn toàn không phải là một “sự vật” hay một “đồ vật” mà người ta có thể sử dụng, nhưng luôn luôn và chỉ là một “chủ thể” có ý thức và tự do, được mời gọi sống một cách có trách nhiệm trong xã hội và lịch sử, hướng về những giá trị tinh thần và tôn giáo.”
Số 42 của Christifideles Laici: “Để đem đạo vào đời, theo ý nghĩa chúng ta vẫn nói, là phục vụ con người và xã hội, giáo dân tuyệt đối không thể từ chối tham gia vào “chính trị”, tức là những hoạt động đa dạng về kinh tế, xã hội, luật pháp, hành chánh, văn hóa, một chính trị có mục đích cổ võ công ích một cách có tổ chức và qua các định chế. Các Nghị Phụ Thượng-hội-đồng Giám mục [năm 1987] đã nhiều lần khẳng định điều đó, rằng tất cả và từng người đều có quyền và bổn phận tham gia vào chính trị; rằng sự tham gia này có thể rất khác nhau và bổ túc cho nhau về hình thức, về mức độ, về công tác và về trách nhiệm.
Công Đồng Vatican II, trong Hiến chế Gaudium et Spes, tại số 75, xác quyết rằng: “Giáo Hội ca ngợi và quý trọng việc làm của những người vì lợi ích quốc gia mà dấn thân phục vụ con người và nhận lãnh gánh nặng của trách nhiệm này”.
Quả thật, ý thức về việc giáo dân dấn thân vào lãnh vực chính trị còn rất “mới” đối với giáo dân Việt Nam. Có nhiều nguyên nhân lý giải sự “chậm tiến” này. Trong xã hội độc tài đảng trị tại Việt Nam, làm chính trị đồng nghĩa với việc tham gia vào đảng cộng sản, chứ không có một tổ chức chính trị nào khác để giáo dân có thể chọn lựa. Chỉ những ai muốn thăng tiến để được vào các vị trí hàng đầu trong cơ quan, xí nghiệp thì chẳng đặng đừng mới gia nhập đảng cộng sản. Thực lòng họ luôn chống đối đường lối và tư tưởng của đảng cộng sản, họ tham gia chỉ để tiến thân mà thôi.
Linh mục Nguyễn Văn Khải, DCCT nói rằng tại Việt Nam: “Các tổ chức tôn giáo và tín đồ của các tôn giáo không được tự do và bình đẳng trong lãnh vực chính trị, không được nắm các chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước.”. Vì thế, những ai gia nhập đảng cộng sản luôn giấu mình, không cho thiên hạ biết mình là người có tôn giáo, đặc biệt người Công giáo thì lại càng bị kỳ thị nhiều hơn nữa.
Nguyên nhân thứ hai là tại Việt Nam, bất cứ ai nói hay làm khác với đường lối của đảng cộng sản thì bị chụp mũ là phản động và bị cáo buộc vào các tội danh quy định tại các điều 79 và 88 bộ luật hình sự. Vì thế, giáo dân Việt Nam cũng rất sợ dính dáng tới chính trị, đặc biệt ở miền Nam VN.
Thái độ của các chủ chăn trong Hội thánh Công giáo VN cũng là một nguyên nhân làm cho giáo dân không muốn dấn thân vào lãnh vực chính trị. Chính các vị đã không bao giờ triển khai, giúp giáo dân học hỏi và thực hành các văn kiện của Hội thánh về vấn đề này, mặc dù tuổi đời của các văn kiện ấy “trẻ nhất” cũng là 23 như Tông huấn Christifideles Laici trên đây. Còn Hiến chế Gaudium et Spes của Công Đồng Vatican II thì ra đời cách đây đã 46 năm rồi. Đến như Ủy ban Công lý và Hòa bình của HĐGMVN cũng bị rơi vào tình trạng “hiếm muộn” khi mãi đến cuối tháng 5/2011 mới được chào đời. Ủy ban “em út” này bị o ép bởi chính những người sinh ra nó khiến nó cũng khó lòng phát triển một cách bình thường đúng với vai trò và chức năng của nó.
Một hậu quả tất yếu là nếu giáo dân không dấn thân vào chính trị thì chính Hội Thánh sẽ bị thiệt hại, chứ không ai khác. Một bộ luật của quốc gia nếu ban hành mà các thành viên được quyền bỏ phiếu đều là những người chống Hội Thánh thì khi ra đời luật ấy sẽ chống lại và loại trừ Hội Thánh. Khi ấy, Hội Thánh phải chịu thiệt thòi và bị ức hiếp là cái chắc.
Ngày 11/4/2011, Pháp chính thức trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giới cấm người dân đeo mạng che mặt ở các địa điểm công cộng. Luật này đã gây phẫn nộ trong cộng đồng Hồi giáo vì đó là một sự lăng mạ đối với quyền tự do ngôn luận và tôn giáo của công dân. Tuy nhiên, Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy đã vận động quốc hội thông qua lệnh cấm này từ gần hai năm trước. Theo ông, mạng che mặt là công cụ cầm tù phụ nữ và chống lại các giá trị về danh dự, bình đẳng của Pháp!??? Luật cấm đeo mạng che mặt ở nơi công cộng nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của dư luận khi quốc hội phê chuẩn nó năm ngoái, AP cho biết. (http://www.baoyenbai.com.vn/18/72078/Phap_cam_nguoi_dan_che_mat_noi_cong_cong.htm) . Xã hội tục hóa Pháp đã loại trừ Hội Thánh.
Giữa năm 2010, Tòa Án nhân quyền Âu Châu cấm treo Thánh giá trong các trường công lập tại Ý. Tòa thánh đã nhiều lần lên tiếng phán đối phán quyết của Tòa án nhân quyền Âu châu. Tại sao thế? Bởi những kẻ chống phá Hội thánh, rất đông đảo, đang nắm quyền trong cơ quan quyền lực.
Nếu người Công giáo Việt Nam xa lạ với chính trị thì tương lai Hội thánh sẽ không có tiếng nói trong xã hội dân sự về những vấn đề liên quan đến đời sống đức tin. Giả sử một ngày nào đó quốc hội VN bỏ phiếu cấm đeo thánh giá nơi công cộng, không biết Hội thánh sẽ phản ứng ra sao? Nếu từ trước tới nay Hội thánh đã im lặng trong mọi vấn đề thì lúc ấy cũng vẫn chỉ là im lặng.
Lời thúc bách của Tông huấn Kitô hữu giáo dân, số 42 vẫn còn xa lạ với người Công giáo Việt Nam “giáo dân tuyệt đối không thể từ chối tham gia vào ‘chính trị’”.



1   ...   9   10   11   12   13   14   15   16   17


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương