Đa dạng sinh họC Ở việt nam


III. CÔNG ƯỚC VỀ CÁC VÙNG ĐẤT NGẬP NƯỚC (RAMSAR)



tải về 276.54 Kb.
trang3/3
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích276.54 Kb.
1   2   3

III. CÔNG ƯỚC VỀ CÁC VÙNG ĐẤT NGẬP NƯỚC (RAMSAR)

1. Nội dung chính và nghĩa vụ của các nước thành viên

Công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của loài chim nước (công ước RAMSAR) được thông qua tại Ramsar (IRan) ngày 2/2/1971 và có hiệu lực ngày 21/12/1975. Đến 7/10/1997 đã có l03 quốc gia là thành viên của Công ước. Việt Nam tham gia Công ước vào ngày 20/1/1989.

Mục đích chủ yếu của Công ước về các vùng đất ngập nước là bảo tồn và sử dụng một cách hiểu biết các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng cho sự cư trú của loài chim nước. Nghĩa vụ của các bên khi tham gia Công ước bao gồm:

- Chỉ định những vùng đất ngập nước thích hợp trong phạm vi lãnh thổ của mình để đưa vào Danh mục các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế.

- Các bên tham gia phải xây dựng và thực hiện các kế hoạch để tăng cường bảo tồn các vùng đất ngập nước thuộc danh mục và trong khả năng có thể sử dụng một cách khôn khéo vùng đất ngập nước trong lãnh thổ của mình.

- Các bên tham gia phải thông báo trong thời gian sớm nhất có thể nếu đặc tính sinh thái hoặc bất kỳ vùng đất ngập nước trong lãnh thổ của mình nằm trong danh mục có sự thay đổi, đang thay đổi hoặc có chiều hướng thay đổi do sự phát triển công nghệ, ô nhiễm hoặc tác động con người.

- Các Bên tham gia, thông qua việc quản lý sẽ cố gắng làm tăng trưởng số lượng chim nước ở các vùng đất ngập nước thích hợp.

- Các bên tham gia sẽ nỗ lực phối hợp và ủng hộ các chính sách hiện tại và tường lai và các quy chế liên quan đến việc bảo tồn các vùng đất ngập nước và hệ động, thực vật của chúng.

- Các bên cử những người có trách nhiệm bảo vệ các khu bảo tồn thiên nhiên.

- Các bên hợp tác và tư vấn lẫn nhau trong thực hiện các Công ước, đặc biệt với các vùng đất ngập nước chung, các hệ thống nước chung và các loài động vật chung (có nghĩa là các vùng đất ngập nước, các hệ thống hoặc các loài động thực vật mở rộng vượt khỏi lãnh thổ của một quốc gia thành viên.



2. Tổ chức thực hiện Công ước

Do đặc thù của Công ước là chỉ đề cập đến việc bảo tồn và sử dụng các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng cho sự cư trú của loài chim nước nên mối liên hệ giữa các yêu cầu của công ước với các quy định của pháp luật cũng có phần hạn chế. Mặc dù, hiện tại, những vấn đề pháp lý về quản lý đất ngập nước được thể hiện trong nhiều văn bản pháp luật có liên quan, như: Luật Tài nguyên nước 1998, Luật Thủy sản 2003, Luật Đất đai 2003, Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004, Luật Bảo vệ môi trường 2005…, song những văn bản này thường chỉ đề cập đến từng khía cạnh bảo tồn, khai thác, sử dụng, phát triển tài nguyên đất ngập nước và hệ sinh thái đất ngập nước. Quản lý tổng thể về đất ngập nước được đề cập trong Nghị định số 109/2003/NĐ-CP ngày 23/9/2003 của Chính phủ về bảo tồn và phát triển bền vững đất ngập nước. Đồng thời, theo chức năng, nhiệm vụ được giao, ngày 5/4/2004 Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quyết định số 04/2004/QĐ-BTNMT phê duyệt Kế hoạch hành động về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước giai đoạn 2004-2010, với mục tiêu: Bảo tồn và phát triển bền vững đất ngập nước ở Việt Nam nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường và đa dạng sinh học.

Những yêu cầu của Công ước đã được nội luật hóa tương đối đầy đủ và được thực hiện nghiêm túc tại Việt Nam trong thời gian qua, gồm: (i) Yêu cầu đề xuất ít nhất một vùng đất ngập nước vào danh sách các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế; (ii) Yêu cầu xây dựng và thực hiện các kế hoạch để tăng cường bảo tồn các vùng đất ngập nước; (iii) Cử những người có trách nhiệm bảo vệ các khu bảo tồn thiên nhiên… Đặc biệt là việc đáp ứng các yêu cầu ban hành tiêu chuẩn về đăng ký và quản lý các vùng đã đăng ký. Hiện tại, các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật có liên quan tới việc quản lý, sử dụng bền vững đất ngập nước đã được xây dựng và áp dụng.

Có một số yêu cầu mang tính chất khuyến nghị cũng đã được Việt Nam triển khai, như yêu cầu các bên tham gia thông qua việc quản lý sẽ cố gắng làm tăng trưởng số lượng chim nước ở các vùng đất ngập nước thích hợp.



IV. CÔNG ƯỚC VỀ BUÔN BÁN QUỐC TẾ CÁC LOÀI BỊ ĐE DỌA TUYỆT CHỦNG (CITES)

1. Nội dung chính và nghĩa vụ của các nước thành viên

Để bảo vệ động, thực vật hoang dã khỏi bị tuyệt chủng, đứng trước việc buôn bán các loài động, thực vật hoang dã ngày một gia tăng trên thế giới, năm 1973 tại Washingtơn DC (USA), các nước trên thế giới đã trao đổi đi đến thông qua Công ước về Buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã nguy cấp (viết tắt là CITES). Công ước này có hiệu lực từ ngày 1/7/1975. Cho đến nay đã có 175 quốc và vùng lãnh thổ tham gia Công ước.Việt Nam chính thức tham gia Công ước từ ngày 29/1/1994.

Những nước thành viên tham gia Công ước thực hiện việc cấm buôn bán quốc tế các loài có nguy cơ tuyệt chủng trong một danh sách đã được thoả thuận, điều phối và giám sát buôn bán các loài khác nếu cho buôn bán tự do sẽ trở thành các loài có nguy cơ tuyệt chủng. Biện pháp mà Công ước CITES vận dụng để thực hiện nhiệm vụ trên bằng cách lập danh sách các loài động thực vật hoang dã theo 3 phụ lục khác nhau. Cụ thể:

Phụ lục 1: Danh sách các loài có nguy cơ bị tuyệt chủng, do đó cấm buôn bán và trao đổi có tính chất thương mại giữa các nước trên thế giới. Việc trao đổi các loài được ghi trong Phụ lục 1 của Công ước CITES chỉ được phép cho các mục đích không mang tính thương mại và được quản lý thông qua hệ thống giấy phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu cho mục đích phi thương mại. Theo đó:

Phụ lục 2: Danh sách các loài có thể trở thành những loài có nguy cơ bị tuyệt chủng do buôn bán quốc tế quá mức, không được kiểm soát và điều chỉnh kịp thời. Hay nói cách khác, đó là tất cả những loài mặc dù hiện chưa bị đe doạ tuyệt diệt nhưng có thể dẫn đến điều đó nếu việc buôn bán những mẫu vật của chúng không tuân theo những quy chế nghiêm ngặt nhằm tránh việc sử dụng không phù hợp với sự tồn tại của chúng.

Phụ lục 3: Danh sách các loài được các nước thành viên sử dụng để kiểm soát các loài động vật, thực vật hoang dã của nước mình mà chưa đưa vào trong Phụ lục 1 và Phụ lục 2. Hay nói cách khác, đó là tất cả các loài mà mỗi nước thành viên quy định theo luật pháp của họ nhằm ngăn chặn hoặc hạn chế việc khai thác và cần thiết phải có sự hợp tác với các nước thành viên khác để kiểm soát việc buôn bán.

2. Tổ chức thực hiện Công ước

(1) Trong số các điều ước quốc tế có liên quan trực tiếp đến đa dạng sinh học mà Việt Nam đã tham gia, ký kết, các yêu cầu của Công ước CITES có thể xem là được đáp ứng đầy đủ nhất trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Ngoài các quy định chung trong Luật Thủy sản 2003, Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004, Luật Bảo vệ môi trường 2005, Bộ Luật hình sự 1999.

(2) Việt Nam cũng đã xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia về tăng cường kiểm soát buôn bán động vật, thực vật hoang dã. Đây là một trong những cơ sở pháp lý quan trọng nhằm kết hợp sức mạnh tổng hợp giữa các ngành, lĩnh vực trên phạm vi toàn quốc để kiểm soát và tiến tới chấm dứt tình trạng buôn bán bất hợp pháp và không bền vững các loài động vật, thực vật hoang dã.

(3) Đã xây dựng 3 Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã ở 3 miền: miền Bắc (Hà Nội), miền Trung (Đà Nẵng), miền Nam (T.p Hồ Chí Minh); đã thành lập Văn phòng CITES Việt Nam. Văn phòng có chức năng thường trực cho cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam.

(4) Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường thuộc Đại học quốc gia Hà Nội là hai cơ quan thẩm quyền khoa học CITES có chức năng tư vấn về khoa học cho cơ quan thẩm quyền quản lý CITES Việt Nam.

V. CÔNG ƯỚC BẢO TỒN CÁC DI SẢN THẾ GIỚI

1. Nội dung chính và nghĩa vụ của các nước thành viên

Công ước quốc tế này được thông qua dưới sự bảo trợ của Tổ chức văn hoá, khoa học và giáo dục của Liên hiệp quốc (UNESCO) ngày 16/11/1972. Công ước bảo vệ và bảo tồn các khu vực trên thế giới có giá trị văn hoá và thiên nhiên đặc biệt. Việc bảo vệ nhằm mục đích bảo tồn di sản của những khu vực này cho các thế hệ tương lai. Các vùng quan trọng về văn hoá và thiên nhiên được đưa vào danh sách di sản thế giới. Việt Nam đã chấp thuận Công ước vào ngày 19/10/1987. Các nước thành viên có các nghĩa vụ chính sau đây:

- Mỗi thành viên tham gia Công ước có nhiệm vụ bảo đảm việc xác nhận, bảo tồn, trưng bày và lưu truyền cho thế hệ tương lai đối với các di sản văn hoá và tự nhiên và đặt ở lãnh thổ thuộc quyền quốc gia đó.

- Ban hành một chính sách chung nhằm mục đích cho di sản văn hoá và tự nhiên một chức năng trong đời sống của cộng đồng và kết hợp việc bảo vệ di sản đó vào các chương trình, kế hoạch toàn diện.

- Thành lập trên lãnh thổ của mình (trong trường hợp chưa có) một hoặc một vài cơ quan bảo vệ, bảo tồn và tôn tạo di sản văn hoá và tự nhiên, có số nhân viên thích hợp và có đủ phương tiện thực hiện các nhiệm vụ được giao.

- Tạo điều kiện thuận lợi cho việc thành lập hoặc phát triển các trung tâm quốc gia hoặc vùng về đào tạo cán bộ trong lĩnh vực bảo vệ, bảo tồn và tôn tạo di sản văn hoá và tự nhiên, khuyến khích việc nghiên cứu khoa học về lĩnh vực này.

- Mỗi một nước tham gia vào Công ước này đề đạt cho Ủy ban Di sản Thế giới, trong phạm vi có thể, một bản kiểm kê các tài sản của di sản văn hoá và tự nhiên nằm trên lãnh thổ của mình.

- Các thành viên phải nâng cao ý thức của dân chúng đối với các di sản trong danh mục bằng các chương trình giáo dục, đào tạo, các báo cáo thường xuyên cho Uỷ ban Di sản Thế giới về những hoạt động của mình nhằm bảo vệ những điểm ghi trong danh mục di sản thế giới.



2. Tổ chức thực hiện Công ước

(1) Luật Bảo vệ và phát triển rừng 2004, Luật Bảo vệ môi trường 2005, Luật Du lịch 2005, … cũng đã có một số điều khoản đáp ứng các yêu cầu của Công ước, như: (i) Giá trị di sản tự nhiên của thế giới được xem là một trong những căn cứ để lập quy hoạch khu bảo tồn thiên nhiên; (ii) Việc xác định, bảo vệ, bảo tồn, tôn tạo và khôi phục di sản được thực hiện bằng các biện pháp thích hợp về pháp lý, khoa học, kỹ thuật, hành chính và tài chính; (iii) Đã công nhận 2 di sản thiên nhiên thế giới tại Việt Nam và kiểm kê các tài sản của di sản văn hóa và tự nhiên nằm trong lãnh thổ Việt Nam.



(2) Yêu cầu ban hành một chính sách chung nhằm mục đích cho di sản văn hoá và tự nhiên một chức năng trong đời sống của cộng đồng và kết hợp việc bảo vệ di sản đó vào các chương trình, kế hoạch toàn diện cũng đã được đáp ứng thông qua việc ban hành Luật Di sản văn hóa 2003. Tuy nhiên, xung quanh việc đáp ứng yêu cầu này hiện cũng đang có nhiều ý kiến và cách hiểu khác nhau:

Một là, Luật Di sản văn hóa 2003 điều chỉnh cả các quan hệ về bảo vệ di sản văn hóa và di sản thiên nhiên. Yêu cầu về bảo vệ di sản tự nhiên được đề cập trong các quy định về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể (Mục 1 Chương IV - Di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh), trong đó xác định khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, hệ sinh thái đặc thù hoặc khu vực thiên nhiên chứa đựng những dấu tích vật chất về các giai đoạn của Trái đất được xem là một trong những tiêu chí để xác định danh lam thắng cảnh. Hay nói khác đi, theo quan niệm của Việt Nam được thể hiện trong Luật Di sản văn hóa 2003 thì di sản tự nhiên là một yếu tố hợp thành của di sản văn hóa (do khu vực thiên nhiên có các giá trị nêu trên là một yếu tố của danh lam thắng cảnh thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Di sản văn hóa 2003).

Hai là, Luật Di sản văn hóa 2003 mới chỉ đáp ứng phần lớn các yêu cầu của Công ước liên quan đến bảo vệ di sản văn hóa. Các yêu cầu liên quan đến di sản tự nhiên chưa được đáp ứng một cách đầy đủ, do phạm vi điều chỉnh của Luật chỉ đề cập đến các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; xác định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đối với di sản văn hóa. Theo định nghĩa của Công ước thì thắng cảnh cũng chỉ là một thành tố của di sản văn hóa mà thôi. Ngoài ra, Điều 3 của Công ước còn yêu cầu mỗi quốc gia tham gia Công ước cần phải xác định và phân định những tài nguyên khác nhau nằm trong lãnh thổ của mình tương ứng với các định nghĩa của Công ước về di sản văn hóa và di sản tự nhiên. Như vậy, theo quy định này thì di sản văn hóa và di sản tự nhiên được xem là hai nguồn tài nguyên hoàn toàn khác nhau. Do vậy, chúng cần phải được bảo vệ theo những cách thức khác nhau.

Phần thứ tư

THAM KHẢO CÁC VĂN BẢN LUẬT LIÊN QUAN

ĐẾN ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA CÁC NƯỚC
I. CÁC VĂN BẢN LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA CÁC NƯỚC ĐƯỢC THAM KHẢO TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG DỰ ÁN LUẬT ĐA DẠNG SINH HỌC


TT

Tên luật

Năm

Nước

1

Luật Bảo vệ hệ động vật hoang dã

1994

Anbani

2

Luật Bảo vệ đời sống hoang dã

2003

Ấn Độ

3

Luật Đa dạng sinh học

2003

Ấn Độ

4

Luật Bảo vệ động vật

1997

Ba Lan

5

Luật Đa dạng sinh học và bảo vệ tri thức cộng đồng

1998

Banglađet

6

Luật Bảo vệ giống thực vật mới

2000

Belize

7

Luật Bảo tồn thiên nhiên và rừng

1995

Bhutan

8

Luật Bảo vệ thiên nhiên

2004

Bosnia và Herzegovina

9

Luật Bảo vệ giống thực vật

1997

Braxin

10

Luật Bảo vệ thiên nhiên

1991

Bungari

11

Luật Khu bảo tồn

1998

Bungari

12

Luật Đa dạng sinh học

2002

Bungari

13

Luật Đời sống hoang dã




Canađa

14

Luật Đa dạng sinh học

1998

Costa Rica

15

Luật Bảo tồn đời sống hoang dã

1994

Đài Loan

16

Luật Bảo tồn thiên nhiên

2002

Đức

17

Luật Bảo tồn thiên nhiên

1996

Hungari

18

Luật Bảo tồn thiên nhiên

1999

Iceland

19

Luật Bảo vệ các giống thực vật

2000

Inđônêxia

20

Luật Đời sống hoang dã

1976

Ireland

21

Luật Đời sống hoang dã

1997

Lithuania

22

Luật Bảo vệ đời sống hoang dã

1997

Malaixia

23

Luật Đa dạng sinh học rừng

1997

Mỹ

24

Luật Đời sống hoang dã và công viên quốc gia

1992

Malawi

25

Luật Đời sống hoang dã

1981

Na Uy

26

Luật Khu bảo tồn

2003

Nam Phi

27

Luật Đa dạng sinh học

2004

Nam Phi

28

Luật Bảo tồn thiên nhiên

1957

Nhật Bản

29

Luật Bảo tồn hệ động vật và thực vật hoang dã bị đe doạ

1994

Nhật Bản

30

Luật về các loài sinh vật lạ

2004

Nhật Bản

31

Luật BVMT và Bảo tồn đa dạng sinh học

1999

Ôxtrâylia

32

Luật Bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học

2000

Pêru

33

Luật Bảo tồn thiên nhiên

1996

Phần Lan

34

Luật Bảo vệ và bảo tồn các tài nguyên hoang dã

2001

Phillipin

35

Luật Bảo tồn thiên nhiên

1992

Queensland

36

Luật Bảo tồn thiên nhiên

2004

Scotland

37

Luật Bảo vệ các loài bị đe doạ

1989

Singapo

38

Luật Bảo tồn thiên nhiên

1999

Slovenia

39

Luật Bảo vệ các giống thực vật

1999

Thái Lan

40

Luật Bảo vệ đời sống hoang dã

1991

Trung Quốc

41

Luật hạt giống, nhân giống và các giống thực vật mới

1999

Tunisia

42

Luật Đa dạng sinh học

2000

Vênêzuêla

II. PHẠM VI ĐIỀU CHỈNH, KẾT CẤU VÀ NỘI DUNG CHÍNH CỦA LUẬT VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC CỦA CÁC NƯỚC

1. Phạm vi điều chỉnh

Nước

Phạm vi điều chỉnh

Bănglađet

Quy định về bảo tồn tài nguyên di truyền, đa dạng sinh học và tri thức liên quan; tiếp cận nguồn gen và trao đổi giữa các cộng đồng; thành lập cơ quan quản lý quốc gia và hệ thống thông tin quốc gia về đa dạng sinh học; quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân đối với bảo tồn tài nguyên di truyền và đa dạng sinh học; nguồn tài chính cho đa dạng sinh học

Costa-Rica

Bảo tồn đa dạng sinh học và sử dụng bền vững các nguồn lực, tiếp cận nguồn gen, đa dạng sinh học và bảo vệ tri trức liên quan; bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp và sở hữu trí tuệ; phân phối công bằng lợi ích và chi phí phát sinh trong việc sử dụng các thành phần của đa dạng sinh học; chi trả dịch vụ môi trường; an ninh môi trường (cơ chế an toàn sinh học); chức năng của các tổ chức quản lý đa dạng sinh học

Bungari

Bảo tồn và sử dụng bền vững ĐDSH; chức năng quản lý và giám sát bảo tồn đa dạng sinh học của các cơ quan nhà nước

Nam Phi

Bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học bản địa; tiếp cận nguồn gen, đa dạng sinh học và chia sẻ công bằng và hợp lý các lợi ích từ họat động thăm dò sinh học từ các nguồn tài nguyên đa dạng sinh học bản địa và tri thức liên quan; quy hoạch và giám sát đa dạng sinh học; sinh vật ngoại lai và sinh vật ngoại lai xâm hại; thành lập và chức năng của các cơ quan quản lý nhà nước về đa dạng sinh học.

Pêru

Bảo tồn và sử dụng bền vững những thành phần ĐDSH; chia sẻ công bằng và hợp lý các lợi ích nhận được từ các nguồn tài nguyên đa dạng sinh học và tri thức liên quan; quy hoạch đa dạng sinh học

Ấn Độ

Bảo tồn và sử dụng bền vững những thành phần ĐDSH; chia sẻ công bằng và hợp lý các lợi ích nhận được từ các nguồn tài nguyên đa dạng sinh học và tri thức liên quan

Vênêzuêla

Bảo tồn và sử dụng bền vững những thành phần ĐDSH; chia sẻ công bằng và hợp lý các lợi ích nhận được từ các nguồn tài nguyên đa dạng sinh học và tri thức liên quan; quy hoạch đa dạng sinh học

Tóm lại, Luật Đa dạng sinh học của các nước trên đây đều có chung phạm vi điều chỉnh, đó là bảo tồn và sử dụng bền vững những thành phần ĐDSH; chia sẻ công bằng và hợp lý các lợi ích nhận được từ các nguồn tài nguyên đa dạng sinh học và tri thức liên quan; quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân đối với bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học.

Ở các nước trên, trách nhiệm quản lý và sử dụng đa dạng sinh học được thống nhất ở bộ quản lý về tài nguyên và môi trường. Vì vậy, phạm vi điều chỉnh của Luật bao gồm cả bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học.



2. Kết cấu và nội dung

Kết cấu và nội dung của Luật Đa dạng sinh học của các nước tuy có khác nhau, tuy nhiên từ phạm vi điều chỉnh cho thấy cấu trúc của các luật đều có một số nội dung chính sau:

(1) Những quy định chung: quy định về phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, mục tiêu, giải thích từ ngữ, nguyên tắc bảo tồn và sử dụng bền vững những thành phần ĐDSH.

(2) Quy họach đa dạng sinh học: quy định về việc xây dựng kế hoạch tổng thể bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia, mục đích bảo tồn và các biện pháp bảo đảm đạt được các mục tiêu đó; nội dung của quy hoạch đa dạng sinh học trên cơ sở các chiến lược, chương trình và kế hoạch hành động được lồng ghép với những kế hoạch và chính sách ưu tiên của quốc gia; trách nhiệm của các Bộ, ngành liên quan; các định hướng thành lập các khu bảo tồn, các hành lang đa dạng sinh học và các hệ thống và khu vực nhạy cảm môi trường; các nguyên tắc thành lập và hoạt động của các hệ thống quan trắc, thu thập dữ liệu, đăng ký và đánh giá các giá trị tự nhiên; các quy định về đánh giá tác động môi trường; xây dựng các kế hoạch vùng và kế hoạch quản lý đa dạng sinh học; xác định các lĩnh vực và đối tượng ưu tiên bảo tồn; quy định cơ chế phối hợp liên ngành để thực hiện các kế hoạch trên; xây dựng cơ chế đánh giá kinh tế đa dạng sinh học và lồng ghép nó vào lợi ích quốc gia; khuyến khích sự tham gia của các cơ quan trung ương và địa phương và các chương trình, kế hoạch quản lý và bảo tồn đa dạng sinh học.

(3) Bảo tồn và phát triển bền vững các hệ sinh thái tự nhiên: quy định về thành lập các loại khu bảo tồn; xác định mục đích và phân hạng khu bảo tồn: vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu vực bảo vệ cảnh quan, khu di sản văn hoá và tự nhiên, khu bảo vệ sinh quyển, v.v…; các tiêu chí thành lập cho từng loại khu; nguyên tắc quản lý, cơ chế hoạt động và các quy định trong các khu bảo tồn; quy định và xác định vùng lõi và vùng đệm; quy định cơ chế hỗ trợ cộng đồng xung quanh và vùng lân cận khu bảo tồn; quy định cấp phép cho các hoạt động trong khu bảo tồn; mối quan hệ giữa các khu bảo tồn (quốc gia và địa phương quản lý); xây dựng kế hoạch quản lý và cơ chế quản lý và bảo vệ chung; kinh phí cho khu bảo tồn; phân khu chức năng trong khu bảo tồn.

Quy định việc xây dựng quy hoạch cảnh quan đối với những khu vực cần bảo vệ và đánh giá tác động môi trường; lập danh mục các hệ sinh thái bị đe doạ và các hệ sinh thái cần được bảo vệ; thành lập hành lang bảo tồn đa dạng sinh học hoặc hành lang sinh thái để bảo vệ đa dạng sinh học.

(4) Bảo tồn và phát triển bền vững các loài hoang dã: quy định về xây dựng danh mục các loài bị đe doạ (nguy cấp) và các loài cần được bảo vệ; tiêu chuẩn bảo vệ, sử dụng, vận chuyển, xuất, nhập khẩu, buôn bán và trao đổi các loài động vật, thực vật và các bộ phận của chúng; săn bắn và đánh bắt các loài hoang dã; công cụ và biện pháp săn bắn và đánh bắt các loài hoang dã; nhân giống và nuôi nhốt các loài động vật hoang dã quý hiếm; sử dụng các loài cho mục đích nghiên cứu khoa học, văn hoá, giáo dục đào tạo và mỹ học; thành lập và quản lý các trung tâm cứu hộ động vật; cấp phép và sử dụng giấy phép săn bắn, thuần hoá, gây giống, xuất nhập khẩu, du nhập hoặc tái du nhập và sử dụng các loài hoang dã; trả phí sử dụng tài nguyên hoang dã để bảo vệ và quản lý chúng; bảo tồn nội vi, ngoại vi và dựa vào cộng đồng.

(5) Tiếp cận, đánh giá nguồn gen và chia sẻ lợi ích; lưu giữ và bảo quản mẫu vật di truyền: quy định về các quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân được giao quản lý nguồn gen, cơ chế khuyến khích việc sử dụng tri thức và công nghệ truyền thống, bảo đảm cộng đồng có quyền tiếp cận và sử dụng các nguồn gen, bảo vệ tri thức truyền thống và công nghệ do họ quản lý; quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được cấp phép tiếp cận nguồn gen; chia sẻ lợi ích từ việc tiếp cận nguồn gen và đa dạng sinh học; những người tiếp cận và thu thập hoặc thăm dò sinh học với mục đích thương mại phải trả phí và chia sẻ công bằng và hợp lý các lợi ích về việc chuyển giao công nghệ và chia sẻ kiến thức và khoa học; quyền trao đổi các nguồn gen và vật liệu di truyền; cấp phép đối với việc tiếp cận các nguồn gen; lưu giữ và bảo quản mẫu vật di truyền; xây dựng ngân hàng gen.

(6) Quản lý an toàn sinh học sinh vật biến đổi gen và kiểm soát các loài ngoại lai xâm hại môi trường: quy định về cơ chế quy trình an toàn sinh học vì mục đích nghiên cứu, phát triển, sản xuất, ứng dụng, giải phóng hoặc xuất, nhập khẩu các sinh vật biến đổi gen, các sản phẩm của chúng hoặc các loài sinh vật ngoại lai; cấp phép trên cơ sở đánh giá rủi ro đối với sức khoẻ con người, môi trường và đa dạng sinh học; giấy chứng nhận mức an toàn sinh học; kế hoạch kiểm soát và loại bỏ các loài sinh vật ngoại lai xâm lấn; lập danh sách các loài ngoại lai xâm hại và cập nhật thông tin; đăng ký, nhập khẩu, nuôi và phân phối các sinh vật ngoại lai; số liệu và báo cáo về các loài ngoại lai xâm hại môi trường.

(7) Hợp tác quốc tế về đa dạng sinh học: quy định về thúc đẩy, lập kế hoạch và định hướng các họat động quốc gia, hợp tác với các nước láng giềng về bảo tồn, sử dụng và trao đổi các thành phần của đa dạng sinh học.

(8) Cơ chế và các nguồn lực bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học: quy định về thành lập Quỹ bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia; xây dựng cơ chế thu và sử dụng Quỹ; phí chi trả cho bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học; bồi thường thiệt hại về đa dạng sinh học; quản lý thông tin, xây dựng hệ thống thông tin quốc gia; báo cáo hiện trạng đa dạng sinh học quốc gia.

(9) Trách nhiệm quản lý nhà nước về đa dạng sinh học: quy định về phân công, phân cấp, thẩm quyền và trách nhiệm của các cấp quản lý nhà nước về đa dạng sinh học; trách nhiệm của bộ chủ quản và các bộ, ngành liên quan; thanh tra và giám sát về đa dạng sinh học; xử lý vi phạm pháp luật, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về đa dạng sinh học và tranh chấp trong bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học./.


-------------------------------


: content -> vankien -> Lists -> DanhSachVanKien -> Attachments
Attachments -> KỲ HỌp thứ TÁm quốc hội khoá XII (20/10/2010 26/11/2010)
Attachments -> PHẦn I các bộ, ngàNH, CƠ quan thuộc chính phủ trả LỜi cáC Ý kiếN, kiến nghị CỦa cử tri
Attachments -> CHÍnh phủ Số: 62/bc-cp cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc Hà Nội, ngày 5 tháng 5 năm 2008 BÁo cáO
Attachments -> BỘ giao thông vận tảI 1/ Cử tri tỉnh Đắk Lắc kiến nghị
Attachments -> QUỐc hội khóa XI uỷ ban về các vấn đề xã hội
Attachments -> QUỐc hội số: CỘng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
Attachments -> 210/bc-btnmt cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
Attachments -> KỲ HỌp thứ TÁm quốc hội khoá XII (20/10/2010 26/11/2010) TẬp hợP Ý kiếN, kiến nghị CỦa cử tri
Attachments -> Ủy ban thưỜng vụ quốc hội số: 365/bc-ubtvqh12
Attachments -> BỘ NÔng nghiệp và phát triển nông thôn số: 1588


1   2   3


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương