8 cách dễ dàng để giải phóng ram giúp máy chạy nhanh hơn



tải về 58.35 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu12.09.2016
Kích58.35 Kb.

8 cách dễ dàng để giải phóng RAM giúp máy chạy nhanh hơn








Máy vi tính thời nay cần nhiều RAM để có thể hoạt động hiệu quả hơn, đặc biệt là nếu nó đang chạy Windows Vista 32-bit.

Một hệ thống với 2GB bộ nhớ RAM vẫn có thể chạy ì ạch nếu nó được cấu hình không tốt và bạn phải nâng cấp lên 4GB RAM để rồi phát hiện ra PC của mình chỉ có thể truy cập khoảng 3GB. Vậy dung lượng RAM đã đi đâu, và có cách nào giúp bạn có thể lấy lại không? Cài đặt Windows Vista 64-bit có thể tạo nên sự khác biệt thực sự nếu như phần cứng của bạn đủ đáp ứng. Nhưng nếu điều đó quá tầm với bạn thì vẫn còn có các cách khác để khắc phục. Sau đây là những điều bạn cần biết.



1. Kiểm soát những chương trình lúc khởi động:

Con đường dẫn tới việc làm chủ bộ nhớ máy tính bắt đầu bằng việc nắm quyền kiểm soát nhiều hơn đối với những chương trình bạn đang chạy.

Vào Start > All Programs và gỡ bỏ bất kỳ phần mềm nào bạn không sử dụng, sau đó khởi chạy MSCONFIG.EXE và nhấp vào thẻ Startup để xem những gì được cấu hình khởi động cùng Windows. Nếu bạn thấy những chương trình không cần thiết, bạn có thể gỡ bỏ hoặc thay đổi các thiết lập của nó để chương trình ấy không tự khởi động khi bạn đăng nhập vào Windows.

Ứng dụng Add-ons cho các trình duyệt, Microsoft Office và những thứ tương tự cũng có thể tiêu thụ lượng RAM lớn đến không ngờ. Kiểm tra các add-ons trên trình duyệt hiện tại của bạn (vào Tools > Manage Add-ons trong IE, Tools > Add-ons trong Firefox) và vô hiệu hóa (hoặc gỡ bỏ cài đặt) bất kỳ cái nào mà bạn không sử dụng đến.



2. Vô hiệu hóa những dịch vụ không mong muốn:

Để tăng tốc cho Windows một số người khuyên bạn nên vô hiệu hoá dịch vụ Windows không cần thiết. Nhưng trong hầu hết các trường hợp thì cách này không hiệu quả lắm, ngoại trừ Windows Defender, nó chiếm khoảng 20MB (hoặc nhiều hơn nếu bạn để nó chạy nền). Nếu bạn đã có một công cụ Antispyware hoặc Antivirus khác thì nên tắt Defender (trong Vista, chạy Windows Defender, nhấp chuột vào Tools > Options, cuộn xuống và bỏ chọn 'Use Windows Defender')

Nếu bạn quyết định thử vô hiệu hoá các dịch vụ khác, bấm vào Start khởi chạy services.msc, di chuyển xuống trong danh sách để xem những gì có sẵn. Trên máy tính thử nghiệm cài đặt Windows Vista Ultimate, chúng tôi có thể vô hiệu hoá một cách an toàn những dịch vụ sau bằng cách click đúp chuột vào và thiết lập Startup type thành Disabled.

Apple Mobile Device: đi kèm iTunes, không cần thiết nếu như bạn không có một thiết bị của Apple để kết nối.

Distributed Link Tracking Client: duy trì các liên kết giữa các tập tin trên một mạng lưới tên miền, không phải là một tính năng mà chúng tôi sử dụng.

Nero BackItUp Scheduler 3: cung cấp với Nero Burning ROM, nhưng không cần thiết nếu bạn không sử dụng các công cụ back-up.

Offline Files: hữu ích nếu bạn đồng bộ hóa các tập tin giữa các máy tính, nhưng chúng tôi không cần.

Tablet PC Input Service: Đây không phải là một Tablet PC (máy tính bảng).

Quá trình này có lẽ giúp phục hồi 10MB bộ nhớ RAM. Bạn có thể đạt được nhiều hơn nếu bạn lược bỏ thêm nhiều dịch vụ, nhưng bạn cũng gặp những sự cố nguy hiểm nếu bạn loại bỏ những thứ gì đó mà bạn thực sự cần.

3. Giảm bớt yêu cầu phần cứng:

Nếu PC của bạn có 4GB bộ nhớ thì rất có thể bạn sẽ thấy rằng chỉ có thể truy cập từ 3 đến 3.5GB RAM, bởi vì BIOS của bạn đã cấp phần địa chỉ trống còn lại cho card màn hình, card mạng, và những phần cứng khác.

Để xem những gì được cấp cho phần cứng trên PC của bạn, khởi chạy Device Manager (bấm vào Start và nhập devmgmt.msc), bấm View > Resources by type và mở rộng bộ nhớ. Phần tài nguyên thực sự bị cắt mất hầu như chắc chắn là do card màn hình của bạn. Nếu bạn có một chiếc card đồ họa 512MB, thì có thể nói rằng nó sẽ chiếm lấy 512MB (và nhiều hơn nữa, trên thực tế) ô nhớ của bạn. Điều này có lẽ sẽ không phải là vấn đề nếu bạn có 2GB RAM mà ở đó không có phần bộ nhớ nào bị khóa, nhưng nếu bạn có 4GB thì nó sẽ ngăn cản bạn sử dụng tối đa bộ nhớ.

Bạn không thể giải quyết vấn đề này một cách hoàn toàn, nhưng cũng có những cách để giảm tác động của nó. Ví dụ, nếu bạn có cài đặt một card mở rộng mà bạn không còn cần nữa, hãy tháo gỡ nó. Nếu bạn không tận dụng hết card màn hình thì hãy xem xét hạ nó xuống với một mức RAM tối thiểu (128MB là đủ để chạy Vista). Kiểm tra BIOS để tắt các tính năng mà bạn không cần. Có một trình đơn thường được gọi là 'Onboard Device Configuration' hoặc ‘Integrated Periphrals', nơi bạn có thể vô hiệu hoá card đồ họa on-board, card âm thanh tích hợp, network adapters hay kênh IDE chưa sử dụng...v.v.. Dùng cách này để tắt các phần cứng dư thừa, BIOS sẽ không phân bổ bộ nhớ cho chúng và phần dung lượng ấy sẽ dành cho bạn.



4. Tắt những tính năng không cần thiết:

Đừng kích hoạt quá nhiều tính năng Windows, trừ khi bạn thực sự cần nó. Ví dụ để tăng tốc cho Windows Vista, tắt các giao diện Aero nếu bạn có thể làm việc mà không có nó (click chuột phải vào màn hình, chọn Personalize > Theme và chọn Windows Classic). Máy tính của bạn sẽ nhìn không đẹp lắm, nhưng bù lại bạn sẽ tiết kiệm gần 40MB bộ nhớ RAM. Nếu việc xem biểu tượng mạng nhấp nháy khi chuyển giao dữ liệu là không cần thiết, click chuột phải vào biểu tượng, chọn Turn Off Activity Animation và bạn sẽ tiết kiệm được 1 đến 5Mb bộ nhớ RAM.



5. Chạy Explorer hiệu quả:

Windows Explorer có thể chạy mỗi cửa sổ Explorer trong một quá trình riêng biệt, vì vậy, nếu một cửa sổ bị treo thì nó sẽ không ảnh hưởng tới cái khác. Nghe thật hợp lý, nhưng trong thử nghiệm của chúng tôi, nó sử dụng ít nhất thêm 10MB bộ nhớ RAM cho mỗi cửa sổ Explorer bạn mở. Nếu Windows vẫn bị treo nên tìm hiểu lý do tại sao, tắt tính năng này đi và đòi lại phần bộ nhớ bị lãng phí. Click vào Tools > Folder Options > View, di chuyển xuống và chắc chắn rằng 'Launch folder windows in a separate process' không được chọn và bấm vào OK.



6. Giảm thiểu các ứng dụng:

Nếu bạn đang chạy một ứng dụng, chắc hẳn nó sẽ tiêu thụ RAM, nhưng có một cách để giảm bớt điều đó: giảm thiểu nó. Nếu ứng dụng không thực hiện bất kỳ việc gì (ví dụ một trình duyệt với một vài tab mở), khi nó được giảm thiểu, Windows sẽ nhận lại phần bộ nhớ dành cho nó để cung cấp cho ứng dụng khác. Vì vậy, tốt nhất là nên giảm thiểu các chương trình không hoạt động hơn là để mặc những cửa sổ của nó trên màn hình desktop của bạn.



7. Tránh các công cụ tối ưu hóa không rõ ràng:

Đừng lãng phí thời gian của bạn với các thủ thuật thiếu hiệu quả liên quan tới việc tối ưu bộ nhớ hoặc với những chương trình vô dụng chỉ làm mọi thứ tồi tệ hơn.

Một số trang web khuyên dùng chương trình tinh chỉnh Registry 'AlwaysUnloadDLL' được giới thiệu rằng giúp Windows giải phóng DLLs ngay sau khi chương trình sử dụng chúng được đóng. Nhưng nó không hoạt động trong XP hay Vista. Những người khác lại quả quyết rằng thiết lập khóa cho Windows XP Registry có thể kích hoạt Superfetch (một tiện ích của Windows Vista) trong Windows XP. Đó thật là chuyện hoang đường. Nhiều trang web còn giới thiệu những chương trình tối ưu RAM với nhiều lời hứa hẹn, nhưng chúng không thể khắc phục được lỗi bộ nhớ và không thể 'giải phóng' RAM (trong thực tế, chúng còn chiếm dụng thêm bộ nhớ).

8. Theo dõi máy tính của bạn:

Một khi bạn đã dọn dẹp máy tính, hãy khởi động lại và nhìn xem những gì đang sử dụng RAM của bạn.

Bấm Ctrl + Shift + Esc để mở Task Manager, chọn thẻ Processes, bấm View > Select Columns và chắc rằng 'Memory (Private Working Set)' được chọn. Bấm OK, chọn nút ‘Show processes from all users', sau đó bấm vào tiêu đề cột 'Memory (Private Working Set)'.
Bây giờ bạn sẽ thấy từng quá trình trên hệ thống, theo thứ tự mà ở đó chúng đang sử dụng bộ nhớ. Duyệt trong danh sách - bạn có đang chạy bất kỳ chương trình nền nào mà bạn thực sự không cần? Nếu có, hãy tắt nó đi. Nếu bạn phát hiện một tiến trình mà bạn không rõ nó là gì, hãy nhập tên của tiến trình đó lên Google để tìm hiểu thêm.

Nếu bạn thực sự muốn đi sâu vào các hoạt động của máy PC, có hai công cụ Sysinternal vô giá dành cho bạn. Autoruns sẽ hiển thị tất cả mọi thứ được tải khi Windows khởi động, trong khi Process Explorer hiển thị các chương trình đang chạy một cách rất chi tiết và cho bạn thấy những nguồn tài nguyên mà chúng đang sử dụng. Đây là những công cụ tối ưu máy tính tốt nhất hiện nay.



Theo Thủ thuật it-vn

Cài đặt lại và khôi phục máy tính chạy Windows


Có thể máy tính của bạn không khởi động, hoặc có thể bị nhiễm vài phần mềm nguy hại nào đó. Cũng có thể Windows xuất hiện lên một màn hình xanh bất động (hay còn gọi là Cái chết màn hình xanh) mỗi khi bạn gõ vào từ "aardvard".

Bất kể máy tính của bạn gặp loại trục trặc nào, vài người sẽ khuyên bạn định dạng (format) lại đĩa cứng, cài đặt lại Windows và các trình ứng dụng, sau đó phục hồi các tài liệu, ảnh, nhạc, phim từ một đĩa sao lưu.

Dù vậy, lời khuyên này không phải lúc nào cũng tốt và những người hỗ trợ kỹ thuật không đủ trình độ thường dùng cách này để thoái thác trả lời khách hàng qua điện thoại. Nhưng nếu không tìm được giải pháp thích hợp nào có thể khắc phục được trục trặc, tốt hơn hết là bạn bắt đầu từ con số 0.




Hình 1: Hầu hết máy tính mới đều đi kèm một đĩa khôi phục hệ thống, giúp người dùng dễ dàng đưa máy tính về lại trạng thái ban đầu.
Tuy nhiên, đừng quá vội vàng làm theo cách này một khi bạn chưa thử hết các giải pháp. Nếu máy tính của mình không khởi động, bạn có thể tham khảo hướng dẫn khắc phục sự cố tại sao một máy tính XP hay Vista không khởi động tại địa chỉ find.pcworld.com/62504 cũng như tìm hiểu thêm về 6 đĩa CD khởi động có thể "cấp cứu" máy tính tại địa chỉ find.pcworld.com/62506.

Nếu Windows khởi động nhưng sau đó lại hành xử một cách kỳ lạ, thậm chí hành xử bậy bạ, bạn hãy tiến hành quét kiểm tra phần mềm nguy hại, gỡ bỏ các tiện ích tự khởi động và nâng cấp các trình điều khiển thiết bị. Ngoài ra, bạn cũng nên tổng vệ sinh Windows Registry, xem thêm hướng dẫn tại find.pcworld.com/62537.

Nếu sau khi đã thực hiện mọi thứ như trên nhưng tình hình vẫn không khả quan hơn, có lẽ bạn sẽ phải cài đặt lại Windows. Hãy làm theo 8 bước được trình bày bên dưới.

Bước 1: Tìm hiểu công cụ khôi phục hệ thống

Trước hết, bạn cần một môi trường có thể khởi động để cài đặt lại hay khôi phục hệ điều hành Windows - dĩ nhiên bạn luôn có sẵn một môi trường như thế. Mọi máy tính bán kèm Windows luôn đi kèm các tùy chọn sau.









Hình 2: DriveImage XML là tiện ích miễn phí và xuất sắc để tạo ảnh đĩa trong Windows (chỉ có phiên bản Vista Business và Vista Ultimate mới được cài sẵn tiện ích này).
Đĩa khôi phục hệ thống (restore disc) là một đĩa CD hoặc DVD khởi động, có khả năng khôi phục đĩa cứng về chính xác tình trạng (nội dung) như khi máy tính rời nhà máy sản xuất. Điều này có nghĩa là, trong hầu hết mọi trường hợp, đĩa khôi phục sẽ phá huỷ mọi dữ liệu của người dùng - tài liệu, ảnh, nhạc... khi "cứu vớt" hệ thống.

Ngoài ra, nhiều hãng sản xuất không cung cấp đĩa khôi phục rời, thay vào đó là cài đặt lên đĩa cứng phần mềm phù hợp để người dùng tự tiến hành tạo ảnh đĩa và đĩa khôi phục hệ thống. Còn nếu máy tính đang sử dụng có đi kèm đĩa khôi phục hệ thống nhưng tiếc là bạn đã làm mất, hãy tham khảo cách thức khắc phục sự cố tại địa chỉ find.pcworld.com/62511.

Một phân vùng đĩa cứng dành cho việc khôi phục hệ thống thường nằm ẩn bên dưới đĩa cứng. Bạn truy xuất nó bằng cách ấn một tổ hợp phím đặc biệt lúc khởi động. Bạn hãy đọc kỹ tài liệu hướng dẫn sử dụng của máy tính để biết có tính năng này hay không, và nếu có thì cách để truy xuất. Phân vùng đĩa cứng này đóng vai trò như một đĩa khôi phục hệ thống.

Dĩ nhiên, một đĩa CD hay DVD Microsoft Windows sẽ là công cụ khôi phục hệ thống tốt nhất, nhưng nếu đã mua bản nâng cấp của phiên bản Windows mới hơn thì bạn sẽ không có công cụ (đĩa) này.



Bước 2: Thu gom mọi thứ cần thiết

Hãy bảo đảm rằng bạn đã có tất cả "đồ chơi" cần thiết trước khi hành động.

* Sao lưu trình điều khiển thiết bị: Xem hướng dẫn chi tiết tại địa chĩ find.pcworld.com/62523.




Hình 3: Norton Ghost cho phép sao lưu toàn bộ đĩa cứng dưới dạng một tập tin ảnh.
* Sao lưu dữ liệu số và phần mềm: Bạn sẽ cần một (hay nhiều) đĩa cứng gắn ngoài, vài dĩa DVD trắng và phần mềm sao lưu.

* Các ứng dụng: Đối với các ứng dụng mà bạn sử dụng nhưng không được cài đặt sẵn trên máy tính, bạn cần đĩa CD/DVD đi kèm, số series, mã số kích hoạt... Nếu bạn tải về một ứng dụng, hãy tạo bản sao cho tập tin tải về hay đảm bảo rằng bạn có thể dễ dàng tải lại sau đó.

* Thời gian: Trên thực tế, công việc này có thể kéo dài trong vài giờ, tuy nhiên bạn hoàn toàn có khả năng phải mất cả ngày trời lục tung căn phòng để tìm một đĩa CD chứa trình điều khiển thiết bị hay phần mềm. Do đó, tốt hơn hết bạn nên làm việc này vào ngày nghỉ cuối tuần hay dịp rảnh rỗi để tránh làm ảnh hưởng đến những công việc khác nhất là khi hỏng hóc, trục trặc chẳng may xảy ra.

Bước 3: Tạo một ảnh sao lưu cho đĩa cứng

Câu hỏi đặt ra là bạn lưu ảnh đĩa ở đâu? Một đĩa cứng gắn ngoài là lựa chọn thích hợp và dễ sử dụng. Để có kết quả tốt nhất, bạn nên chọn đĩa cứng gắn ngoài có dung lượng gấp đôi lượng dữ liệu cần sao lưu. Ví dụ, nếu đĩa cứng 160GB đang sử dụng chứa 90GB dữ liệu thì đĩa cứng gắn ngoài 200GB là lựa chọn phù hợp. Dẫu thế, đĩa cứng 500GB hay 1TB hiện có giá khá hấp dẫn, do đó nếu được thì bạn nên trang bị một đĩa cứng có dung lượng càng lớn càng tốt. Bằng cách này, bạn có thể tiết kiệm được chi phí, đồng thời lưu trữ nhiều dữ liệu hơn và thậm chí là sử dụng chúng để sao lưu cho nhiều máy tính.









Hình 4: Acronis True Image là tùy chọn xuất sắc để sao lưu, phục hồi cũng như vệ sinh đĩa cứng.
Vậy nên sử dụng phần mềm tạo ảnh đĩa và sao lưu nào? Norton Ghost (find.pcworld.com/62353) và Acronis True Image (find.pcworld.com/43138) là hai tiện ích tạo ảnh đĩa nổi tiếng nhất, tuy nhiên chúng không phải là lựa chọn duy nhất. Bạn có thể kiểm tra tiện ích sao lưu mà mình thường dùng để xác xem có tính năng tạo ảnh đĩa không (ví dụ tính năng có tên Disaster Recovery). Phần mềm sao lưu đi kèm đĩa cứng gắn ngoài cũng có thể đi kèm tính năng tương tự.

Cả Vista Business lẫn Vista Ultimate đều có sẵn tính năng sao lưu ảnh đĩa. Để sử dụng tính năng này, bạn nhấn chuột chọn Start, gõ vào lệnh backup, chọn Backup Status and Configuration, rồi ấn . Nhấn chuột chọn Complete PC Backup, rồi chọn Create a backup now.

Ngoài ra, người dùng có thể chọn phần mềm miễn phí như DriveImage XML của Runtime Software (find.pcworld.com/62355).

Tuy nhiên, cần nhớ rằng một sao lưu ảnh đĩa cũng sẽ trở nên vô ích nếu bạn không thể khởi động từ một đĩa CD hoặc DVD để có thể khôi phục nó. Cả Ghost lẫn TrueImage đều đi kèm các công cụ để tạo ra một đĩa như vậy (có khả năng khởi động). Nếu định dùng công cụ sao lưu tích hợp của Vista, bạn phải bảo đảm đã có trong tay một đĩa DVD Windows Vista hay một đĩa Vista Recovery (find.pcworld.com/60793). Ngoài ra, bạn có thể khôi phục một sao lưu DriveImage XML thông qua Ultimate Boot CD for Windows (find.pcworld.com/ 6204).



Bước 4: Tạo một sao lưu dữ liệu

Dẫu thế, hướng dẫn ở bước thứ 3 giúp bạn tạo ra một sao lưu cho toàn bộ đĩa cứng, tất nhiên trong đó có dữ liệu của bạn. Mục đích của bước sao lưu đầu tiên là bổ sung một lớp bảo vệ phụ trợ cho bảo mật. Trong khi đó, bước thứ 2 – chỉ sao lưu dữ liệu – sẽ lưu trữ thêm một lần nữa dữ liệu của bạn, qua đó giúp bạn dễ dàng khôi phục lại chúng dễ dàng hơn khi cài đặt lại Windows. Bạn có thể tham khảo những thư mục cần thiết phải sao lưu trong Windows XP và Vista tại địa chỉ (find.pcworld.com/62521). Hoặc thậm chí đơn giản hơn, bạn chỉ cần kéo thả (sao y) các thư mục này vào một nơi an toàn, như đĩa cứng gắn ngoài hay bút nhớ USB hay ghi lên đĩa CD/DVD.



Bước 5: Khôi phục mọi thứ




Hình 5: Ultimate Boot CD for Windows cung cấp nhiều công cụ sao lưu và hàng loạt tính năng phục hồi hệ thống tiện dụng khác.
Đây là bước quan trọng nhất. Tuy nhiên, tùy vào công cụ khôi phục dữ liệu cụ thể mà bạn đang sử dụng, hãy thực hiện theo hướng dẫn.

Bước 6: Thiết lập Windows theo ý riêng

Sau bước thứ 5, bạn đã có trong tay một phiên bản Windows mới, được cấu hình chính xác theo cách mà Microsoft hay hãng sản xuất máy tính của bạn mong muốn. Đây chỉ là điểm khởi đầu của một phiên bản Windows, do đó bạn hoàn toàn có thể cấu hình lại, gỡ bỏ bất kỳ ứng dụng nào được cài đặt sẵn nào nếu muốn, hay cài đặt phần mềm mới cũng như tuỳ chỉnh Windows theo ý thích. Có thể khẳng định, đây là bước tốn nhiều thời gian nhất, tuy nhiên trước hết bạn hãy thực hiện thêm các thao tác sau:

* Trong mục Users của Control Panel, bạn tạo các tài khoản đăng nhập cho riêng mình cũng như những người dùng khác (cùng sử dụng chung máy tính này). Bạn sẽ phải cần tối thiểu một tài khoản với quyền quản trị.

* Gỡ bỏ mọi chương trình mà bạn không cần sử dụng, đó thường là những tiện ích hệ thống hay ứng dụng miễn phí. Bạn có thể sử dụng công cụ miễn phí Revo Uninstaller (find.pcworld.com/62049) để thực hiện tác vụ này.

* Tiếp đến, bạn tiến hành khôi phục các trình điều khiển thiết bị đã được sao lưu trước đó (xem lại Bước 2). Dĩ nhiên, bạn có thể bỏ qua các trình điều khiển thiết bị đi kèm máy tính, bởi vì công cụ khôi phục hệ thống đi kèm đã thiết lập chúng khi tạo một phiên bản Windows mới.

* Tải về và cài đặt mọi cập nhật mới Windows.

* Bắt đầu với phần mềm bảo mật, cài đặt tất cả phần mềm mà bạn cần sử dụng nhưng không đi kèm theo máy tính. Cập nhật chúng, sau đó cấu hình lại theo ý riêng.

* Sắp xếp lại trình đơn Start đề phù hợp với nhu cầu và thói quen sử dụng của bạn.

* Chọn hình nền, hiệu ứng bảo vệ màn hình cũng như các cài đặt tiết kiệm điện...







Hinh 6: Sử dụng công cụ sao lưu tích hợp của Windows để tạo một ảnh sao lưu mọi thứ vừa được khôi phục trên đĩa cứng.
Bước 7: Tạo một ảnh sao lưu khác

Bước này không phải là một yêu cầu bắt buộc, tuy nhiên điều này sẽ rất hữu ích khi bạn cần khôi phục chính phiên bản Windows này cho những máy tính khác tương tự. Tất cả những gì bạn cần làm là sao lưu dữ liệu cá nhân, khôi phục lại ảnh sao lưu hệ thống này, sau đó chép dữ liệu vừa sao lưu về lại đúng vị trí cũ.

Bạn nên biết rằng, do chưa chép dữ liệu cá nhân lên đĩa cứng nên ảnh sao lưu này sẽ có dung lượng rất ít. Vì thế, tốt hơn hết là bạn nên chép chúng lên đĩa DVD thay vì đĩa cứng gắn ngoài, ghi rõ ngày tháng tạo lập ảnh sao lưu sau đó cất chúng ở chỗ an toàn.

Bước 8: Thao tác cuối cùng

Khi Windows đã sẵn sàng, bạn hãy khôi phục lại dữ liệu của mình từ đĩa sao lưu bằng các thao tác kéo thả hay sử dụng tiện ích chuyên dụng. Bạn nên giữ các bản sao lưu ảnh hệ thống và dữ liệu thêm vài tháng nữa để phòng trường hợp dữ liệu sao lưu gặp trục trặc nào đó.



Bùi Xuân Toại 
PC World Mỹ 5/2009




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương